Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 6: Thảm Kịch Lúc 23 Giờ
Sáu giờ sáng, tiếng còi xe buýt sớm vọng từ phía bến Bờ Hồ đập tan sự ngột ngạt bên trong bốt gác. Tôi đẩy cánh cửa sắt gỉ sét bước ra ngoài. Đêm mưa…
Nội dung chương
Sáu giờ sáng, tiếng còi xe buýt sớm vọng từ phía bến Bờ Hồ đập tan sự ngột ngạt bên trong bốt gác.
Tôi đẩy cánh cửa sắt gỉ sét bước ra ngoài. Đêm mưa phùn đã dứt, để lại một lớp sương mù nhờ nhợ bao phủ khắp mặt đường Hàng Trống. Mặt hồ Hoàn Kiếm phía bên kia đường chìm trong một màu xám đục, vài bóng người cao tuổi mặc áo khoác dày đang lầm lũi đi bộ ven bờ cỏ ướt. Tôi nhặt chiếc đèn pin rơi dưới chân tường vôi, chùi sạch lớp bùn bết dính vào thân đèn rồi nhét vào túi áo khoác. Khớp xương toàn thân tôi ê ẩm, hai thái dương giật từng cơn sau một đêm thức trắng chống chọi với những ảo giác kỳ dị và tiếng khóc rấm rứt trên tán cây đa.
Người thợ phụ trách ca ngày đến muộn mười lăm phút. Anh ta ngáp ngắn ngáp dài, khoác chiếc túi vải dù đựng đồ nghề, lơ đễnh gật đầu chào tôi rồi ngồi phịch xuống bậc thềm trước cổng rào tôn. Tôi không buồn nán lại bàn giao nhiều. Mùi vôi vữa ẩm mốc và không khí tử khí tại căn nhà số 138 lúc này khiến tôi tức ngực, muốn nhanh chóng thoát khỏi nơi này càng sớm càng tốt.
Tôi dắt chiếc xe đạp Phượng Hoàng cũ rời khỏi vỉa hè Hàng Trống, quẹo qua phố Nhà Thờ rồi hướng về phía ngõ Huyện.
Mục tiêu của tôi sáng nay là nhà anh Tuấn, một người họ hàng xa bên ngoại từng có hơn mười năm công tác tại đội cảnh sát hình sự công an quận Hoàn Kiếm. Anh Tuấn lớn hơn tôi mười lăm tuổi, đã chuyển ngành sang làm quản lý trật tự đô thị từ vài năm trước do chấn thương ở chân sau một đợt truy bắt tội phạm vùng ven. Trong những lần giỗ chạp ở quê, anh Tuấn luôn là người nắm rõ từng ngóc ngách, từng căn nhà có "vấn đề" trên địa bàn quận cũ, đặc biệt là những vụ án mạng tồn đọng chưa thể xóa nhòa trong trí nhớ cư dân phố cổ.
Căn nhà tập thể của anh Tuấn nằm sâu trong một con ngõ tối tăm trên phố Hàng Bông, nơi những mảng rêu phong bám chặt lấy chân tường vôi bong tróc. Cầu thang hẹp đến mức hai người đi ngược chiều phải nép sát người vào gờ bao lơn mới lọt.
Tôi gõ cánh cửa gỗ dán đã mủn mép ba nhịp. Tiếng chốt sắt lách cách mở ra, anh Tuấn xuất hiện trong bộ đồ ngủ bằng vải thô sờn vai, mái tóc hoa râm bù xù, tay cầm điếu thuốc lá Du Lịch phả khói mù mịt.
- Chú mày đi đâu mà mặt mũi xám ngoét như người chết trôi thế kia? - Anh Tuấn nhíu mày, lùi lại một bước để tôi bước vào phòng.
Căn phòng tập thể rộng chừng mười sáu mét vuông, nồng nặc mùi thuốc lá, mùi dầu gió và mùi giấy báo cũ mục. Trên chiếc bàn gỗ ép đặt sát cửa sổ, một ấm trà mạn bốc khói nghi ngút bên cạnh chiếc đài radio bán dẫn đang rè rè phát bản tin dự báo thời tiết buổi sáng.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu, hai bàn tay đan chặt vào nhau để kìm cơn run rẩy nơi đầu ngón tay:
- Em vừa nhận ca trực đêm ở công trường phá dỡ số 138 Hàng Trống.
Động tác gạt tàn thuốc của anh Tuấn khựng lại giữa không trung. Đôi mắt sắc lẹm đặc trưng của một cựu lính hình sự nheo lại, dán chặt vào khuôn mặt hốc hác của tôi. Tàn thuốc dài rụng xuống mặt bàn gỗ, nhưng anh không buồn lau đi.
- Mày nhận trông cái mả ấy từ bao giờ? - Giọng anh Tuấn trầm hẳn xuống, mang một sắc thái nghiêm trọng khác thường.
- Mới được ba đêm anh ạ. Người ta thuê em trông máy móc với rào tôn trước khi đưa máy xúc vào hạ cây đa.
Anh Tuấn khẽ lắc đầu, thở dài một hơi sặc mùi khói thuốc:
- Thằng ngu. Đất Hà Nội này thiếu gì chỗ làm bảo vệ mà mày chui đầu vào cái huyệt ấy? Chỗ đấy giải tỏa là đúng, để lại chỉ tổ rước họa. Người ngoài chỉ biết chuyện con ma áo dài trên cây đa thời năm năm tư, nhưng những thằng từng làm ở quận như tao thì sợ cái thứ nằm dưới nền đất tầng một hơn.
Tim tôi đập thình thịch. Tôi nhổm người tới mép bàn, hạ giọng:
- Vụ cướp cuối năm 1999 phải không anh? Đêm qua em nghe thấy... có tiếng người chạy và cào móng tay vào chân cánh cửa sắt.
Anh Tuấn im lặng hồi lâu. Anh đứng dậy, bước lại chiếc tủ gỗ lim bốn cánh kê sát góc tường. Chiếc tủ kêu cọt kẹt khi anh mở khóa tầng ngăn kéo dưới cùng. Đó là nơi anh cất giữ những tập hồ sơ lưu niệm, những cuốn sổ tay ghi chép nghiệp vụ từ những năm tháng còn lăn lộn trên các tuyến phố đêm của quận Hoàn Kiếm.
Sau vài phút lục tìm, anh Tuấn quay lại bàn với một tập bìa xi măng ố vàng, mép giấy quăn queo vì ẩm. Trên mặt bìa có dòng chữ viết bằng mực Cửu Long đã phai màu: "Hồ sơ vụ án 138 HT - Tháng 12/1999".
Anh Tuấn rút ra một xấp bài báo cắt dán từ các trang tin an ninh thủ đô thời bấy giờ, cùng vài tờ biên bản khám nghiệm hiện trường đánh máy bằng máy chữ cơ học trên giấy than mỏng dính. Anh đẩy tập tài liệu về phía tôi.
- Đọc đi. Để biết cái thứ mày đang đối diện mỗi đêm nó oan khuất đến mức nào.
Tôi run rẩy lật từng trang giấy. Mùi giấy ẩm và mực in cũ xộc thẳng vào mũi tôi một cảm giác lạnh lẽo.
Thảm kịch xảy ra vào một đêm áp Tết năm 1999, chính xác là ngày hai mươi ba tháng Chạp, đêm ông Công ông Táo. Căn nhà số 138 lúc bấy giờ thuộc quyền sở hữu của một cặp vợ chồng trẻ từ Hải Phòng lên Hà Nội thuê mặt bằng làm ăn. Người chồng tên Thiện, hai mươi bảy tuổi, phụ trách việc lái xe tải chở vải vóc và đồ gỗ mỹ nghệ tuyến biên giới Lạng Sơn về tập kết ở chợ Đồng Xuân. Người vợ tên Loan, vừa tròn hai mươi ba tuổi, đang mang thai đứa con đầu lòng được năm tháng, ở nhà trông coi cửa hàng tầng một và cơm nước đợi chồng.
Thời điểm đó, phố Hàng Trống về đêm chưa có hàng quán sáng rực như bây giờ. Cứ sau mười giờ tối, cả đoạn phố đối diện hồ chỉ còn ánh đèn cao áp vàng vọt hắt qua rèm sương.
Tối hôm đó, mưa phùn gió bấc thổi buốt thấu xương. Thiện gọi điện về từ một bốt điện thoại công cộng ở Bắc Giang, báo cho vợ biết xe bị gãy trục các-đăng ở khu vực Dốc Lã - Yên Viên, phải chờ thợ sửa, dặn vợ cứ khóa cửa ăn cơm trước rồi đi ngủ, muộn mấy anh cũng sẽ cố về trong đêm.
Loan không ngủ. Cô bật một ngọn đèn quả ớt màu đỏ ở góc ban thờ thần tài, nấu sẵn một nồi cháo gà đặt trên bếp dầu hỏa ở chân cầu thang để đợi chồng. Cánh cửa gỗ lim bên trong khép hờ, chỉ cài then sắt lỏng lẻo bên ngoài để chồng về đẩy cửa vào cho tiện.
Gần hai mươi ba giờ đêm, một toán cướp gồm ba tên lưu manh nghiện ma túy dạt từ khu vực ga Hàng Cỏ mò sang các tuyến phố cổ tìm mồi. Nhìn thấy khe cửa số 138 le lói ánh đèn đỏ và then cài sơ sài, chúng đã dùng một thanh xà beng ngắn luồn qua khe sắt bẩy bật chốt khóa.
- Lúc bọn nó lọt vào, con bé Loan đang ngồi đan áo len cho con ở chân cầu thang - Giọng anh Tuấn đều đều, khô khốc như tiếng kim loại cọ vào đá - Nó không kịp kêu một tiếng nào. Ba thằng xông vào bịt miệng, kéo ngược nó vào góc tường. Bọn nó đòi tiền vàng, nhưng hàng chuyến đó thằng Thiện chưa thanh toán, trong nhà chỉ có vài trăm nghìn tiền lẻ bán hàng ban ngày.
Tôi nuốt nước bọt nghẹn ứ nơi cổ họng. Những dòng chữ đánh máy trên tờ biên bản pháp y hiện ra rành rọt trước mắt tôi từng chi tiết ghê rợn.
Khi nhận ra trong nhà không có tài sản giá trị, toán cướp nổi cơn điên loạn vì lên cơn thèm thuốc. Bọn chúng trói nghiến Loan vào chân cầu thang bằng dây phơi, dùng giẻ lau nhét chặt vào miệng cô. Một tên trong số đó đã dùng con dao gọt hoa quả đâm liên tiếp bốn nhát vào bụng và ngực nạn nhân khi cô cố gắng giãy giụa cắn vào tay hắn để bảo vệ đứa con trong bụng.
Máu phun ướt đẫm nền gạch hoa văn cổ kính. Nhưng điều khủng khiếp nhất chưa dừng lại ở đó.
Biên bản lời khai của các đối tượng sau khi bị bắt thực nghiệm hiện trường ghi rõ: Sau khi toán cướp lục lọi khắp căn nhà rồi tẩu thoát bằng cửa sau thông ra ngõ nhỏ, Loan vẫn chưa chết ngay. Sự khao khát sống và linh cảm người mẹ đã khiến cô gái hai mươi ba tuổi vùng vẫy trong vũng máu, dùng hết chút tàn lực cuối cùng để lết từng phân một về phía cửa chính.
Cô muốn ra mở then cửa cho chồng. Cô sợ chồng về muộn trời mưa rét không vào được nhà.
Những ngón tay dính đầy máu của Loan bấu chặt vào từng khe gạch, kéo lê một vệt dài từ chân cầu thang ra tận bậc thềm cửa sắt. Đoạn đường chỉ dài chưa đầy bảy mét nhưng đối với một người đang hấp hối, đó là một hành trình dài vô tận. Khi lết đến sát bậc cửa sắt, hai bàn tay cô cào cấu điên cuồng vào mặt trong của tấm tôn chắn gió, để lại những vết móng tay rách toạc cùng những vệt máu loang lổ.
Đúng hai mươi ba giờ ba mươi phút, Thiện đẩy chiếc xe máy Simson hỏng bu-gi trong mưa rét về đến cửa nhà.
Anh nhìn thấy cánh cửa sắt khép hờ, bên dưới khe cửa có một dòng nước màu đỏ thẫm rỉ ra vỉa hè, hòa vào dòng nước mưa phùn chảy xuống cống. Khi Thiện giật tung cánh cửa, vợ anh đã nằm bất động ngay dưới chân anh. Bàn tay phải của Loan vẫn vươn qua khe hở, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào mắt cá chân của chồng. Đôi mắt cô mở trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định, cơ thể đã lạnh ngắt từ bao giờ.
Tôi buông tờ giấy biên bản xuống mặt bàn. Cả người tôi lạnh toát, một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng lên tận chân tóc. Hình ảnh người phụ nữ mang thai nằm cào cửa trong đêm mưa phùn hiện lên sắc nét đến mức tôi cảm thấy lồng ngực mình đau nhói.
- Thằng Thiện phát điên ngay tại chỗ - Anh Tuấn châm tiếp một điếu thuốc khác, ngón tay khẽ run - Đêm đó tao là một trong những người đầu tiên có mặt bảo vệ hiện trường. Thằng Thiện ngồi bệt dưới vỉa hè, ôm cái xác vợ bê bết máu gào khóc thảm thiết, tiếng thét của nó xé toạc cả màn đêm quanh hồ Gươm. Nó cứ đập đầu vào bậc thềm đá, hỏi tại sao xe lại hỏng, tại sao không về sớm hơn mười lăm phút. Đúng hai mươi ba giờ đêm, cái mốc giờ oan nghiệt ấy đã cướp mất cả vợ lẫn con nó.
Anh Tuấn với tay lật trang cuối cùng của tập hồ sơ. Đó là một phong bì nhỏ đựng các tấm ảnh đen trắng chụp hiện trường năm xưa bằng máy cơ của đội kỹ thuật hình sự.
Anh rút ra một tấm ảnh cỡ mười nhân mười lăm cen-ti-mét, đặt ngay ngắn trước mặt tôi.
- Mày nhìn kỹ cái này đi.
Ánh mắt tôi rơi xuống bức ảnh chụp toàn cảnh sàn nhà tầng một số 138 Hàng Trống dưới ánh đèn flash chát chúa.
Bức ảnh chụp góc nhìn từ cửa chính hướng vào chân cầu thang gỗ dẫn lên gác hai. Trên nền gạch hoa văn kiểu Pháp đã nứt vỡ, một vệt đen sẫm, đặc quánh kéo dài ngoằn ngoèo từ góc gầm cầu thang, lết qua giữa gian phòng, rồi dừng lại ngay sát chân cánh cửa sắt. Vệt kéo lê ấy có bề rộng chừng bốn mươi phân, hai bên mép vệt đen in hằn những vết cào cấu của mười đầu ngón tay tuyệt vọng.
Đầu óc tôi bỗng nổ tung một tiếng "ong" chói tai.
Hình ảnh vệt đen trong bức ảnh chụp năm 1999 hoàn toàn trùng khớp với vệt ố mốc sẫm màu mà tôi vẫn bước qua mỗi tối!
Mỗi lần nhận ca trực, khi mở chốt xích sắt để bước vào bốt gác tạm, tôi đều phải bước qua một dải sàn nhà màu đen sì xỉn màu. Tôi từng nghĩ đó là nước mưa từ mái ngói dột xuống, hoặc rễ của cây đa ký sinh tiết ra chất nhựa làm biến màu lớp vôi vữa trên nền gạch. Tôi đã dẫm chân lên nó suốt ba đêm qua mà không hề hay biết rằng mình đang dẫm lên vệt máu khô của một người đàn bà bị sát hại dã man bảy năm về trước.
Máu của người chết oan đã ngấm sâu vào từng thớ cát, từng kẽ xi măng của nền nhà cổ. Lớp vôi vữa và gạch hoa ấy đã uống trọn những giọt máu uất nghẹn cuối cùng, để rồi biến thành một vết sẹo đen ngòm không bao giờ tẩy xóa được.
- Sau vụ đó, thằng Thiện bán tháo căn nhà rồi bỏ đi biệt xứ - Anh Tuấn thở dài, giọng chùng xuống - Căn nhà qua tay ba đời chủ khác nhau. Người thì mua mở tiệm áo cưới, người thì định làm quán cà phê giải khát, nhưng không một ai trụ nổi quá sáu tháng. Người ta đồn rằng cứ đúng hai mươi ba giờ đêm, bất kể ngày nắng hay ngày mưa, bên trong tầng một lại phát ra tiếng bước chân chạy loạn xạ của nhiều người, kèm theo tiếng thở dốc nghẹn ngào và tiếng móng tay cào sột soạt vào mặt sau cánh cửa sắt. Chủ nhà nào ngủ lại đó qua đêm đều bị bóng đè đến hộc máu mồm, sáng ra thấy mình nằm trần truồng ở bậc thềm ngoài vỉa hè.
Tôi ngồi chết lặng trên ghế, chiếc radio bên cạnh vẫn đều đều thông báo một đợt không khí lạnh tăng cường sắp tràn về miền Bắc vào chiều tối nay.
Tiếng cào cửa mà tôi nghe thấy đêm qua không phải ảo giác pareidolia của một tâm trí mệt mỏi. Đó là sự tái hiện của tấn thảm kịch năm 1999. Vong linh của người vợ trẻ tên Loan vẫn mắc kẹt tại ngưỡng cửa ấy, bị giam cầm giữa hai thế giới bởi sự oán hận và nỗi khắc khoải đợi chồng chưa bao giờ nguôi ngoai.
- Cây đa trên nóc nhà hút rễ xuống tầng hai, còn máu của con bé Loan ngấm dưới tầng một - Anh Tuấn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng đầy vẻ cảnh báo - Căn nhà ấy là một cái bẫy âm khí hai đầu. Trên thì có ma treo cổ năm năm tư, dưới thì có oan hồn chết thảm năm chín chín. Mày chỉ là một thằng bảo vệ quèn kiếm cơm qua ngày, đừng có dại dột mà tò mò quá mức. Tối nay đến ca trực, nếu nghe thấy tiếng động gì lúc hai mươi ba giờ thì bịt tai lại, cấm tuyệt đối không được mở cửa sắt ra nhìn. Nghe rõ chưa?
Tôi gật đầu một cách máy móc, nhưng tâm trí đã hoàn toàn rối loạn. Những mảnh ghép rời rạc về căn nhà số 138 Hàng Trống bắt đầu ráp lại thành một bức tranh rùng rợn.
Cây đa cổ thụ ký sinh trên mái ngói không đơn thuần mọc lên do ngẫu nhiên. Nó cắm rễ vào một mảnh đất đã tích tụ quá nhiều oán khí qua từng thời kỳ lịch sử. Rễ của nó buông xuống hiên gác hai như một tấm lưới giam giữ linh hồn thiếu phụ Mai, trong khi nền đất tầng một lại bị phong ấn bởi vệt máu không bao giờ phai của Loan.
Tôi chào anh Tuấn rồi rời khỏi con ngõ tối tăm trên phố Hàng Bông.
Bầu trời Hà Nội buổi trưa xám xịt và trĩu nặng. Gió mùa đông bắc bắt đầu thổi từng cơn rít qua các khe nhà cao tầng, mang theo hơi lạnh buốt giá đặc trưng của những ngày cuối năm. Tôi trở về căn phòng trọ chật chội ở khu Phúc Xá, nằm vật ra giường nhưng không tài nào chợp mắt nổi. Mỗi lần nhắm mắt lại, hình ảnh người phụ nữ mang thai lết đi trên nền gạch hoa văn rướm máu và đôi mắt trừng trừng nhìn ra khe cửa lại hiện lên rõ mồn một.
Mười tám giờ ba mươi phút chiều, tôi khoác chiếc áo bông dày, mang theo đèn pin và dùi cui bảo vệ, lầm lũi quay trở lại số nhà 138 Hàng Trống để bắt đầu ca trực thứ tư.
Khu vực công trường lúc này đã vắng bóng công nhân. Hàng rào tôn xanh bao quanh ngôi nhà cổ rung lên bần bật theo từng cơn gió lạnh từ hồ Hoàn Kiếm thốc sang. Ánh đèn cao áp màu vàng vọt bên bờ hồ rọi qua những cành đa xơ xác, hắt lên bức tường vôi nứt nẻ những chiếc bóng đen ngoằn ngoèo như những cánh tay quỷ đang co giật.
Tôi mở khóa cổng sắt, bước chân qua ngưỡng cửa. Dưới ánh sáng nhờ nhợ của ngọn đèn bảo vệ ngoài hiên, vệt ố mốc màu đen kéo dài từ gầm cầu thang ra đến mép giày tôi trông như vừa mới đậm màu hơn một chút, ẩm ướt và bóng nhẫy như một vệt máu tươi vừa mới khô miệng.
Tôi bước nhanh vào bốt gác tạm, đóng chặt then cài cửa gỗ. Chiếc đồng hồ con cóc trên mặt bàn con lắc lư từng nhịp tích tắc đều đặn, kim ngắn đang từ từ nhích về phía con số mười một.
Còn chưa đầy bốn tiếng nữa là đến hai mươi ba giờ đêm.
Gió ngoài trời bắt đầu gầm rít dữ dội hơn qua các khe hở của tấm tôn rào. Một mùi tanh nồng của máu tươi hòa lẫn mùi rêu mốc ẩm ướt từ nền đất tầng một bốc lên, luồn qua khe cửa bốt gác, xộc thẳng vào mũi tôi buốt nhói.