Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 12: Tiếng Khóc Thê Lương Vọng Xuống Vỉa Hè

Tiếng chuông xe xích lô kim loại va vào nhau lanh lảnh giữa đêm khuya vắng lặng. "Kính... coong... kính... coong..." Âm thanh đanh gọn vang lên từ bên…

Nội dung chương

Tiếng chuông xe xích lô kim loại va vào nhau lanh lảnh giữa đêm khuya vắng lặng.

"Kính... coong... kính... coong..."

Âm thanh đanh gọn vang lên từ bên ngoài bức tường tôn rào chắn của số nhà 138 Hàng Trống. Tôi ngồi chết trân trên chiếc ghế đẩu mục bên bàn trực, ngòi bút bi còn run rẩy cắm trên mặt giấy sổ theo dõi. Tiếng móng tay cào sột soạt trên cánh cửa lim tầng hai ban nãy vừa dứt hẳn, để lại một khoảng lặng buốt giá bao trùm lấy gian lán bạt. Gió từ lòng hồ Hoàn Kiếm thốc mạnh qua những khe hở của tấm tôn lượn sóng, gầm rít từng đợt qua tán cây đa cổ thụ trên nóc gác.

Tiếng chuông xe lại điểm thêm hai nhịp nữa, lần này kèm theo tiếng kim loại xích líp khô dầu va chạm lạo xạo.

Có tiếng người thở dốc nặng nhọc ở phía bên kia hàng rào, sát mép cổng sắt kéo dã chiến. Một giọng đàn ông khàn đặc, đục ngầu vì ngấm lạnh cất lên qua khe tôn:

- Có ai trong bốt trực đấy không? Làm ơn cho tôi xin hòn lửa châm điếu thuốc với!

Tôi thở hắt ra một hơi dài, buông cây bút xuống mặt bàn gỗ. Nỗi sợ hãi vừa trải qua trên cầu thang gác hai vẫn còn đè nặng nơi lồng ngực, khiến các khớp ngón tay tôi tê dại. Tôi vớ lấy chiếc đèn pin bấm bằng vỏ nhôm, bật công tắc kiểm tra rồi bước từng bước chậm rãi ra khoảng sân ngập ngụa xà bần. Bùn đất và vôi vữa nhão nhoét bám chặt vào đế ủng cao su, phát ra những tiếng lép bép nặng nề.

Tôi tiến sát đến cánh cổng tôn, hé mắt nhìn qua khe hở rộng chừng hai ngón tay.

Dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn cao áp bờ hồ hắt sang, một chiếc xích lô cũ kỹ màu xanh lá cây đậm đang đỗ xiêu vẹo trên mép vỉa hè đường Hàng Trống. Khung xe bằng sắt rỉ sét loang lổ từng mảng, mui bạt phía trên rách tơi tả, để lộ những nan thép uốn cong như bộ xương sườn của một con thú gầy guộc. Đứng tựa vào tay lái là một người đàn ông trung niên trạc năm mươi tuổi, mặc chiếc áo khoác bộ đội bạc phếch bốn túi, ống quần cuộn cao tới bắp chân khẳng khiu, đôi dép lốp mòn vẹt sũng nước mưa phùn.

Gương mặt người đàn ông xám ngoét, hai gò má hóp sâu rộc rạc. Đôi môi ông ta thâm sì, run lên bần bật đến mức hàm răng va vào nhau lập cập thành tiếng. Ngón tay trỏ và ngón tay cái bên phải của ông ta đang kẹp chặt một điếu thuốc lá Du Lịch nhăn nhúm, đầu lọc đã ướt đẫm mồ hôi.

Thấy bóng tôi sau khe cửa, người đạp xích lô vội vàng níu lấy mép tôn rỉ:

- Chú em bảo vệ làm ơn... Cho tôi xin tí lửa. Lạnh quá, tôi run hết cả tay không quẹt nổi bao diêm.

Nhận thấy ông ta chỉ là một người lao động bình thường đi kiếm cơm đêm, tôi khẽ thở phào, kéo thanh then sắt mở hé một cánh cổng tôn vừa đủ cho một người lách vào.

- Bác vào tạm trong lán uống hớp nước nóng. Gió bờ hồ đêm nay độc lắm, đứng ngoài ấy trúng gió méo miệng như chơi.

Người đàn ông không chần chừ, vội vã lách người qua khe cửa hẹp. Bước chân ông ta lảo đảo, loạng choạng như người mất hồn. Khi bước qua khoảng sân tối để vào lán bảo vệ, ông ta bất giác ngước mắt nhìn lên nóc ngôi nhà cổ 138 Hàng Trống. Ngay khoảnh khắc nhìn thấy những chùm rễ đa to như bắp chân rủ lòa xòa từ gác hai xuống tận bậu cửa sổ vòm vỡ nát, người ông ta giật nảy lên một cái, cả thân hình co rúm lại.

Tôi đóng chốt cổng cẩn thận rồi dắt người đàn ông vào bên trong lán trực. Gian lán chỉ rộng chừng sáu mét vuông, che chắn tạm bợ bằng mấy tấm cót ép và bạt nhựa dứa, nhưng ít nhất cũng ngăn được những luồng gió bấc mang theo hơi nước buốt giá từ hồ Gươm thổi vào.

Tôi bật chiếc bật lửa ga màu đỏ, ghé sát vào đầu điếu thuốc trên môi ông ta. Ngọn lửa vàng bập bùng soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm trên trán người đàn ông và những vệt bùn non bắn tung tóe trên vạt áo lính sờn rách. Ông ta rít một hơi thật sâu, ngực phập phồng kịch liệt. Khói thuốc Du Lịch khét lẹt tỏa ra, đặc quánh giữa không gian chật hẹp, át đi phần nào mùi ẩm mốc xộc lên từ đống vôi vữa ngoài sân.

- Cảm ơn chú em. Tôi tên Quý, chạy xích lô ngoài mạn ga Hàng Cỏ ngót nghét hai mươi năm nay rồi. Chưa bao giờ tôi gặp phải cái chuyện rợn tóc gáy như đêm nay. - Người đàn ông run rẩy kéo chiếc ghế gỗ thấp ngồi xuống, hai bàn tay áp chặt lấy thành chiếc cốc sắt đựng nước chè tôi vừa rót từ phích Rạng Đông ra.

- Đêm hôm mưa gió thế này bác không về nhà nghỉ sớm đi, còn chạy cuốc làm gì cho khổ? - Tôi ngồi xuống mép giường gấp, rót thêm nước nóng vào cốc của mình.

Bác Quý uống liền hai ngụm chè đắng chát, cổ họng giật giật. Khói thuốc vẫn từ mũi ông ta phả ra từng luồng mỏng. Ông ta đảo mắt nhìn quanh lán trực, rồi lại nhìn ra khoảng sân hoang tàn nơi ngôi nhà cổ đang đứng sừng sững trong bóng tối.

- Chú em mới về trông công trường này à? Có biết khu đất này người ta đồn đại những gì không?

- Tôi biết một vài chuyện. Toán thợ hồ phá dỡ bên trong vừa dọn đồ bỏ chạy sáng sớm nay rồi. Giờ ở đây chỉ còn một mình tôi gác đêm. Ban nãy bác vừa chở khách tới đây à?

Nghe tôi hỏi câu đó, bàn tay cầm cốc nước của bác Quý bỗng giật mạnh, làm nước chè sánh cả ra mặt bàn gỗ. Đôi mắt trũng sâu của ông ta mở to, tia máu đỏ vằn lên đầy hoảng loạn.

- Đúng... Tôi vừa thả khách ngay trước cửa cái nhà này. Một cuốc xe từ ga Hàng Cỏ về đây. Mà người khách đó... Tôi thề có bóng đèn cao áp bờ hồ soi sáng, con người trần mắt thịt không thể nào như thế được!

Bác Quý run rẩy gí đầu mẩu thuốc lá vào chiếc gạt tàn làm bằng vỏ hộp sữa đặc, rồi bắt đầu kể lại chuyến xe kỳ quái vừa diễn ra cách đây chưa đầy nửa tiếng đồng hồ. Giọng ông ta đều đều, chìm nổi giữa tiếng gió rít bên ngoài vách bạt.

Hơn mười một giờ đêm, trời Hà Nội bắt đầu lất phất mưa phùn mùa đông. Ga Hàng Cỏ thưa thớt bóng người sau khi chuyến tàu Thống Nhất muộn từ phương Nam xình xịch tiến vào sân ga rồi tắt máy. Bác Quý trùm tấm áo mưa cánh dơi rách mép, dựng xích lô dưới tán cây xà cừ cổ thụ đối diện cổng ga, hi vọng kiếm thêm một cuốc khách chót trước khi đạp về căn phòng trọ ẩm thấp ngoài bãi Phúc Xá.

Giữa làn mưa bụi mờ mịt giăng kín đường Lê Duẩn, một người phụ nữ trẻ bỗng nhiên xuất hiện ngay bên cạnh càng xe của bác Quý. Bác khẳng định chắc nịch rằng mình đã ngồi quan sát rất kỹ dòng người túa ra từ cổng ga, nhưng tuyệt nhiên không thấy người phụ nữ này đi từ trong sân ga ra. Cô ta đứng đó từ lúc nào, lặng lẽ tựa một cái bóng mọc lên từ màn mưa lạnh.

Người phụ nữ trạc chừng hai mươi lăm tuổi, vóc dáng mảnh khảnh, dong dỏng cao. Cô ta mặc một bộ áo dài lụa màu xanh xám tro theo lối cổ của những thập niên trước, vạt áo buông dài chấm gót, không khoác áo ấm bên ngoài dù trời rét căm căm. Mái tóc đen dài được vấn gọn gàng sau gáy bằng một chiếc kẹp đồi mồi cũ kỹ. Trên tay cô ta cầm một chiếc ví đầm nhỏ bọc nhung the màu mận chín, không hề có va ly hay tay nải hành lý của người đi tàu đường dài.

- Bác xích lô ơi, chở tôi về nhà số một trăm ba mươi tám phố Hàng Trống, trông ra bờ hồ.

Giọng nói cất lên nhỏ nhẹ, trong trẻo nhưng lạnh buốt, như thể phát ra từ một đáy giếng sâu không có hơi ấm trần gian. Bác Quý mừng thầm vì có cuốc xe đêm giá hời, liền đon đả kéo tấm bạt che phía trước lên rồi mời khách bước vào khoang nệm.

Thế nhưng, ngay khi người phụ nữ áo dài bước lên xe, bác Quý đã nhận thấy điều bất thường đầu tiên.

Bình thường, khi một người lớn bước chân lên khoang xích lô, toàn bộ khung xe sẽ lún xuống theo trọng lượng cơ thể, hai lò xo giảm xóc dưới yên xe sẽ phát ra tiếng cót két quen thuộc. Đằng này, chiếc xe của bác Quý vẫn nhẹ bẫng. Càng xe không hề trĩu xuống dù chỉ nửa phân.

Nghĩ bụng chắc do khách nữ người ngợm mảnh mai, lại đang vội kiếm tiền cuốc chót, bác Quý gạt phăng mối nghi ngờ, dồn sức nhấn bàn đạp đưa xe rẽ vào đường Trần Hưng Đạo rồi vòng qua Quán Sứ, hướng về phía hồ Hoàn Kiếm.

Đêm mùa đông, phố xá Hà Nội chìm trong vẻ vắng lặng đến rợn người. Tiếng bánh xe cao su miết trên mặt đường nhựa ướt sũng phát ra âm thanh xì xào đơn điệu. Mưa phùn giăng thành từng màn bụi nước mờ ảo dưới ánh đèn vàng của những dãy phố cổ.

Bác Quý cắm cúi đạp xe, nhưng càng đi, ông ta càng cảm thấy sống lưng mình lạnh buốt một cách kỳ dị.

Từ khoang khách phía trước, không hề có một tiếng động nào phát ra. Không có tiếng thở, không có tiếng sột soạt của tà áo lụa ma sát vào nệm da simili. Ngược lại, một luồng khí lạnh ngắt như hơi đá tỏa ra từ phía sau lưng người phụ nữ, phả thẳng vào ngực bác Quý. Cùng với cái lạnh thấu xương đó là một mùi hương lạ lùng xộc vào mũi ông ta. Đó không phải mùi nước hoa đắt tiền của những cô gái thành thị, cũng không phải mùi nước bồ kết gội đầu thông thường. Đó là mùi của bùn ải dưới đáy hồ lâu năm, mùi rêu phong ẩm mục hòa lẫn với thứ hương phấn nụ rập rình của những người đàn bà thời xưa cũ.

- Tôi lạnh buốt hai lá phổi chú em ạ. - Bác Quý đưa hai bàn tay thô ráp lên xoa xoa vào nhau, ánh mắt thất thần. - Tôi đạp xe bao nhiêu năm qua cái đất Hà Nội này, rét mướt đến mấy thì người ngợm cũng phải toát mồ hôi nóng ran. Vậy mà suốt dọc đường Tràng Thi rẽ sang Hàng Khay rồi ngoặt vào Hàng Trống, hai cái bắp chân tôi cứ cứng đờ lại như bị ai lấy đá chườm vào khớp. Tôi mấy lần định cất tiếng hỏi thăm cô ta vài câu cho đỡ sợ, nhưng cái cuống họng tôi cứ nghẹn ứ lại, mở miệng không ra hơi.

Chiếc xe xích lô chầm chậm lướt trên đường Hàng Trống. Khi xe chạy ngang qua đoạn đối diện hồ Gươm, người phụ nữ trong khoang xe khẽ nâng bàn tay trắng bệch lên, chỉ về phía trước:

- Bác dừng ở đây cho tôi. Nhà tôi đây rồi.

Chiếc xe dừng lại sát mép vỉa hè, ngay trước bức tường tôn bịt kín mặt tiền của số nhà 138.

Bác Quý ngẩng đầu nhìn lên. Trước mắt ông ta là một khối nhà cổ hai tầng đổ nát, vách tường bong tróc từng mảng vôi lớn để lộ lớp gạch đỏ thẫm như màu máu khô. Tán cây đa khổng lồ ngự trị trên nóc nhà xòe rộng, những nhánh rễ đen trườn dọc theo mép tường như những cánh tay ma quái đang bóp nghẹt lấy ngôi nhà. Toàn bộ khu đất bị rào chắn kín mít bởi biển báo công trường xây dựng, không một ánh đèn, không một bóng người sinh sống.

Bác Quý hoảng hồn quay sang người khách:

- Cô ơi, nhầm chỗ rồi! Cái nhà này bỏ hoang cả chục năm nay, đang chuẩn bị đập bỏ san nền cơ mà. Cô bảo nhà cô ở đây là ở làm sao?

Người phụ nữ áo dài xanh xám không đáp lại. Cô ta từ từ bước xuống khỏi khoang xe. Bác Quý nhìn chằm chằm vào đôi bàn chân của cô ta. Dưới làn mưa phùn dầm dề, đôi hài nhung màu đen của cô ta lướt đi nhẹ bẫng trên mặt vỉa hè sũng nước, không hề để lại một tiếng bước chân, cũng chẳng làm bắn lên một giọt nước bùn nào.

Cô ta mở chiếc ví đầm nhung the, rút ra một tờ tiền rồi đưa cho bác Quý. Bàn tay cô ta trắng nhợt, những ngón tay thuôn dài cứng đờ như sáp nến, lạnh toát khi vô tình chạm nhẹ vào đầu ngón tay ráp nối của người lái xe xích lô.

- Tôi gửi bác tiền xe. Cảm ơn bác đã đưa tôi về đúng giờ. Chồng tôi... sắp về rồi.

Nói xong câu đó, người phụ nữ quay lưng, bước thẳng về phía khe hở của cánh cổng tôn rào chắn. Bác Quý thề rằng ông ta đã tận mắt nhìn thấy tà áo dài lụa màu tro của cô ta lướt xuyên qua những thanh sắt rỉ sét của cánh cổng phụ, biến mất hút vào khoảng sân tối đen như mực bên trong ngôi nhà cổ 138 Hàng Trống.

Cùng lúc đó, trên ngọn cây đa cổ thụ, một đàn quạ đen đậu kín các chạc cây bỗng nhiên vỗ cánh bay toán loạn ra phía lòng hồ, kèm theo những tiếng kêu thê thiết xé toạc màn sương đêm.

Bác Quý rùng mình một cái, ngón tay co quắp lại nắm chặt lấy tờ tiền vừa nhận được. Nỗi kinh hoàng bóp nghẹt lấy tâm trí khiến ông ta không thể đạp xe đi tiếp được nữa. Chân tay ông ta rủn ra, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh, đành phải liều mạng gõ vào cánh cửa tôn xin một ngọn lửa sưởi ấm.

Nghe xong câu chuyện, không khí bên trong gian lán bảo vệ dường như đông cứng lại. Tôi nhìn người đàn ông trung niên đang run rẩy trước mặt, rồi nhìn qua khe cửa lán ra khoảng sân hoang tàn ngoài kia.

Tiếng móng tay cào cửa trên gác hai lúc mười một giờ kém mười lăm phút.

Cuộc hẹn đón chồng trong đêm mưa gió của người vợ trẻ bị sát hại năm xưa.

Người phụ nữ áo dài xanh xám trở về từ ga Hàng Cỏ lúc nửa đêm.

Những mảnh ghép rời rạc từ các dị bản truyền miệng mà đám thợ hồ vừa bàn tán ban ngày bỗng chốc khớp nối lại với nhau một cách rùng rợn. Ngôi nhà này chưa bao giờ buông tha cho những linh hồn từng chết tức tưởi bên trong nó.

- Bác... bác bảo cô ta đưa tiền cho bác à? - Tôi hạ giọng hỏi, ánh mắt dừng lại ở chiếc túi áo ngực lính bạc màu của bác Quý.

Bác Quý nuốt nước bọt đánh ực một cái, gật đầu:

- Đúng... Cô ta đưa tôi tờ hai mươi nghìn. Tôi nhìn rõ ràng dưới ánh đèn đường bờ hồ, tờ hai mươi nghìn cotton màu xanh tím còn mới tinh. Tôi nhét ngay vào túi áo ngực này này...

- Bác lấy ra xem lại xem. - Tôi giục, giọng tôi cũng bắt đầu lạc đi vì căng thẳng.

Bác Quý run rẩy thò bàn tay chai sạn vào sâu bên trong túi áo ngực. Những ngón tay của ông ta mò mẫm hồi lâu, vẻ mặt dần biến đổi từ sợ hãi sang kinh ngạc tột cùng.

- Quái lạ... Tôi nhét vào đây mà... Sao nó ráp thế này?

Bác Quý từ từ rút tay ra khỏi túi áo.

Bàn tay ông ta ướt đẫm mồ hôi nhớp nháp, run bần bật xòe ra trước mặt tôi dưới ánh sáng vàng đục của ngọn đèn sợi đốt.

Không có tờ tiền hai mươi nghìn nào cả.

Nằm gọn trong lòng bàn tay thô ráp của người lái xích lô là một chiếc lá đa khô khốc, màu nâu sẫm như máu đọng lâu ngày. Chiếc lá đã quắt queo, trên bề mặt phủ một lớp bụi mốc xám xịt, gân lá nổi lên chằng chịt như mạng nhện. Điều kinh hãi nhất là ở ngay giữa phiến lá khô ấy có một vết rách sắc lẹm, khuyết sâu vào thân lá tạo thành hình một mảnh trăng lưỡi liềm.

Tôi giật thót người, lùi lại nửa bước va mạnh vào cạnh giường gấp.

Vết rách hình trăng khuyết đó...

Tôi đã nhìn thấy nó hàng trăm lần trong suốt những ngày qua. Mỗi sáng quét dọn khoảng sân gạch vỡ dưới chân ngôi nhà cổ, những chiếc lá đa già rụng xuống từ chạc cây cao nhất trên nóc gác hai đều mang theo đúng một vết rách hình trăng khuyết y hệt như thế, như thể từng chiếc lá sinh ra từ cái cây ma quái này đều đã bị một vết cứa oan nghiệt nguyền rủa từ trong cuống.

Bác Quý nhìn chằm chằm vào chiếc lá khô trong lòng bàn tay mình. Đôi mắt ông ta đờ đẫn, rồi đột nhiên bật ra một tiếng thét nghẹn ngào kinh hãi. Ông ta hất mạnh tay, ném chiếc lá đa khô xuống nền đất nham nhở vôi vữa.

Chiếc lá xoay tròn trong không trung một vòng rồi rơi nhẹ tưng xuống ngay dưới chân chiếc ghế đẩu tôi ngồi.

- Ma... Đúng là ma rồi! Oan hồn cô Ba... Oan hồn người đàn bà trên cây đa về đòi mạng rồi!

Bác Quý không dám nán lại thêm một giây phút nào nữa. Ông ta bật dậy, xô tung cánh cửa lán bạt, lao thục mạng ra phía cổng tôn dã chiến. Đôi dép lốp của ông ta trượt trên bùn đất nhão nhoét, suýt khiến ông ta ngã sấp mặt xuống đống xà bần. Bằng một sức mạnh điên cuồng do nỗi sợ hãi tột cùng thúc đẩy, người đàn ông năm mươi tuổi giật mạnh chốt cổng sắt kéo, lao ra mặt đường Hàng Trống.

Tiếng xích líp xe xích lô lại rít lên ken két, kèm theo tiếng thở dốc và tiếng guồng chân đạp cuống cuồng trên mặt đường nhựa ướt. Chiếc xích lô xanh rách nát lao vút đi trong màn mưa phùn mờ mịt của đêm đông Hà Nội, mất hút về phía ngã ba Hàng Khay, để lại cánh cổng sắt mở toang đung đưa theo gió từng nhịp khô khốc.

"Két... cọt... rầm!"

Tôi đứng chôn chân giữa gian lán bảo vệ chật hẹp. Gió lạnh từ hồ Gươm ùa qua cánh cổng mở toang, thốc thẳng vào trong lán làm ngọn đèn sợi đốt trên trần chao đảo dữ dội. Những vệt bóng tối và ánh sáng vàng vọt đuổi nhau trên vách cót ép như những hình nhân nhảy múa.

Dưới chân tôi, chiếc lá đa khô mang vết rách hình trăng khuyết vẫn nằm im lìm trên nền đất.

Một mùi hương phấn nụ thoang thoảng lẫn mùi bùn ải bỗng nhiên xộc vào lán trực, lướt qua sống mũi tôi buốt lạnh như một dải lụa vừa phất qua mặt.

Tôi cúi người, run rẩy nhặt chiếc lá đa khô lên. Bề mặt lá ráp ráp, lạnh ngắt như chạm vào da thịt người chết.

Tôi bước chậm rãi ra khoảng sân hoang tàn, ngước mắt nhìn lên tầng hai của ngôi nhà số 138 Hàng Trống.

Dưới ánh đèn cao áp từ phía bờ hồ rọi xuyên qua màn sương mù, tán cây đa cổ thụ trên nóc gác lửng đang đung đưa nhè nhẹ trong gió bấc. Giữa những chùm rễ đen sì rủ xuống như thác nước, khung cửa sổ lim của căn phòng trên gác hai đang hé mở một khe hẹp.

Từ sâu bên trong khoảng tối hun hút ấy, dường như có một ánh mắt vô hình đang nhìn chằm chằm xuống đỉnh đầu tôi, lạnh lùng và dai dẳng.

Sáng ngày mai, viên kỹ sư phụ trách giám sát an toàn kết cấu của công ty phá dỡ sẽ tới hiện trường để đo đạc và khảo sát độ nghiêng của khung nhà trước khi đưa xe cơ giới hạng nặng vào. Tôi siết chặt chiếc lá khô trong lòng bàn tay, những đường gân lá giòn vụn vỡ vụn ra thành từng mảnh nhỏ, rơi lả tả xuống nền đất lạnh.

Liệu những công thức toán học, những máy móc trắc địa và cái nhìn duy vật của những người làm khoa học có giải thích nổi vết rách hình trăng khuyết trên chiếc lá này, hay cả công trường sẽ tiếp tục bị nhấn chìm trong chuỗi ác mộng không lối thoát?

Chương khác

Xem thêm