Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 10: Bóng Phụ Nữ Tóc Dài Trên Cành Đa

Đồng hồ trên bàn trực điểm đúng ba giờ sáng. Tiếng gió bấc rít qua khe cửa gỗ vừa tạm ngưng thì một tiếng thét xé rách màn sương buốt giá từ phía sân sau…

Nội dung chương

Đồng hồ trên bàn trực điểm đúng ba giờ sáng. Tiếng gió bấc rít qua khe cửa gỗ vừa tạm ngưng thì một tiếng thét xé rách màn sương buốt giá từ phía sân sau dội tới. Đó là tiếng gào của một người đàn ông trưởng thành, âm thanh bị bóp nghẹt ở cuống họng, vỡ vụn thành chuỗi rên rỉ rợn người rồi bùng lên thành tiếng tru trét kinh hoàng.

Tôi chộp ngay cây đèn pin ba quả pin sắt cùng chiếc dùi cui cao su, bật then cửa lách vội ra ngoài.

Gió bờ hồ thốc vào mặt buốt rát như châm kim. Mặt đất ngổn ngang gạch vỡ dính đầy vôi vữa nhão nhoét sau đợt sương muối tháng Chạp. Từ dãy lán dã chiến quây bằng bạt dứa xanh đỏ dựng sát chân tường hoa đổ nát, tiếng chân đạp huỳnh huỵch vào khung sắt vang lên dồn dập, kéo theo tiếng bát đĩa sắt tây rơi loảng xoảng.

- Cứu... Thắng ơi, kéo nó ra! Kéo nó ra khỏi người tao!

Tiếng van lơn thất thanh của Bình, tay thợ hồ trẻ nhất toán, vọng qua lớp bạt nhựa dày. Tôi sải bước dài qua đống xà bần, giật tung mép bạt cửa lán bước xộc vào trong.

Mùi mồ hôi chua nồng trộn lẫn với mùi vôi ẩm và hơi đất lạnh bốc lên nồng nặc. Dưới bóng đèn tròn hai mươi lăm oát mờ đục treo lủng lẳng bằng sợi dây điện trần, ba người thợ hồ vạm vỡ đang co rúm lại nơi góc sạp gỗ. Bình nằm ngửa, hai tay cào cấu điên cuồng vào ngực áo may ô rách bươm, mắt trợn trừng nhìn lên nóc bạt dứa dán đầy mạng nhện, miệng sùi bọt mép trắng xóa. Hai gót chân anh ta gõ liên hồi xuống ván dát giường, các ngón chân co quắp cứng đờ như người trúng phong.

Cạnh đó, Thắng - người thợ cả dày dạn kinh nghiệm từng lăn lộn khắp các công trình phố cổ - cũng đang ngồi bệt dưới đất, lưng tựa chặt vào cọc sắt giàn giáo, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng hồi cắc cắc. Dũng, người thợ còn lại, hai tay ôm ghì lấy đầu gối, mặt cắt không còn hạt máu, chiếc chăn chiên rách kéo trùm kín nửa khuôn mặt xám ngoét.

- Bình! Tỉnh lại! Mày mở mắt ra xem nào!

Tôi lao tới, ấn mạnh ngón tay cái vào huyệt nhân trung của Bình. Da thịt anh ta lạnh ngắt hệt như một khối thịt đông để qua đêm ngoài trời. Cơ thể người thanh niên giật nảy lên một cái, lồng ngực ưỡn cong rồi hắt ra một luồng khí lạnh tanh hôi hám. Bình thở hắt ra một tiếng dài, hai mắt đờ đẫn từ từ khép bớt lại, nhưng cả thân hình vẫn run rẩy theo từng nhịp co giật của bắp thịt.

Tôi đỡ Bình ngồi tựa vào vách gỗ, quay sang Thắng và Dũng.

- Có chuyện gì thế này? Đứa nào vào đây phá à?

Thắng không trả lời ngay. Bàn tay thô ráp, chai sạn vì xúc vữa của anh ta run bắn lên khi cố với lấy chiếc điếu cày bằng nứa đặt ở chân cột. Đôi môi thâm sì mím chặt lại, mồ hôi trán túa ra nhễ nhại dù nhiệt độ ngoài trời lúc này chỉ tầm chín độ. Thắng quẹt diêm ba lần liên tiếp nhưng que diêm nào cũng gãy đôi hoặc vụt tắt vì gió lùa qua kẽ bạt.

Tôi đỡ lấy bao diêm Thống Nhất từ tay Thắng, rút một que, dùng lòng bàn tay che gió rồi châm vào nõ điếu đã nhồi sẵn một bi thuốc lào Tiên Lãng.

- Hút một hơi cho ấm lại đi, Thắng. Bình tĩnh nói xem nào.

Thắng ghé miệng vào đầu điếu nứa, rít một hơi dài. Tiếng nước trong ống điếu kêu sòng sọc ròn rã, tàn thuốc đỏ rực soi rõ khuôn mặt hốc hác, hai bọng mắt thâm quầng vì mất ngủ nhiều đêm liền của anh thợ cả. Làn khói thuốc lào đặc quánh phả ra cuồn cuộn, xua bớt phần nào cái lạnh buốt xương đang bám riết lấy căn lán.

Thắng thở dốc ra một hơi khói dài, giọng khàn đặc, ngắt quãng:

- Không thể ở nổi nữa đâu, chú em ơi. Đất này... đất này có dớp nặng quá rồi. Bọn anh không dám làm tiếp đâu.

Dũng ngồi cạnh bên kéo tấm chăn chiên chùi mạnh lên mặt, tiếng nói the thé nghẹn ứ nơi cổ họng:

- Nó ngồi trên ngực thằng Bình đấy. Tôi thề có bóng đèn này soi sáng, tôi nhìn thấy tận mắt! Lúc ba giờ kém, tôi buồn tiểu tỉnh dậy, vừa quay sang thì thấy một đống đen sì trùm kín từ ngực lên đến mặt thằng Bình. Tóc... tóc nó xõa dài quét cả xuống dát giường của tôi. Tôi tưởng thằng Bình bị mê sảng, thò tay định lay nó dậy thì cái đống tóc ấy lạnh toát như rêu ngâm nước đá, quấn lấy cổ tay tôi giật ngược lại!

- Mày hoa mắt vì thiếu ngủ thôi, - Tôi cố giữ giọng thật bình thản để trấn áp bầu không khí hoảng loạn đang bóp nghẹt căn lán - Mấy hôm nay các anh phá dỡ tầng hai mệt quá, dầm gỗ lại nặng, thần kinh căng thẳng nên sinh ra mộng mị, bị bóng đè tập thể thôi mà.

- Không phải mộng mị! - Thắng bỗng giật giọng, bàn tay đập mạnh xuống giát giường - Chú mày bảo mộng mị thế đống đồ sắt ngoài kia đứa nào ném?

Ánh mắt Thắng trừng trừng hướng ra khoảng đất trống trước cửa lán. Tôi xoay người, quét luồng sáng đèn pin qua mép bạt vừa bị gió thổi hất tung.

Bên ngoài khoảng sân sau, nền gạch vỡ ngổn ngang những dụng cụ lao động của toán thợ. Bốn chiếc xẻng sắt lưỡi vuông, ba chiếc bay xây cán gỗ và hai thanh xà beng sáu cạnh dùng để cạy dầm nằm văng tứ tung khắp nơi. Có chiếc xẻng bị cắm ngập nửa cán vào đống cát vàng, có chiếc bay thợ hồ lại nằm chỏng chơ trên gờ tường hoa vỡ nát, cách vị trí để đồ thường ngày hơn chục mét.

Tối qua, chính mắt tôi thấy Thắng đã gom toàn bộ đồ nghề, xếp gọn gàng vào chiếc thùng tôn lớn đặt ngay dưới mái hiên tôn của lán bạt, cẩn thận đè hai viên gạch xỉ lên trên nắp để phòng gió bấc giật. Thế nhưng bây giờ, chiếc thùng tôn rỗng không nằm lật úp giữa vũng nước mưa tù đọng, nắp thùng văng tít tận gốc cây dại cạnh hàng rào.

Tôi đứng dậy, bước ra ngoài sân nhặt đồ. Gió đêm vẫn rít lên từng hồi qua những cành đa khẳng khiu trên nóc gác hai. Căn nhà số 138 chìm trong bóng tối dày đặc, rễ đa rủ xuống như những dải màn đen đung đưa qua lại theo luồng gió hồ rọi vào.

- Để tôi thu dọn vào cho. Mai trời sáng rồi tính tiếp.

Tôi cúi người, nhặt chiếc xẻng sắt cán gỗ đầu tiên nằm sát vách bạt. Tay vừa chạm vào cán xẻng, một cảm giác nhờn nhợt, dính dính truyền thẳng qua da khiến tôi rụt vội lại.

Tôi bật đèn pin soi sát vào thân xẻng.

Cán gỗ thông vốn nhẵn thín nay bị bao phủ bởi một lớp bùn đất đen ngòm, ướt sũng và bốc ra mùi tanh nồng của bùn đáy cống rãnh lâu năm. Nhưng điều kỳ lạ nằm ở phần lưỡi thép. Chiếc lưỡi xẻng xúc cát vốn được mài sáng loáng sau cả ngày xúc vữa, nay bị quấn chặt bởi hàng chục sợi rễ con mảnh li ti.

Những sợi rễ nhỏ như sợi cước câu cá, màu nâu sẫm pha đen, quấn chằng chịt từ cổ xẻng kéo dài xuống tận mép lưỡi kim loại. Chúng bện vào nhau thành từng búi dày đặc, bết dính với lớp bùn ướt.

Tôi bước lại gần chiếc xẻng thứ hai nằm cắm nghiêng trên đống xà bần, rồi đến chiếc xẻng thứ ba nằm cạnh gốc tường. Cả ba chiếc lưỡi xẻng đều chịu chung một tình trạng kỳ dị đó: lớp thép lạnh ngắt bị trói chặt bởi những dải rễ mảnh, dài lượt thượt, uốn lượn mềm oặt.

Tôi ngồi thụp xuống nền gạch, đưa hai ngón tay nắm lấy một sợi rễ quấn quanh sống xẻng kéo thử.

Sợi rễ không giòn và dai như rễ cây thông thường. Nó mềm rũ, trơn tuột và đàn hồi một cách kỳ quặc. Khi tôi kéo căng ra dưới ánh đèn pin, sợi rễ dài ngoằng ấy rủ xuống như một lọn tóc dài của phụ nữ bị ngâm nước lâu ngày, những nhánh rễ li ti tẽ ra hai bên trông hệt như những sợi tóc chẻ ngọn.

Từ trong kẽ hở giữa lớp bùn và lưỡi xẻng, một mùi hương trầm thoang thoảng trộn lẫn với mùi lá mục ẩm ướt xộc thẳng vào mũi tôi. Đó chính là mùi rễ cây đa bám trên nóc gác hai, cái thứ mùi ngai ngái nồng nặc từng khiến tôi buồn nôn trong đêm trèo lên kiểm tra bát hương sành gãy đôi.

Những chiếc rễ này không phải mọc từ dưới đất lên để bám vào kim loại. Chúng bị xé đứt từ trên cao, rồi bằng một cách thức quái gở nào đó, từng sợi rễ đã bò qua đống gạch vụn để thắt chặt lấy từng công cụ đào bới của đám thợ.

Tôi rùng mình buông tay, lọn rễ trơn trượt rơi đánh thót xuống bùn đất.

Sau lưng tôi, tiếng bước chân loẹt xoẹt vang lên. Thắng đã khoác thêm chiếc áo bông cũ, tay cầm chiếc đèn dầu leo lét bước ra sân. Nhìn thấy tôi đang chằm chằm nhìn vào những lưỡi xẻng bện đầy rễ đen, mặt anh thợ cả giật giật từng chặp.

- Chú mày thấy rồi chứ? - Thắng thì thầm, giọng run lên bần bật - Ban ngày xúc vữa thì không sao. Cứ hễ chiều tối đặt đồ vào thùng là đêm đến nó lại kéo ra đây bện lại thế này. Hôm qua thằng Dũng dùng xà beng nạy thử cái dầm ngang gác xép, cái dầm có rễ đa to bằng bắp chân bám chặt ấy. Vừa bẩy được một nhát thì xà beng bật ngược lại suýt đập nát quai hàm nó. Tối nay thì thằng Bình bị đè suýt nghẹt thở. Người ta... người ta không cho phá đâu chú em à.

Tôi đứng thẳng dậy, nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu đầy tia máu của Thắng.

- Sáng mai cai thầu bên công ty sẽ mang bản vẽ bổ sung xuống. Công trình này chậm tiến độ ba ngày rồi, nếu các anh bỏ thì tiền công nửa tháng qua bị giữ lại hết đấy.

Thắng cười nhạt, nụ cười méo xệch in trên nền vôi nứt:

- Tiền giữ thì mất, chứ giữ mạng thì về quê cấy vài sào ruộng vẫn sống được chú mày ơi. Đêm hôm kia, lúc đi tiểu ra góc tường này, tao đã thấy rồi. Có bóng người ngồi vắt vẻo trên cái chạc ba cây đa kia kìa. Tóc buông dài chấm tận mái tôn tầng một. Người ta ngồi chải tóc, cái lược gãy cứ cào sột soạt vào cành cây. Tao tưởng gió thổi cành đa va vào tường, nhưng vừa ngẩng mặt lên thì... cái mặt người ta trắng bệch, không có mắt mũi gì cả, chỉ có hai cái hốc đen ngòm nhìn thẳng xuống tao!

Gió bấc bỗng giật mạnh một cơn, làm ngọn lửa trong chiếc đèn dầu của Thắng chao đảo rồi phụt tắt. Khoảng sân lại chìm ngập trong bóng tối nhập nhòe của ánh đèn cao áp từ phía hồ Gươm hắt qua hàng rào tôn.

Bên trong lán, tiếng khóc thút thít của Bình bắt đầu vang lên rấm rứt. Cậu thanh niên trẻ tuổi dường như đã tỉnh hẳn hồn vía nhưng nỗi sợ hãi tột cùng khiến cậu ta chỉ biết vùi mặt vào ngực Dũng mà nấc nghẹn. Tiếng khóc thê lương của người thợ hồ hòa vào tiếng lá đa xào xạc trên mái nhà hoang, tạo nên một thứ thanh âm u uất, đè nặng lên ngực người nghe.

Tôi lẳng lặng gom toàn bộ xẻng sắt và xà beng lại, dùng chân gạt đống rễ đen nhẫy sang một bên rồi vác đống đồ kim loại nặng trịch về đặt trước hiên lán trực bảo vệ của mình. Tiếng kim loại va chạm leng keng khô khốc vang lên giữa không gian tĩnh mịch của khu đất vàng.

Trời bắt đầu hửng sáng ở đằng đông. Màn sương muối giăng mờ mịt trên mặt nước hồ Hoàn Kiếm, biến tháp Rùa phía xa thành một bóng đen mờ ảo chìm trong hơi nước lạnh ngắt. Ánh sáng xám đục của ban mai rọi xuống công trường số 138 Hàng Trống, làm lộ rõ sự tàn tạ, xơ xác của ngôi nhà cổ đang chờ ngày bị san phẳng.

Chưa đầy sáu giờ sáng, khi tiếng kẻng xe rác của công nhân môi trường đô thị vừa vang lên lách cách ngoài phố, cánh cửa lán bạt dã chiến đã bật mở.

Cả ba người thợ hồ đã thu dọn xong đồ đạc cá nhân. Mỗi người chỉ mang theo một chiếc ba lô vải bạt con cóc sờn rách và một bọc chăn màn buộc túm bằng dây ni lông. Bình đi giữa, hai bên có Thắng và Dũng xốc nách đỡ lấy, bước chân xiêu vẹo như người vừa ốm dậy sau một trận thập tử nhất sinh. Mặt cậu ta vẫn xám ngoét, ánh mắt hoảng loạn đảo liên hồi lên những chạc cây đa cổ thụ trên nóc gác lửng.

Thắng bước tới trước bàn trực của tôi, đặt xuống mặt bàn gỗ một chùm chìa khóa han gỉ của cánh cổng sắt phụ phía sau nhà.

- Bọn anh đi đây, chú em bảo vệ ở lại cẩn thận. Cái thùng đồ nghề với mấy bao xi măng ngoài kia chú cứ bảo cai thầu muốn trừ bao nhiêu tiền công thì trừ. Bọn anh không dám bước chân vào cánh cửa kia một lần nào nữa đâu.

- Không đợi cai thầu đến ký biên bản bàn giao dụng cụ à anh Thắng? - Tôi hỏi, mắt nhìn chùm chìa khóa sắt lạnh ngắt.

Thắng lắc đầu quầy quậy, môi mím chặt:

- Đợi đến lúc ông ấy đến thì khéo bọn anh phát điên mất. Chú mày còn trẻ, nghe lời anh khuyên thật lòng một câu: Ban ngày thì ngồi đây trông xe trông máy móc được, chứ đêm hôm thì kiếm cái nhà trọ ngoài ngõ Hàng Hành mà ngủ nhờ. Đừng có cố sống cố chết bám lấy cái lán này. Đất này... người ta oán nặng lắm, không ai nuốt trôi được đâu.

Nói xong, Thắng dứt khoát quay lưng, cùng Dũng dìu Bình bước nhanh ra phía cổng tôn. Cánh cửa sắt hé mở một khe hẹp rồi sập lại đánh "rầm" một tiếng khô khốc, để lại một khoảng lặng tuyệt đối bao trùm lấy toàn bộ công trường.

Tiếng động cơ xe buýt chạy sớm ngoài đường Đinh Tiên Hoàng vọng lại đều đều, nhưng bên trong hàng rào tôn xanh thẫm, không khí dường như đặc quánh lại bởi sự cô độc đến rợn gáy. Toán thợ đã bỏ chạy, mang theo cả chút hơi ấm con người ít ỏi còn sót lại ở góc sân sau.

Tôi đứng một mình giữa khoảng sân ngổn ngang xà bần, nhìn lên cây đa cổ thụ sừng sững trên nóc nhà.

Ban ngày, ánh sáng mặt trời mùa đông nhợt nhạt rọi qua những kẽ lá rậm rạp, làm lộ ra những mảng tường vôi lở loét vàng úa của căn gác hai. Cửa sổ gác xép vẫn khép hờ, những nhánh rễ đa to như bắp tay người lớn đâm xuyên qua khung gỗ mục, ghì chặt lấy khung cửa như một cái lồng giam kiên cố.

Bên dưới hiên nhà, đống xẻng sắt tôi vừa thu dọn ban nãy vẫn nằm im lìm trên nền đất. Nhưng những sợi rễ đa mảnh như tóc phụ nữ quấn quanh lưỡi thép lúc nửa đêm dường như đã khô quắt lại dưới gió sớm, biến thành những sợi xơ xác màu tro tàn bám chặt vào lớp kim loại hoen gỉ.

Tôi bước về phía chiếc ghế đẩu trong lán trực, mở cuốn sổ trực ca ra. Dòng chữ tôi ghi đêm qua vẫn còn nguyên nét mực Cửu Long xanh thẫm. Tôi cầm bút, nén một tiếng thở dài rồi viết tiếp vào phần nhật ký công việc buổi sáng:

*Hồi sáu giờ mười lăm phút. Đội thợ phá dỡ gồm ba người tự ý thu dọn đồ đạc, chấm dứt hợp đồng lao động và rời khỏi công trường không qua bàn giao. Lý do: Hoảng loạn tinh thần do hiện tượng bóng đè và lo sợ tai nạn lao động. Hiện tại hiện trường chỉ còn một nhân viên bảo vệ phụ trách quản lý tài sản và mặt bằng.*

Tôi gập cuốn sổ lại, tựa lưng vào vách gỗ mỏng mảnh. Một cơn gió lạnh từ phía hồ Gươm luồn qua khe hở của tấm rào tôn, mang theo tiếng lá đa khô xào xạc rơi rụng trên nền gạch vỡ. Cả không gian rộng lớn của khu đất số 138 Hàng Trống giờ đây chỉ còn lại một mình tôi đối diện với khối phế tích hoang tàn và những lời nguyền u ám đang dần thức giấc từ những tầng gác mục ruỗng phía trên cao.

Chương khác

Xem thêm