Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 9: Những Đêm Không Ngủ Bên Hồ Gươm
Đêm rằm tháng Chạp, trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng ngay trên ngọn tháp Rùa. Mặt nước hồ Hoàn Kiếm phẳng lặng như một tấm gương đồng khổng lồ, phản…
Nội dung chương
Đêm rằm tháng Chạp, trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng ngay trên ngọn tháp Rùa. Mặt nước hồ Hoàn Kiếm phẳng lặng như một tấm gương đồng khổng lồ, phản chiếu thứ ánh sáng lạnh ngắt và bàng bạc bao trùm khắp mặt đường Hàng Trống. Gió bấc từ bờ hồ thổi thốc qua những tán lộc vừng trơ trụi lá, va đập liên hồi vào dãy rào tôn xanh vừa mới được dựng kín quanh công trường số 138. Tiếng kim loại mỏng rung bần bật, kêu rền rĩ từng đợt suốt từ lúc sập tối.
Tôi ngồi trong góc lán bảo vệ tạm bợ, kê sát mí cổng sắt cũ. Chiếc bàn gỗ cập kê kê trên mấy viên gạch vỉa hè nứt nẻ chỉ đủ đặt cuốn sổ trực ca bìa cứng, chiếc đèn bàn bóng sợi đốt tỏa ánh sáng vàng đục và một bao thuốc lá Thăng Long hút dở. Gió luồn qua các khe ghép tôn rỉ sét mang theo hơi lạnh buốt thấu xương thịt. Mỗi lần có chiếc xe máy chạy muộn vút qua ngoài đường cái, ánh đèn pha lại quét một vệt dài qua khe hở của tấm tôn, cắt ngang mặt tôi rồi biến mất trong bóng tối dày đặc của ngôi nhà hoang phía sau lưng.
Căn nhà ba tầng hoang phế nằm im lìm trong ranh giới rào chắn. Toàn bộ mặt tiền đã bị bọc kín, biến nơi đây thành một ốc đảo biệt lập giữa khu phố cổ sầm uất. Sau buổi chiều toán thợ trèo lên gác lửng phát hiện chiếc bát hương sành cùng mảnh lược bí bằng sừng nằm ẩn dưới chạc rễ cây, không khí trong công trường chùng hẳn xuống. Những người thợ hồ từ vùng quê Nam Định lên làm thuê không còn nói cười rôm rả như mấy ngày đầu chôn cọc dựng tôn. Họ dựng một căn lán dã chiến bằng bạt dứa xanh đỏ ở khoảng sân trong, sát chân cầu thang gỗ mục, rồi chui cả vào đó nằm túm tụm từ chập tối.
Tôi mở cuốn sổ trực ca, ngòi bút bi gai góc cào rách mép giấy mỏng:
*Ngày 15 tháng Chạp âm lịch. Ca trực từ mười chín giờ đến bảy giờ sáng hôm sau. Hiện trường đóng kín rào tôn, bên ngoài vỉa hè an toàn. Toán thợ gồm năm người nghỉ lại trong lán bạt sân sau.*
Viết xong dòng đó, tôi buông bút, nhìn đồng hồ đeo tay. Kim ngắn đã chỉ sang số mười hai. Đêm đã chuyển sang canh ba.
Không gian xung quanh lặng ngắt. Mặt phố Hàng Trống thưa vắng hẳn tiếng còi xe, thỉnh thoảng mới có tiếng bánh xe xích lô sắt nghiến sột soạt trên mặt đường nhựa nguội lạnh ngoài xa. Giữa sự tĩnh mịch ấy, ngọn đa cổ thụ mọc trùm trên mái ngói tầng ba cựa mình xào xạc. Từng chùm rễ phụ đen sì rủ xuống ban công gác hai đung đưa theo từng cơn gió lộng, cọ xát vào những bức tường vôi lở loét phát ra âm thanh sột soạt rợn người.
Tôi với tay lấy bao thuốc, châm một điếu rồi rít sâu vào phổi để tìm kiếm chút hơi ấm. Đúng lúc đốm lửa đỏ bừng lên, một luồng âm thanh lạ lùng luồn qua khe ngói xô lệch trên nóc nhà, rót thẳng xuống màng nhĩ tôi.
Âm thanh ban đầu rất nhỏ, đứt quãng và nghẹn ngào, lẫn vào tiếng gió rít qua khe rào tôn rỉ sét. Tôi dừng tay, điếu thuốc vừa châm kẹp cứng giữa hai ngón tay đang run rẩy. Tôi dỏng tai lắng nghe.
Đó là tiếng nỉ non thê thiết của một phụ nữ. Tiếng khóc không vang dội ầm ĩ mà âm ỉ, rấm rứt như bị nén chặt trong lồng ngực, kéo dài từng vệt thê lương trong sương đêm. Từng tiếng nấc nghẹn ngào vọng từ trên cao xuống, len lỏi qua từng kẽ lá đa rậm rạp rồi tỏa lan khắp khoảng không gian chật hẹp bên trong rào chắn.
Tôi cố tự trấn an bản thân. Chắc chắn chỉ là tiếng mèo hoang động đực rình mồi trên mái ngói, hoặc gió bấc thổi xoáy vào cái hốc tường vôi bị nứt toác ở gác ba nơi toán thợ vừa gõ búa chiều nay. Những công trình bỏ hoang lâu năm ở khu phố cổ này luôn đầy ắp những tiếng rít gió quái đản do kết cấu mái ngói âm dương bị xô lệch tạo thành các hộp cộng hưởng tự nhiên.
Tôi lẩm bẩm trong miệng:
- Gió rít thôi. Chẳng có cái gì hết.
Nhưng tiếng khóc kia không chịu dừng lại theo lời tự nhủ của tôi. Nó càng lúc càng rõ ràng hơn, mang theo âm sắc rền rĩ, ai oán của một người đang chịu đựng nỗi uất ức cùng cực. Tiếng khóc ấy dường như không phát ra từ một điểm cố định mà váng vất, trôi dạt khắp tán cây đa khổng lồ đang trùm kín mái nhà.
Trách nhiệm bảo vệ công trường và sự tò mò thúc bách tôi phải xác minh rõ ràng để ghi chép vào sổ trực. Tôi không thể ngồi yên trong góc lán để mặc cho thứ âm thanh ma quái đó tra tấn thần kinh suốt đêm rằm.
Tôi đội chiếc mũ bảo hộ bằng nhựa cứng màu vàng lên đầu, cài chặt quai nón dưới cằm. Một tay cầm chiếc đèn pin năm pin cỡ lớn, tay kia thủ sẵn thanh gậy cao su đặc, tôi gạt then cài cửa lán bảo vệ bước ra ngoài.
Sân trước của số nhà 138 ngập tràn vôi vữa vụn nát và những mảnh ngói vỡ sắc nhọn. Tôi bước đi thật khẽ, cố tránh dẫm phải những mẩu đinh gỉ vương vãi trên nền đất ẩm. Ánh trăng rằm tháng Chạp chiếu thẳng từ đỉnh đầu xuống, biến những đống phế liệu thành những hình thù dị hợm, đen đúa nhô lên giữa lớp sương mờ. Hơi lạnh từ mặt đất bốc lên mang theo mùi ẩm mốc của tường vôi trăm năm và mùi tanh nồng ngai ngái của nhựa cây đa tươi bị bẻ cành hồi chiều.
Tôi tiến lại gần vách tôn rỉ sét ngăn cách với lòng đường, nép người vào bóng tối của một cây cột sắt rồi ngửa cổ nhìn thẳng lên ngọn đa.
Ánh trăng vằng vặc rọi sáng rực rỡ một nửa tán cây khổng lồ. Cây đa cổ thụ này không biết đã bám rễ ở đây tự bao giờ, thân chính của nó to bằng hai vòng tay người ôm, mọc xuyên thủng cả góc mái ngói gác hai để vươn thẳng lên trời xanh. Hàng trăm chùm rễ phụ to nhỏ lòng thòng buông xuống như những chiếc thòng lọng đen kịt treo lơ lửng giữa lưng chừng trời.
Gió bấc thổi qua làm tán lá rậm rạp đung đưa nhịp nhàng. Ánh đèn cao áp màu vàng vọt từ phía bờ hồ Hoàn Kiếm hắt ngược lên, xuyên qua những kẽ lá đa dày đặc, in lên bức tường vôi tróc lở của tầng ba những mảng bóng đen loang lổ, chập chờn.
Hai mắt tôi dại đi khi nhìn chăm chú vào chạc ba lớn nhất của thân đa, nơi cành cây chọc thủng sàn gác thượng.
Dưới sự kết hợp quái gở giữa ánh trăng trắng bệch và ánh đèn vàng từ bờ hồ, những mảng bóng đen đan cài vào nhau tạo thành một hình hài kỳ dị. Một bóng người phụ nữ mảnh khảnh ngồi vắt vẻo trên cành đa cao vút. Hai chân buông thõng xuống khoảng không giữa hai tầng ngói mục, đung đưa nhịp nhàng theo từng đợt gió rít. Mái tóc người đó dài chấm gót, rủ lòa xòa qua chạc cây, hòa lẫn vào những chùm rễ phụ đen đúa đang lay động.
Cổ họng tôi khô khốc, tim đập thình thịch từng nhịp dồn dập vào lồng ngực. Tôi chớp mắt liên tục, cố dùng lý trí của một người từng trải để xua tan ảo ảnh thị giác. Đó chỉ là hiệu ứng thị giác thông thường, là sự nhầm lẫn của não bộ khi nhìn vào những hình khối hỗn độn của cành cây và bóng đổ trong đêm tối. Người ta gọi đó là hiện tượng Pareidolia, mắt nhìn thấy những khuôn mặt và hình người từ những vết nứt hay chùm lá vô tri. Tôi đã đọc về điều này trên mấy tờ báo khoa học cũ.
Nhưng khi tôi vừa hạ tầm mắt xuống để trấn tĩnh, tiếng khóc trên ngọn cây bỗng nhiên thay đổi tiết tấu.
Tiếng nỉ non ai oán tắt lịm đi trong một nhịp thở. Giữa không gian tĩnh lặng đến ngột ngạt của đêm đông, từ chạc cây đa cao vút kia cất lên một giọng hát.
Đó là một câu hát ru cổ của đất Hà thành, cất lên bằng chất giọng nữ the thé, lạnh ngắt và đứt quãng:
- À ơi... Em tôi khát sữa bú tay... Ai làm nên nỗi... cho cay đắng lòng...
Giọng hát mỏng như một sợi chỉ luồn qua màn sương, vang vọng giữa bốn bức tường vôi đổ nát. Từng từ, từng chữ nhả ra chậm rãi, run rẩy và mang theo một nỗi hận thù tích tụ qua hàng chục năm ròng rã. Âm thanh không giống như phát ra từ thanh quản của người sống, nó lạo xạo như tiếng gió cọ qua những chiếc răng sứt, rớt xuống từng giọt buốt lạnh vào đỉnh đầu tôi.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, toàn thân cứng đờ như một khúc gỗ mục. Lớp lông tơ sau gáy tôi dựng đứng lên, một luồng khí lạnh chạy dọc từ sống lưng lan tỏa khắp các đầu ngón tay.
Không một ai có thể trèo lên chạc cây đa đó vào giờ này. Căn nhà đã bị niêm phong, cầu thang gỗ lên gác hai đã gãy sập phân nửa, các dầm nhà mục nát không thể chịu nổi trọng lượng của một đứa trẻ con chứ đừng nói đến một người lớn ngồi vắt vẻo trên đó hát ru giữa trời đêm gió rét.
Tôi run rẩy đưa bàn tay đang cầm đèn pin lên, hướng luồng sáng cực mạnh về phía chạc ba cành đa. Ngón tay tôi bấm mạnh vào công tắc.
Tách!
Luồng ánh sáng trắng rọi thẳng vào trung tâm của tán lá rậm rạp.
Không có người đàn bà nào bằng xương bằng thịt ở đó. Dưới luồng sáng chói lòa của đèn pin, chạc ba cành đa trơ trọi những đoạn vỏ cây sần sùi bám đầy rêu xanh mốc meo. Những dải rễ phụ rủ xuống đung đưa qua lại trong gió bấc.
Nhưng câu hát ru vẫn không hề ngừng lại. Nó vang lên ngay tại vị trí luồng sáng đèn pin đang chiếu vào, âm thanh vặn vẹo như đang chế giễu sự can đảm mù quáng của tôi:
- À ơi... Cây đa bến cũ... con đò... Người đi biền biệt... ai chờ đợi ai...
Cộp!
Một vật thể cứng và tròn từ trên ngọn đa rơi thẳng xuống, giáng mạnh vào chỏm chiếc mũ bảo hộ bằng nhựa trên đầu tôi. Tiếng va chạm khô khốc vang lên giữa đêm khuya khiến tôi giật bắn mình, thụt lùi lại ba bước, suýt nữa ngã ngửa ra đống gạch vỡ phía sau.
Vật thể đó lăn từ vành mũ bảo hộ xuống bả vai tôi rồi rơi đánh "bộp" xuống lớp cát ẩm dưới chân.
Tôi lia vội luồng sáng đèn pin xuống mặt đất.
Nằm ngay cạnh mũi giày bảo hộ của tôi là một chùm quả đa non gồm ba quả dính liền nhau. Những quả đa tròn xoe, màu xanh thẫm, cuống bị bẻ đứt ngang một cách bất thường. Nơi vết đứt ở cuống, dòng nhựa trắng đục như mủ vẫn đang ứa ra sủi bọt, nhỏ từng giọt đặc quánh xuống lớp bụi vôi trắng xóa.
Nhựa cây tươi rói. Cây đa cổ thụ này vốn đã già cỗi, mùa này quả non rất hiếm khi tự rụng hàng chùm nếu không có bàn tay bẻ gãy từ trên cành cao.
Một mùi ngai ngái, nồng nặc bốc lên từ chùm quả đa non vừa rơi xuống, át đi cả mùi vôi vữa ẩm mốc xung quanh.
Ngay sau cú va chạm của chùm quả non, câu hát ru trên cành đa đột ngột im bặt. Cả công trường lại chìm vào một sự im lặng rợn người, chỉ còn tiếng gió rít u u qua những tấm rào tôn xanh mỏng manh.
Từ phía góc sân sau, nơi dựng chiếc lán dã chiến của toán thợ hồ, bỗng phát ra những tiếng động lục đục.
Tiếng ván gỗ va đập vào nhau chan chát. Tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng cùng những tiếng ú ớ như của người đang bị bóp nghẹt cổ họng vang lên từ bên trong lớp bạt dứa.
- Cứu... buông ra... nặng quá... - Giọng ai đó rên rỉ nghẹn ngào, lẫn trong tiếng cào cấu tuyệt vọng vào tấm bạt ni lông.
Tiếng trở mình đạp chân huỳnh huỵch xuống nền gạch vỡ làm rung chuyển cả góc sân. Mấy người thợ hồ đang ngủ say sưa bỗng chốc bị cuốn vào một cơn mộng mị kinh hoàng tập thể. Thứ âm khí buốt lạnh và tiếng nỉ non trên ngọn đa dường như đã tràn vào tận trong lán bạt, đè nặng lên lồng ngực những người đàn ông vạm vỡ đang nằm co quắp bên trong.
Tôi không dám đứng lại dưới bóng cây đa thêm một giây phút nào nữa. Giữ chặt chiếc mũ bảo hộ trên đầu, tôi quay ngoắt người, sải những bước chân vội vã chạy thấu về phía góc lán bảo vệ của mình. Tiếng xích sắt trên cánh cổng cũ va vào nhau lách cách sau mỗi bước chạy dồn dập của tôi.
Bước vào bên trong lán, tôi lập tức sập then cài cửa gỗ, tựa lưng vào vách ván ép thở dốc. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cả vạt áo trong, dù gió bấc ngoài trời vẫn đang thổi từng cơn thấu xương buốt thịt.
Bóng đèn sợi đốt trên bàn trực vẫn tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt ảm đạm. Cuốn sổ trực ca vẫn mở toang ở trang ghi chép ngày rằm tháng Chạp.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu cập kê, đôi bàn tay vẫn còn run rẩy không kiểm soát nổi. Cầm lấy chiếc bút bi, tôi nén một tiếng thở dài, nhìn chằm chằm vào những dòng chữ vừa viết lúc nửa đêm. Tôi không thể ghi vào sổ những từ ngữ ma quái về tiếng khóc hay câu hát ru trên cành đa, cấp trên ở công ty xây dựng sẽ coi đó là sự mê tín dị đoan hoặc dấu hiệu của sự hoảng loạn tinh thần.
Nhưng tôi phải ghi chép lại sự thật về những gì vừa diễn ra để lưu lại dấu vết cho những đêm trực tiếp theo.
Bàn tay tôi miết mạnh ngòi bút lên mặt giấy, viết thêm từng dòng dứt khoát:
*Hồi không giờ bốn mươi lăm phút. Gió bấc lớn giật mạnh qua tán đa gây ra tiếng rít kim loại và tiếng nứt ngói cục bộ trên mái gác hai. Có hiện tượng cành quả non rơi từ ngọn cây xuống khu vực sân trước. Bên trong lán thợ xuất hiện tiếng động bất thường do công nhân gặp ác mộng trong giấc ngủ. Đã kiểm tra hiện trường, các chốt rào tôn xung quanh vẫn nguyên vẹn.*
Tôi ký tên mình vào góc dưới trang sổ, nét mực Cửu Long màu xanh thẫm hằn sâu qua ba lớp giấy mỏng.
Bên ngoài rào tôn, gió đêm vẫn thổi ào ạt qua mặt hồ Hoàn Kiếm. Tiếng tôn mỏng đập vào khung sắt kêu chan chát từng hồi, hòa cùng tiếng thở dốc nghẹn ngào vẫn váng vất vọng lại từ lán bạt của đám thợ hồ ở sân sau.
Tôi ngước nhìn qua khe thông gió nhỏ trên vách lán, hướng mắt về phía tán đa sừng sững giữa trời đêm. Dưới ánh trăng rằm tháng Chạp lạnh buốt, những chùm rễ phụ đen kịt vẫn đung đưa qua lại như những sợi dây thừng vắt vẻo giữa lưng chừng trời, kiên nhẫn chờ đợi những kẻ xâm phạm tiếp theo bước vào vòng oán hận của căn nhà cổ.