Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 8: Vòng Rào Tôn Và Bát Hương Hoang
Bảy giờ sáng, sương mù trên mặt hồ Hoàn Kiếm còn chưa kịp tan hết thì một chiếc xe tải chở đầy tôn hoa sen màu xanh thẫm cùng hàng chục thanh sắt hộp đã…
Nội dung chương
Bảy giờ sáng, sương mù trên mặt hồ Hoàn Kiếm còn chưa kịp tan hết thì một chiếc xe tải chở đầy tôn hoa sen màu xanh thẫm cùng hàng chục thanh sắt hộp đã đỗ xịch trước cửa số nhà 138 Hàng Trống.
Tiếng động cơ gầm gừ nhả khói đen kịt phả thẳng vào bậc thềm đá xanh. Bốn người thợ cơ giới nhảy xuống xe, tay cầm máy hàn, búa tạ và máy cắt sắt. Họ bắt đầu dỡ từng bó cọc thép thả uỳnh uỳnh xuống mặt vỉa hè, đánh thức cả góc phố cổ vốn dĩ tĩnh mịch sau một đêm gió bấc. Tiếng kim loại va đập vào đá hoa cương vang lên chói gắt, xua tan không khí u uất của buổi sớm mai.
Người chỉ huy đội thợ tên Thắng, một gã đàn ông trạc năm mươi tuổi, nước da ngăm đen vì dãi dầu sương gió công trường, miệng ngậm điếu thuốc lào cháy đỏ rực. Thắng chìa ra trước mặt tôi tờ giấy quyết định thi công có dấu đỏ của ủy ban quận và ban quản lý dự án, giọng ồm ồm:
- Cậu là người trực ca đêm qua phải không? Bên công ty phát triển đô thị thuê bọn tôi quây kín toàn bộ mặt tiền trong ngày hôm nay. Hàng rào phải cao ba mét hai, chôn chân sắt cố định xuống mép vỉa hè để cách ly hoàn toàn khu nhà với lòng đường. Cậu cầm chìa khóa cổng sắt thì ra mở cửa, dọn bớt mấy thứ linh tinh ở hiên cho anh em lấy chỗ đặt máy hàn.
Tôi nhìn xấp giấy tờ trên tay Thắng, rồi nhìn sang bậc thềm đá xanh nơi đêm qua vừa xuất hiện ba tiếng gõ cửa rung chuyển khung sắt. Dấu vết ba chiếc lá đa tươi ứa nhựa trắng rải trước ngưỡng cửa đã bị bàn chân của đám thợ dẫm nát từ lúc nào, chỉ còn lại những vệt nước xanh xám dập nát bết chặt vào mặt đá lạnh ngắt.
Tôi tra chìa khóa vào ổ, mở hai vòng xích sắt quấn quanh cánh cổng xếp. Tiếng xích cọ xát loảng xoảng nghe rợn gai ốc. Khung sắt hoen gỉ rít lên một chuỗi âm thanh ken két chói tai khi bị đẩy dạt sang hai bên tường vôi. Một luồng khí lạnh ngắt từ trong lòng tầng một lập tức tràn ra ngoài, mang theo mùi ẩm mốc của tường vôi rữa nát và vị tanh nồng quen thuộc khiến hai người thợ đang vác cọc sắt phải khựng bước, đưa tay lên bịt mũi càu nhàu:
- Mẹ kiếp, nhà bỏ hoang có khác, mùi hôi thối như xác chuột chết lâu ngày.
- Cứ tập trung làm cho xong đi, lải nhải cái gì - Thắng quát lớn, nhả một bãi nước bọt xuống vỉa hè rồi giục - Bật máy cắt lên, dựng khung trước cửa chính rồi quây tôn giáp ranh hai bên nhà số 136 và 140. Tối nay phải xong toàn bộ mặt tiền, không để người đi đường ngó nghiêng vào trong.
Đám thợ bắt đầu công việc một cách hối hả. Tiếng máy cắt sắt rú lên từng hồi đinh tai nhức óc, làm bắn ra những chùm tia lửa vàng rực trong màn sương mù xám đục. Mùi khét lẹt của sắt thép bị nung chảy hòa lẫn với khói thuốc lào của Thắng đặc quánh cả một góc đường. Những mũi khoan bê tông gầm rú, đục thủng từng lỗ sâu hoắm trên vỉa hè để cắm bu-lông giữ chân cọc thép.
Từng tấm tôn màu xanh thẫm cao quá đầu người lần lượt được dựng lên, bắt vít chặt vào khung sắt hộp. Tấm tôn này gối lên tấm tôn kia, ken dày thành một bức tường kim loại kín mít.
Tôi đứng bên trong khoảng sân nhỏ nhìn ra ngoài. Tầm nhìn ra làn nước xanh ngắt của hồ Hoàn Kiếm và ngọn Tháp Rùa cổ kính mờ ảo trong sương sớm dần dần bị thu hẹp lại theo từng nhịp búa gõ. Một tấm tôn, rồi hai tấm tôn áp vào khung sắt. Cảnh sắc sinh hoạt đời thường của người dân phố cổ, những gánh hàng rong, bóng người đi bộ tập thể dục buổi sáng cứ thế biến mất sau bức bình phong kim loại.
Đến mười một giờ trưa, tấm tôn cuối cùng được siết chặt ốc vít, chỉ để lại một ô cửa nách nhỏ rộng chừng tám mươi phân có then cài bằng xích sắt để người trực ra vào.
Toàn bộ căn nhà số 138 Hàng Trống chính thức bị cắt đứt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Cảm giác ngột ngạt và tù túng lập tức ập xuống bao trùm lấy không gian. Không còn ánh sáng tự nhiên hắt vào từ lòng đường. Căn nhà cổ tối sầm lại giữa ban ngày, biến thành một nấm mồ khổng lồ bằng tôn kín mít, ẩm thấp và đặc quánh mùi vôi chết. Tiếng còi xe và âm thanh nhộn nhịp ngoài bờ hồ vọng vào bên trong chỉ còn là những tiếng ầm ì nghẹt thở, giống như âm thanh truyền qua một lớp nước sâu hoắm. Trên trần cao, những nhánh rễ đa buông thõng xuống hiên tầng hai đen sẫm lại, bất động giữa bầu không khí thiếu dưỡng khí.
Thắng cầm chai nước khoáng tu một hơi dài, quệt mồ hôi trán rồi quay sang bảo tôi:
- Rào tôn xong rồi. Bây giờ tao với hai đứa thợ phải trèo lên gác lửng và mái nhà để rà soát kết cấu. Cây đa trên nóc to quá, rễ nó ăn thủng cả trần vôi. Tuần sau đội cưa cây mới vào, nhưng hôm nay phải khảo sát xem dầm xà gồ lim còn chịu lực được không, chứ lúc trèo lên cưa mà sập mái thì chết cả nút. Cậu đi cùng bọn tôi lên đó, chỉ chỗ cầu thang xem có mục mọt gì không.
Tôi nhìn lên gác lửng tối om phía trên đầu, cổ họng khô khốc. Từ ngày nhận ca trực ở đây, tôi chưa bao giờ bước chân lên tầng hai vào ban ngày lẫn ban đêm. Lời cảnh báo của anh Tuấn thợ sửa khóa về bóng ma thiếu phụ Mai treo cổ năm 1954 và vệt máu của cô Loan dưới tầng một năm 1999 vẫn còn in đậm trong đầu tôi. Tuy nhiên, nhìn thấy bốn người đàn ông lực lưỡng mang theo đèn pin công suất lớn, tôi cảm thấy có thêm chút can đảm.
- Cầu thang gỗ ở góc sau gầm nhà - Tôi nói, với tay lấy chiếc đèn pin cầm tay - Bậc thang mục nát nhiều lắm, các anh đi sát vào mép tường, giẫm trúng giữa bậc là gãy đôi đấy.
Thắng gật đầu, vẫy hai người thợ trẻ tên Toàn và Văn cầm theo thước dây, búa đinh cùng leo lên.
Tôi đi đầu, luồng sáng đèn pin quét lên những bậc thang gỗ màu nâu đen phủ đầy bụi bặm và phân chuột. Mỗi bước chân giẫm xuống, mặt gỗ lại oằn mình phát ra tiếng cọt kẹt rợn người, rải xuống sàn gạch bên dưới những mẩu vụn gỗ mủn như cám.
Càng lên cao, không khí càng trở nên lạnh lẽo một cách kỳ lạ, đối lập hoàn toàn với sự oi bức ngột ngạt của buổi trưa ngoài hàng rào tôn. Một mùi ẩm ướt nồng nặc bốc ra từ những bức tường gạch vồ nứt toác.
Khi bước chân chạm vào sàn gác lửng, luồng sáng đèn pin quét một vòng quanh không gian rộng chừng bốn mươi mét vuông.
Cảnh tượng trước mắt khiến cả ba người thợ đều phải nheo mắt kinh ngạc.
Căn gác lửng hoàn toàn trống rỗng, không có bàn ghế hay đồ đạc nào sót lại, chỉ có hàng chục chiếc rễ đa lớn bằng bắp chân người đâm xuyên qua mái ngói thủng, bò ngoằn ngoèo trên sàn nhà như những con trăn khổng lồ. Rễ cây chọc thủng lớp vữa trần, bám chặt vào các dầm xà gồ lim, siết chặt lấy các thanh xà ngang đến mức gỗ lim bị nứt toác từng mảng lớn. Những chùm rễ phụ nhỏ hơn rủ từ trên nóc nhà xuống, đung đưa giữa khoảng không như những sợi dây thòng lọng vô hình.
Toàn cầm búa đinh gõ cộc cộc vào một thanh xà gồ lim sát ban công. Tiếng gỗ vang lên trầm đục, bụi mọt rơi lả tả xuống mặt sàn:
- Anh Thắng ơi, dầm gãy mất hai phần ba rồi. Toàn bộ trọng lượng của tán cây phía trước đang đè thẳng lên bức tường vôi nứt này. Nếu dùng cưa máy đốn hạ không khéo, cả mảng tường tầng hai sẽ đổ sập xuống kéo theo toàn bộ hàng rào tôn phía dưới.
Thắng tiến lại gần, dùng thước dây đo đạc các điểm nứt dọc theo chân tường ban công, miệng làu bàu tính toán phương án giằng chống bằng cột thép chữ I.
Trong khi ba người thợ tập trung bàn bạc ở khoảng sàn phía trước đối diện mặt đường, tôi cầm đèn pin bước sâu vào góc trong cùng của căn gác.
Nơi này vốn là buồng ngủ phía sau của ngôi nhà cổ, nằm ngay dưới chạc ba chính của cây đa cổ thụ mọc trên nóc ngói. Bức tường gạch ở góc này đã bị gốc đa xé toạc thành một khe nứt lớn kéo dài từ sàn lên tận trần nhà, tạo thành một hốc sâu tăm tối.
Hàng trăm sợi rễ cây bện chặt vào nhau như một tấm lưới dày đặc bao phủ toàn bộ góc tường. Không khí ở đây có mùi tanh lạnh ngắt, tựa như mùi rêu xanh ngâm nước lâu ngày trong giếng cổ.
Tôi rọi đèn pin qua khe hở của mạng lưới rễ cây. Ánh sáng vàng quét qua những mảng vôi tróc lở, làm lộ ra một khoảng trống nhân tạo nằm sâu bên trong hốc tường nứt, hoàn toàn bị che khuất sau những lớp mạng nhện xám xịt đóng tầng tầng lớp lớp.
Có một vật gì đó hình tròn, nhô lên giữa hai nhánh rễ đa to lớn đang ôm chặt lấy chân tường.
Tôi bước lại gần hơn, đưa tay gạt bớt những dải mạng nhện dính nhớp nháp trên mặt rễ cây. Lớp bụi vôi trắng xóa bám trên bề mặt vật thể rơi xuống, để lộ ra chất men gốm màu da lươn sần sùi.
Đó là một chiếc bát hương bằng sành cổ, miệng bát đã bị sứt một mảng lớn.
Bát hương không phải do ai đó vô tình vứt bỏ lại trong đống rác rưởi. Nó được đặt ngay ngắn trên một viên gạch vồ kê phẳng phiu bên trong hốc tường, được hai nhánh rễ đa ôm trọn lấy thân bát như một bàn tay gỗ đang cố định nó qua hàng chục năm trời.
Lòng bàn tay tôi run lên bần bật khi luồng sáng đèn pin rọi thẳng vào miệng bát hương.
Bên trong lòng bát chứa đầy tro trấu màu xám tro lạnh ngắt, bị nén chặt lại bởi thời gian và độ ẩm. Cắm sâu chính giữa lớp tro là ba chân nhang đã cháy dở từ rất lâu. Phần chân hương bằng cật tre bị nhuộm một màu đen xỉn, đầu que hương phủ một lớp mốc trắng xóa như mạng nhện.
Nhưng điều khiến tim tôi thắt lại là vật nằm chìm nghỉm bên dưới lớp tro nguội ấy.
Một góc của vật thể nhô lên khỏi bề mặt tro trấu xám xịt. Đó là chất liệu sừng trâu màu đen bóng, bóng nhẫy một cách kỳ lạ dù đã nằm sâu trong hốc tối suốt bao năm tháng.
Tôi dùng đầu chiếc dùi cui cao su khẽ gạt lớp tro lạnh sang một bên.
Một nửa chiếc lược bí bằng sừng hiện ra rõ mồn một. Chiếc lược đã bị bẻ gãy đôi theo chiều dọc, những chiếc răng lược dày đặc, thon nhỏ như sợi cước vẫn còn nguyên vẹn. Giữa các khe răng lược bằng sừng đen bóng ấy, có vài sợi tóc dài màu đen quăn queo quấn chặt lấy nhau, bết dính vào những hạt tro trấu nguội ngắt.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, toàn thân lạnh toát từ đỉnh đầu xuống tận gót chân.
Chiếc lược bí gãy đôi. Ba chân nhang cháy dở. Bát hương sành giấu kín trong hốc rễ đa.
Mảnh ghép về truyền thuyết đô thị rùng rợn bấy lâu nay bỗng chốc hiện hình trần trụi ngay trước mắt tôi. Chiếc lược bí bằng sừng với những sợi tóc dài này chỉ có thể thuộc về thiếu phụ Mai, người đàn bà đã mang theo đứa con trong bụng leo lên chạc cây đa này để kết liễu cuộc đời vào năm 1954. Chiếc lược gãy đôi là minh chứng cho sự chia lìa, phụ bạc tột cùng của mối tình oan trái thời chiến tranh.
Ai đó đã lập ra bát hương này trong góc tối gác lửng, ngay dưới chạc cây thắt cổ để cúng bái hoặc cố tình phong ấn vong linh của người đàn bà ấy lại trong căn nhà. Và rồi tro lạnh của chiếc bát hương này cùng với máu của cô gái trẻ tên Loan chết thảm dưới tầng một năm 1999 đã biến nơi đây thành một ngục tù giam giữ hai mối oán hận không thể siêu thoát.
Một cơn gió lạnh buốt bất thình lình từ mái ngói thủng thốc thẳng xuống góc tường.
Gió cuốn lấy lớp tro nguội trong chiếc bát sành, làm tro trấu bay mù mịt lên không trung, rải những hạt bụi xám lạnh ngắt vào mặt tôi.
Rắc!
Một tiếng nứt gãy khô khốc vang lên ngay trên dầm gỗ lim phía trên đầu tôi. Âm thanh đanh gọn như tiếng một cành cây bị bẻ gãy, dội thẳng vào màng nhĩ giữa không gian u tối của căn gác hoang tàn.
- Cậu bảo vệ ơi! Ra ngoài nhanh lên! - Tiếng Thắng gào lớn từ phía ban công, cắt đứt sự chết lặng của tôi - Dầm chính đang cựa mình đấy! Tán cây trên nóc nặng quá, bức tường nứt sắp bung ra rồi! Rút xuống tầng một mau!
Tiếng chân của ba người thợ chạy thình thịch về phía cầu thang gỗ, kéo theo tiếng ván sàn rung lên bần bật.
Tôi run rẩy lùi lại một bước, mắt vẫn không rời chiếc lược bí bằng sừng đang nằm trơ trọi giữa lớp tro tàn bay lả tả. Dưới ánh sáng đèn pin đang chập chờn, những sợi tóc đen quấn quanh răng lược dường như vừa khẽ cựa quậy theo luồng gió lạnh thốc từ chạc cây đa xuống.
Vòng rào tôn màu xanh thẫm ngoài mặt tiền đã khép kín toàn bộ ngôi nhà, nhưng thứ bị nhốt lại bên trong không đơn thuần là đống gạch ngói mục nát sắp bị máy xúc ủi bằng. Những uất hận bị chôn vùi suốt nửa thế kỷ trong hốc rễ cây đã bắt đầu cựa mình thức giấc, sẵn sàng giáng những tai ương tàn khốc nhất xuống bất cứ ai dám động đến rễ cành của mảnh đất oan nghiệt này.