Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 5: Ảo Ảnh Pareidolia Trong Mưa Phùn

Mưa phùn mùa đông bắt đầu rây hạt từ chập tối, biến lòng đường Hàng Trống thành một dải lụa đen bóng loáng dưới ánh đèn cao áp. Gió từ mặt hồ Hoàn Kiếm…

Nội dung chương

Mưa phùn mùa đông bắt đầu rây hạt từ chập tối, biến lòng đường Hàng Trống thành một dải lụa đen bóng loáng dưới ánh đèn cao áp. Gió từ mặt hồ Hoàn Kiếm thổi tạt qua hàng rào tôn bao quanh công trường số 138, cuốn theo hơi lạnh cắt da cắt thịt và mùi rêu mục ẩm ướt quen thuộc của lòng hồ cuối năm.

Tôi kéo cao cổ chiếc áo khoác bông bộ đội sờn rách, ngón tay tê buốt miết chặt quai chiếc phích Rạng Đông bằng sắt tráng men. Đồng hồ con cóc trên bàn gỗ chỉ mười một giờ mười lăm phút đêm. Ca trực thứ ba bắt đầu trong sự vắng lặng tuyệt đối của một Hà Nội những năm hai nghìn lẻ sáu, thời điểm mà sau mười một giờ, phố xá đã rút hết người vào trong những bức tường gạch dày cộp. Mặt đường chỉ thi thoảng gợn lên tiếng lách cách xích líp của vài người đi xe đạp muộn, rồi trả lại khoảng không gian đặc quánh cho tiếng nước mưa rỉ rả trên mái tôn.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế gấp trong bốt gác tạm bợ dựng sát mép vỉa hè. Qua khung cửa kính mờ hơi nước, khối kiến trúc hoang tàn của căn nhà số 138 sừng sững chiếm trọn tầm mắt. Dưới ánh sáng vàng vọt hắt sang từ dãy đèn đường bên mép hồ Gươm, cây đa cổ thụ trên nóc nhà hiện ra với vẻ ma quái thường thấy. Hàng trăm sợi rễ phụ rủ xuống từ ban công gác hai, đan cài chằng chịt vào những mảng lan can con tiện xi măng đã gãy nát, trông giống hệt một tấm lưới khổng lồ bện bằng tóc mục.

Câu chuyện về người thiếu phụ thắt cổ trên chạc cây đa và lời dặn dò của ông Thụ quán nước ban sáng vẫn bám chặt lấy tôi suốt cả ngày. Để xua đi cảm giác ớn lạnh đang chực chờ bò lên gáy, tôi với lấy cuốn sổ tay ghi nhật ký công trường và chiếc bút bi Thiên Long.

Tôi tự nhủ mình là người có học, từng trải qua nhiều năm tháng đọc sách vở khoa học ở các hiệu sách vỉa hè phố Đinh Lễ trước khi dòng đời xô đẩy phải làm công việc bảo vệ gác đêm này. Bộ não con người rất dễ bị đánh lừa trong bóng tối. Hiện tượng Pareidolia - ảo giác bổ khuyết thị giác, một cơ chế sinh tồn nguyên thủy khiến não bộ tự động chắp vá các đốm sáng vô định, vết nứt tường vôi hay cành cây đu đưa thành gương mặt hoặc hình dáng người để cảnh giác trước hiểm nguy.

Tôi lẩm bẩm giải thích cho chính mình nghe bằng giọng trầm rụt rè. Tiếng nói phát ra từ cổ họng làm tan bớt sự im ắng ghê rợn đang vây bọc quanh bốt gác:

- Chỉ là Pareidolia. Mắt thấy bóng người là do sự sắp xếp ngẫu nhiên của các nhánh rễ đa dưới góc chiếu chếch bốn mươi lăm độ của đèn đường cao áp. Vết nứt tường vôi kết hợp với mảng rêu mốc tạo thành ảo ảnh thị giác. Tiếng khóc nỉ non là tiếng gió mùa đông bắc rít qua khe hở giữa các tấm tôn rào chắn. Cứ dùng con mắt vật lý mà nhìn, chẳng có ma quỷ nào chịu nổi định luật quang học.

Nói đoạn, tôi tháo chốt cửa bốt gác, xách theo chiếc đèn pin sắt ba pin cỡ lớn bước ra ngoài sân gạch. Mưa phùn giăng hạt li ti bám đầy mặt kính đèn pin, tạo thành một lớp sương mờ mờ.

Tôi rọi luồng sáng trắng đục của đèn pin lên mảng tường vôi gác hai của căn nhà số 138. Lớp ve vàng quét từ thời Pháp thuộc đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra những thớ gạch chỉ đỏ sẫm ẩm ướt như những vết thương hở miệng. Ở vị trí chếch về bên trái lan can sổ sắt, ánh đèn cao áp từ phía bờ hồ rọi xuyên qua tán lá rậm rạp, in hằn lên nền tường vôi một mảng bóng đen hình thù kỳ dị.

Tôi dừng bước, hít một hơi thật sâu không khí buốt lạnh để giữ lồng ngực không rung lên.

Cái bóng trên tường mang hình dáng của một người phụ nữ ngồi nghiêng. Phần đỉnh đầu hơi cúi xuống, bờ vai gầy gò sụp xuống theo tư thế tuyệt vọng, và mái tóc dài đen kịt chảy dài xuống tận chân tường, nối liền với một vệt rễ đa bám chặt vào khe nứt.

- Thấy chưa? - Tôi tự nói thành lời, cố ép bản thân phải nhìn thẳng vào cái bóng - Đầu người là do cái u lớn trên thân đa tạo thành. Bờ vai kia là chạc cây nghiêng sáu mươi độ. Còn mái tóc rũ rượi thực chất là ba dải rễ khí sinh buông rủ sát mép tường. Tất cả đều là cành cây và rễ phụ.

Gió hồ bất ngờ giật mạnh một cơn. Những ngọn lá đa trên nóc nhà xào xạc cọ vào nhau. Theo từng nhịp đu đưa của cành cây ngoài đời thực, cái bóng đen in trên mảng vôi nứt nẻ cũng dập dềnh lay động. Đôi bàn tay bóng đổ dập dờn như đang nâng lên rồi hạ xuống quanh phần đầu.

- Khi gió lay cành, bóng ngọn rễ đung đưa cọ vào mảng vôi, tạo cảm giác cử động. Đó hoàn toàn là phản xạ cơ học - Tôi siết chặt thân đèn pin, bước lại gần chân cầu thang rêu phong thêm ba bước.

Tôi muốn dùng lý trí lạnh lùng để bóc trần toàn bộ nỗi sợ hãi đang đè nặng lên tâm trí mình suốt mấy đêm qua. Tôi muốn chứng minh cho bản thân thấy rằng bác xích lô già hay ông Thụ chỉ là những người già phố cổ quen nhìn đời qua lăng kính mê tín dị đoan. Không có người đàn bà nào mặc áo dài xanh xám ngồi vắt vẻo trên cây cả. Chỉ có một cái cây ký sinh đang chết dần chết mòn cùng ngôi nhà cổ nát.

Mưa phùn bắt đầu nặng hạt hơn. Nước mưa luồn qua kẽ cổ áo len, lạnh buốt thấu xương.

Tôi đứng im dưới vòm cổng phụ, tiếp tục ngửa cổ nhìn trừng trừng vào bức tường gác hai. Luồng sáng đèn pin rọi thẳng vào trung tâm của cái bóng đen. Trong quầng sáng nhân tạo ấy, những thớ rễ đa nâu sẫm, ướt sũng nước mưa hiện ra rõ mồn một. Rễ cây quấn lấy nhau như những búi gân, bám chặt vào vữa vôi nát vụn.

Mọi thứ đều đúng theo nguyên lý vật lý. Sự sợ hãi trong lồng ngực tôi bắt đầu chùng xuống đôi chút. Tôi thở phào một hơi dài, luồng khói trắng mỏng manh thoát ra từ miệng tan biến vào màn mưa đêm.

Đúng vào giây phút tôi định quay gót bước trở lại bốt gác để uống một ngụm trà nóng, một sự biến đổi kỳ lạ ập đến.

Cơn gió hồ Hoàn Kiếm bặt thiệp ngừng hẳn.

Mặt đường Hàng Trống phẳng lặng như tờ, không còn một gợn gió nào thổi qua. Hạt mưa phùn rơi thẳng đứng từ bầu trời đêm đen đặc xuống lòng đường, không còn bay xiên xẹo. Tán đa khổng lồ trên nóc căn nhà số 138 hoàn toàn bất động. Những chùm rễ buông dài xuống bao lơn gác hai đứng im phắc, rủ thẳng đuột như những sợi dây thừng chết treo lơ lửng trong không trung ẩm ướt.

Mọi cành cây, ngọn lá đều không hề nhúc nhích.

Thế nhưng, trên mảng tường vôi loang lổ nứt nẻ của gác hai, chiếc bóng đen in hình người phụ nữ vẫn tiếp tục cử động.

Hai mắt tôi trợn trừng, bàn tay cầm đèn pin đông cứng lại tại chỗ.

Chiếc bóng không hề đứng yên theo cành lá thật bên ngoài. Trên nền gạch mục nát, bờ vai đen đúa kia từ từ nhấc lên. Cánh tay gầy guộc khẳng khiu của chiếc bóng tách rời khỏi thân hình, vươn dài ra, trong tay nắm một vật dài cong cong có răng cưa rõ rệt. Cánh tay bóng đen chậm rãi đưa lên đỉnh đầu, rồi cào một đường dài từ trên đỉnh sọ xuống tận đuôi mái tóc dài rũ rượi.

*Sột... soạt...*

Âm thanh khô khốc, rợn người ấy không phát ra từ trí tưởng tượng. Nó vang lên rất khẽ nhưng rõ ràng đến từng nhịp cào, vang vọng từ vòm lá đa rậm rạp phía trên đầu tôi dội thẳng xuống mặt sân.

*Sột... soạt... sột... soạt...*

Tiếng lược gỗ cào vào mớ tóc ướt sũng nước mưa. Từng lọn tóc rít lên dưới chân lược, ma sát vào nhau tạo nên thứ âm thanh làm sống lưng tôi lạnh toát như có tảng băng vừa áp thẳng vào da thịt.

Tôi rọi đèn pin lệch sang chạc ba của cây đa - nơi có vết siết thòng lọng mà ban ngày tôi đã quan sát. Trên cành cây to lớn bằng bắp đùi người lớn ấy, lá cây vẫn đứng im thin thít không một lay động nhỏ nào. Nhưng bóng đen in trên bức tường phía sau chạc cây thì không ngừng chuyển động. Đôi bàn tay vô hình của cái bóng cứ đều đặn chải từng nhịp, từng nhịp một cách kiên nhẫn và ai oán.

Tôi há miệng muốn hét lên một tiếng để phá tan bầu không khí nghẹt thở này, nhưng thanh quản như bị ai đó bóp nghẹt, chỉ phát ra được một tiếng ặc ặc nghẹn ứ nơi cuống họng.

Thuyết Pareidolia mà tôi vừa tự hào viện dẫn sụp đổ tan tành thành từng mảnh vụn. Không có định luật quang học nào giải thích được việc vật tạo bóng đứng im tuyệt đối mà cái bóng của nó lại tự do cử động. Không có cơ chế bổ khuyết thị giác nào có thể tự tạo ra âm thanh cào tóc rợn người văng vẳng giữa không gian nín bặt của một đêm mưa đông.

Rồi âm thanh thứ hai xuất hiện.

Không phải tiếng gió rít qua tôn rào. Đó là một tiếng nấc nghẹn ngào rỉ ra từ kẽ lá trên cao:

- *Hức... hức...*

Tiếng khóc thút thít của một người đàn bà mang thai bị bỏ rơi giữa dòng đời nghiệt ngã. Tiếng khóc nghẹn lại trong cổ họng, như thể người đó vừa khóc vừa phải nuốt ngược máu tươi và nước mắt vào trong lồng ngực. Tiếng nấc mỗi lúc một rõ, trườn dọc theo những sợi rễ đa dài thòng lọng, bò xuống lan can gác hai, rồi dội thẳng xuống đỉnh đầu tôi.

Da đầu tôi tê dại đi như có hàng ngàn mũi kim châm cùng lúc chích vào.

Chiếc bóng trên tường bỗng nhiên dừng động tác chải tóc. Cánh tay cầm lược gỗ buông thõng xuống. Cái đầu đen kịt với mái tóc dài xõa rượi từ từ quay sang hướng khác.

Trên mặt tường vôi nứt nẻ, chiếc bóng ngoẹo đầu một góc chín mươi độ, khuôn mặt không rõ ngũ quan của nó từ từ hướng thẳng xuống vị trí tôi đang đứng chôn chân dưới vòm cổng phụ.

Ánh sáng từ ngọn đèn cao áp bờ hồ bỗng chập chờn nhấp nháy liên hồi. Dòng điện cũ kỹ của phố cổ trong mưa phùn sụt áp, khiến những bóng đèn vàng vọt rung giật từng hồi như ngọn nến sắp tàn trước gió. Mỗi lần ánh sáng nhấp nháy, cái bóng đen trên tường dường như lại trườn xuống thấp hơn một chút, trườn qua những gờ chỉ gạch, tiến lại gần mép sàn gác hai.

Một nỗi kinh hoàng tột độ bùng nổ trong lồng ngực tôi. Bản năng sinh tồn đánh bạt mọi sự tê liệt của cơ bắp.

Tôi lùi mạnh về phía sau một bước, vấp phải một mẩu gạch vỡ lăn lóc dưới đất suýt ngã ngửa. Chiếc đèn pin tuột khỏi tay, rơi cùm cụp xuống nền sân ẩm ướt, luồng sáng trắng xoay tròn quét qua những mảng rêu trơn tuột. Tôi không buồn nhặt đèn, dùng hết bình sinh quay người cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng về phía bốt gác tạm.

Đôi giày bata ướt sũng đạp tung tóe những vũng nước mưa đọng trên vỉa hè. Tôi lao vào trong bốt gác, túm lấy then cửa sắt giật mạnh rồi sập sầm cánh cửa lại. Tôi gài chốt trong, hai tay run rẩy bấu chặt vào mép bàn gỗ để giữ cho đầu gối không khuỵu xuống sàn.

Bên ngoài, tiếng mưa phùn vẫn rả rích gõ đều đều trên mái tôn mỏng.

Tôi thở dốc từng cơn nặng nhọc, tim đập thình thình như muốn xé toạc lồng ngực. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cả lưng áo bông, hòa cùng hơi ẩm buốt giá của căn phòng nhỏ tạo thành một mùi tanh nồng khó chịu.

Tôi run rẩy bước lại gần ô kính cửa sổ bốt gác, dùng tay áo lau đi lớp hơi nước mờ mịt bám trên mặt kính.

Bên ngoài sân, chiếc đèn pin nằm lăn lóc vẫn đang chiếu một vệt sáng hẹp về phía chân tường ngôi nhà cổ. Trên nền tường vôi gác hai, chiếc bóng đen đã biến mất. Cành lá đa vẫn rủ xuống lặng lẽ dưới ánh đèn đường cao áp vàng ệch đã ổn định trở lại.

Không gian tĩnh mịch bao trùm như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Thế nhưng, màng nhĩ tôi vẫn còn ù đi bởi tiếng lược gỗ cào tóc sột soạt và tiếng nấc nghẹn ngào xé ruột xé gan. Tôi biết chắc chắn rằng những gì vừa diễn ra không phải ảo ảnh thị giác, không phải sự nhầm lẫn của một bộ não mệt mỏi. Có một thực thể đang tồn tại trên tán cây ký sinh kia, một linh hồn bị giam cầm trong những nút thắt của quá khứ, chưa từng rời khỏi số nhà 138 Hàng Trống suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Tôi ngồi phịch xuống ghế, hai bàn tay vẫn không ngừng run rẩy. Tôi với lấy bao thuốc lá Thăng Long dẹt trên bàn, bật quẹt ga mấy lần mới châm được một đốm lửa đỏ. Khói thuốc cay xè tràn vào phổi, giúp tôi lấy lại một chút bình tĩnh mong manh giữa đêm đen thăm thẳm.

Nếu bóng ma chải tóc trên cây đa là sự thật, vậy thì tấn thảm kịch của người vợ trẻ bị sát hại vào đêm mưa năm 2000 được ghi chép trong tập hồ sơ lưu trữ kia thì sao?

Một căn nhà không thể vô cớ trở thành nơi hội tụ của quá nhiều cái chết oan khuất như vậy. Thiếu phụ Mai treo cổ năm 1954 tạo nên cái cây quỷ ám, nhưng chính vụ án mạng năm 2000 mới là nhát dao chí mạng biến nơi đây thành vùng đất chết, khiến ba đời chủ nhà liên tiếp đều phải bỏ mạng hoặc phát điên chỉ sau chưa đầy sáu tháng.

Những dòng chữ viết tay vội vã ở góc tờ biên bản lưu trữ lại hiện về rõ mồn một trước mắt tôi: "Nhà có tiếng khóc oán, không ai trụ nổi."

Tôi nhìn chiếc đồng hồ con cóc trên bàn. Kim ngắn đã nhích qua số mười hai, chỉ sang một giờ sáng.

Một quyết định dứt khoát hình thành trong đầu tôi. Tôi không thể tiếp tục đứng gác trong sự mù mờ và sợ hãi thụ động này thêm nữa. Càng cố bám víu vào những kiến thức khoa học nửa vời để chối bỏ sự thật, nỗi kinh hoàng sẽ càng bóp nghẹt tôi trong những đêm trực tiếp theo. Tôi phải biết rõ ngọn ngành những gì đã thực sự xảy ra bên trong căn nhà số 138 vào cái đêm định mệnh năm 2000 ấy.

Sáng mai, ngay khi hết ca trực đêm, tôi sẽ tìm đến nhà anh Tuấn - một người họ hàng xa của tôi từng làm việc ở đội tuần tra hình sự quận Hoàn Kiếm thời kỳ bấy giờ. Anh Tuấn chắc chắn nắm rõ hồ sơ vụ cướp của giết người rúng động năm nào. Chỉ có việc lật lại toàn bộ những biên bản điều tra và chi tiết hiện trường của vụ án mạng lúc 23 giờ năm đó mới có thể cho tôi câu trả lời về tiếng bước chân chạy loạn xạ và những vết cào máu me trên cánh cửa gỗ lim mà tôi vẫn nghe thấy mỗi đêm.

Chương khác

Xem thêm