Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 15: Mẩu Lá Đa Khô Thay Cho Tiền
Bậc thang gỗ lim đầu tiên lún xuống dưới đế giày bảo hộ của tôi, phát ra một tiếng rên rỉ khô khốc. Âm thanh ấy vang lên giữa bốn bức tường vôi lở, dội…
Nội dung chương
Bậc thang gỗ lim đầu tiên lún xuống dưới đế giày bảo hộ của tôi, phát ra một tiếng rên rỉ khô khốc. Âm thanh ấy vang lên giữa bốn bức tường vôi lở, dội ngược vào màng nhĩ tôi nghe buốt lạnh như tiếng răng cọ vào nhau.
Tôi ghì chặt cây xà beng ngắn trong tay trái, đầu kim loại lạnh ngắt tì sát vào bắp đùi. Tay phải tôi nắm chắc thân đèn pin, quét một vệt sáng trắng đục qua từng bậc cầu thang dốc đứng. Lớp bụi vôi tích tụ nhiều năm bay mù lên trong luồng sáng, lơ lửng bám vào cổ họng khiến tôi phải nén từng cơn ho khan. Lan can gỗ lim vốn được tiện hoa văn con tiện kiểu Pháp tinh xảo, nay đã gãy rụng quá nửa; những chạc rễ đa đen đúa từ phía trên thọc xuống, quấn chặt lấy các chấn song còn sót lại hệt như những ngón tay gầy guộc đang bóp nghẹt bộ khung xương của ngôi nhà.
Mỗi bước tôi đặt lên, thanh gỗ mục lại oằn xuống một nhịp hiểm trở. Ở túi áo trong của chiếc áo trấn thủ tôi đang mặc, nửa chiếc lược sừng kẹp lọn tóc phụ nữ áp chặt vào ngực trái. Nó tỏa ra một luồng khí lạnh buốt, thấu qua hai lớp vải bông dày cộm, cắn nhói vào da thịt. Mùi phấn nụ và dầu dừa cổ xưa từ chiếc lược vẫn không ngừng bốc lên nồng nặc, át cả mùi ẩm mốc của vôi vữa lâu năm.
Tiếng cọt kẹt ban nãy đã dứt bặt ngay khi tôi chạm chân vào bậc thang thứ ba. Ngôi nhà lại rơi vào sự im lìm tuyệt đối, cái thứ im lìm ngột ngạt của một nấm mồ đóng kín.
Tôi bước lên hết bậc thang thứ mười lăm, khom người luồn qua một vòm cửa thấp để tiến thẳng vào căn gác xép.
Căn gác nằm nép mình dưới mái ngói âm dương, diện tích chỉ chừng mười lăm mét vuông, vốn là không gian sinh hoạt riêng tư được ngăn cách bằng vách gỗ ép thô sơ. Nơi đây từng là tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ vào cuối thập niên 1990 - giai đoạn trước khi thảm kịch kinh hoàng xảy ra khiến căn nhà bị bỏ hoang vĩnh viễn. Tôi nâng cao đèn pin, lia một vòng từ vách tường mục sang các góc nhà.
Trên nền đất lát ván gỗ xám xịt, đồ đạc vỡ nát nằm rải rác khắp nơi. Một chiếc quạt tai voi gãy cánh nằm chỏng trơ dưới chân vách, cạnh đó là những mảnh khung ảnh vỡ vụn, lớp kính nứt toác phản chiếu ánh đèn pin thành những tia sáng nhọn hoắt. Dưới lớp bụi dầy cả đốt ngón tay, tôi nhìn thấy những mảnh báo cũ ố vàng từ năm 1998, chữ in mờ nhạt ghi lại những mẩu tin quảng cáo và dự báo thời tiết của một thời xa xôi.
Tôi bước chầm chậm vào giữa phòng, cố gắng đặt chân lên đúng các đường xà gồ chịu lực phía dưới để tránh làm sập sàn. Không khí ở đây đặc quánh và lạnh hơn dưới tầng trệt rất nhiều. Gió bấc từ mé hồ Hoàn Kiếm rít từng hồi ngoài khe cửa sổ chớp vỡ, nhưng khi chui vào căn gác này, nó biến thành những luồng khí quẩn quanh quất, đảo tròn quanh các bức vách loang lổ.
Theo lời kể lưu truyền trên các diễn đàn mạng và những câu chuyện thì thầm của dân phố cổ, vào một đêm mưa gió cuối năm 1999, người chồng làm ăn xa bị hỏng xe trên đường đê trở về. Người vợ trẻ ở nhà một mình đợi chồng đến gần mười một giờ đêm thì bị một toán cướp đột nhập. Chúng đã sát hại nạn nhân ngay trên căn gác xép này để cướp đi số tiền gom góp chuẩn bị sửa nhà. Khi người chồng hớt hải chạy về tới cửa, vợ anh đã nằm bất động trên vũng máu lạnh ngắt. Nỗi oan khuất tột cùng ấy đã phong ấn căn gác, khiến cho ba đời chủ sau đó đều không thể trụ lại quá ba tháng vì những tiếng đập cửa và tiếng bước chân chạy loạn xạ mỗi đêm.
Tôi hít một hơi sâu, luồng ánh sáng đèn pin trong tay tôi hạ thấp xuống, bắt đầu rà soát từng tấc ván sàn.
Mặt sàn làm bằng những thanh gỗ lim bản hẹp ghép lại với nhau, nhiều chỗ đã cong vênh vì ngấm nước mưa dột từ mái nhà. Lớp bụi xám tro phủ đều khắp bề mặt, chỉ trừ một khoảng trống nằm chếch về phía góc đông nam, ngay dưới chân chiếc tủ tường đã mục ruỗng.
Tôi bước lại gần hơn ba bước. Dưới luồng ánh sáng gom tụ của chiếc đèn pin, khoảng sàn gỗ lim xám xịt ấy bỗng hiện rõ một mảng đổi màu kỳ lạ.
Đó là một vệt ố lớn có hình thù bất định, đường kính ngót nghét một mét, ăn sâu vào từng thớ ván. Màu của nó không phải là màu xám đen của nấm mốc thông thường, mà là một sắc nâu sẫm pha ánh cánh gián - thứ màu sắc chỉ hình thành khi chất lỏng hữu cơ đậm đặc ngấm qua bề mặt gỗ và bị oxy hóa suốt hàng chục năm trời.
Vết ố ăn loang qua bốn thanh ván lim, mép ngoài cùng rỉ thành những vệt dài chảy tràn xuống các khe ghép sàn, đúng theo hướng dốc tự nhiên của mặt nền nhà cổ.
Tôi quỳ một bên gối xuống sàn gỗ bụi bặm, ghé sát mặt đèn pin xuống cách mặt vệt ố chừng vài tấc. Bề mặt gỗ ở khu vực này không hề có lớp bụi xám bao phủ dày như những chỗ khác; thay vào đó, các thớ gỗ co rút lại, nứt nẻ thành những rãnh li ti giòn rụm. Trên bề mặt vệt màu cánh gián ấy, tôi nhìn thấy rõ ba vết cào sâu hoắm, sắc lẹm, cày xới lớp vỏ gỗ lim thành những đường rãnh trắng bợt nay đã xỉn màu.
Dấu vết của một sự giãy giụa tuyệt vọng. Những ngón tay của người phụ nữ trong đêm mưa gió năm nào đã bấu chặt lấy sàn nhà này trước khi trút hơi thở cuối cùng.
Một mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi tôi. Không phải là mùi rỉ sét của tôn lá, cũng không phải là mùi tanh của rêu xanh mé hồ, mà là mùi tanh nồng đặc trưng của huyết khí khô đặc, một thứ mùi đã ngấm sâu vào cốt tủy của gỗ lim suốt gần một thập kỷ, chỉ chờ luồng hơi ấm từ cơ thể người sống đến gần là lập tức thức tỉnh, bốc lên ngùn ngụt.
Cơn ớn lạnh đột ngột ập đến, chạy dọc từ đốt sống cụt lên tận chân tóc gáy tôi. Toàn bộ da gà trên hai cánh tay tôi dựng đứng, lỗ chân lông co thắt lại dưới lớp áo bảo hộ.
Giác quan của một kẻ thức đêm nhiều tuần mách bảo cho tôi biết rằng có thứ gì đó đang ở rất gần. Không phải ở sau lưng, cũng không phải ở dưới chân cầu thang.
Nó ở ngay phía trên đỉnh đầu tôi.
Tôi cứng đờ cả người, chiếc xà beng trong tay rung lên bần bật gõ nhẹ vào đầu gối. Tôi nuốt một ngụm nước bọt đặc quánh, khó nhọc ngẩng đầu lên, hướng luồng sáng đèn pin thẳng lên trần nhà.
Ngay phía trên vệt máu khô màu cánh gián, lớp trần vôi rơm kiểu cổ đã sập hoàn toàn từ lúc nào, để lộ ra một khoảng trống hoác thông thẳng lên hệ thống xà gồ mái ngói. Nhưng ở đó không có khoảng trời đêm nào cả.
Toàn bộ khoảng trống trên trần nhà đã bị bịt kín bởi một mạng lưới rễ đa khổng lồ.
Những chùm rễ to bằng bắp chân, đen trùi trũi và ướt át, thọc sâu qua lớp ngói âm dương vỡ nát, rủ thẳng xuống lòng căn gác xép. Chúng buông thõng xuống ngay sát đỉnh đầu tôi, chỉ cách chỏm mũ bảo hộ chưa đầy hai gang tay. Đầu mút của những sợi rễ phụ tua tủa như những sợi dây thừng bện bằng gân thịt, đung đưa rất khẽ theo nhịp thở của chính tôi.
Tôi nín thở, lia vệt sáng đèn pin rà dọc theo chùm rễ đa rủ thấp nhất.
Và ngay giữa chạc ba của nhánh rễ phụ xù xì, vỏ cây màu nâu xám đã biến dạng, cuộn chặt lấy một vật thể lạ bằng kim loại.
Đó là một chiếc cúc áo kim loại cũ kỹ.
Chiếc cúc tròn dẹt, kích thước chừng bằng đồng xu một hào ngày trước, bề mặt đã xỉn màu đồng hun pha sắc xanh ten rỉ sét. Các thớ rễ đa non đã bò trườn, đâm xuyên qua hai lỗ xỏ chỉ của chiếc cúc, siết chặt lấy nó, nuốt trọn một nửa thân cúc vào bên trong lớp vỏ gỗ xù xì như một cái miệng đang ngậm chặt lấy tang vật của quá khứ.
Ánh sáng đèn pin phản chiếu lên cạnh kim loại chưa bị rỉ sét hết của chiếc cúc áo, ánh lên một tia sáng lạnh buốt. Kiểu dáng của chiếc cúc bằng kim loại dập nổi hình hoa cúc cách điệu này hoàn toàn thuộc về loại cúc áo khoác nữ thịnh hành vào những năm cuối thập niên chín mươi.
Chiếc cúc áo bị giật đứt trong cơn vật lộn sinh tử của người vợ trẻ. Khi người ta mang thi thể đi, khi hiện trường bị niêm phong rồi bỏ hoang theo thời gian, chiếc cúc áo văng vào góc tường mục nát này đã không nằm yên dưới lớp bụi.
Hệ thống rễ của cây đa mọc trên nóc nhà đã tìm đến nó. Cây đa cổ thụ không chỉ hút nước mưa và mùn rác của trời đất; những chiếc rễ đen đúa kia đã xuyên qua trần ngói, rủ thẳng xuống vị trí chuẩn xác nơi máu của người phụ nữ đã thấm đẫm vào sàn gỗ lim. Nó đã vươn những ngón tay bằng gỗ mục ra, nuốt lấy từng mảnh tàn tích của vụ án mạng, kẹp chặt chiếc cúc áo rỉ sét ấy vào trong thân xác của mình như một cách níu giữ nỗi oan khiên không cho tiêu tán.
Một giọt nước từ đầu mút của rễ đa bất ngờ rơi xuống.
"Tách."
Giọt nước lạnh ngắt rơi trúng mu bàn tay đang cầm đèn pin của tôi. Tôi giật bắn người, luồng ánh sáng chao đảo trên vách tường loang lổ.
Tôi nhìn xuống mu bàn tay mình. Giọt nước không trong suốt, mà mang một màu nâu sẫm, nhớp nháp và bốc lên mùi ngai ngái khó chịu - y hệt như giọt chất lỏng bí ẩn từng rơi thủng tờ bản vẽ trắc địa của kỹ sư Huy chiều hôm trước.
Sự liên kết rùng rợn giữa hai bi kịch bỗng chốc hiện rõ mồn một trong tâm trí tôi. Dưới ngực áo tôi là nửa chiếc lược sừng kẹp lọn tóc của cô Ba - người phụ nữ đã treo cổ trên cành đa non ở tầng áp mái từ nửa thế kỷ trước. Còn ngay trên đỉnh đầu tôi, chùm rễ phụ của chính cây đa ấy lại thọc sâu xuống căn gác xép này, ngậm chặt chiếc cúc áo từ vụ thảm sát kinh hoàng năm 1999.
Cây đa không đơn thuần là một thực vật tầm gửi mọc hoang dã do chim trời phóng uế thả hạt. Bộ rễ khổng lồ của nó giống như một mạng lưới gân máu khổng lồ, đã cắm sâu vào từng vết thương của ngôi nhà số 138 Hàng Trống. Nó hút lấy sự phẫn uất của người phụ nữ bị phụ bạc ở tầng trên, rồi lại vươn xúc tu xuống cắn chặt lấy nỗi oan khuất của người vợ bị sát hại ở tầng dưới. Nó biến cả ngôi nhà cổ thành một cái lồng giam giữ những linh hồn không thể siêu thoát.
Tiếng gió ngoài phố Hàng Trống bỗng rít lên một hồi sắc lẹm.
Từ phía trên trần nhà, ngay nơi chùm rễ đa đang bám rễ, vang lên những tiếng răng rắc khô khốc. Khối rễ khổng lồ dường như đang co siết lại dưới sức nặng của tán lá ngoài trời giông gió. Mái ngói cọt kẹt rung lên từng hồi, từng mảng vữa trần mủn ra, rơi lả tả xuống sàn gỗ lim, văng trúng bả vai tôi rát buốt.
Tôi lùi lại một bước, rồi thêm một bước nữa, mắt không rời khỏi chiếc cúc áo kim loại đang bị rễ cây kẹp chặt.
Nếu đội thi công của công ty cứ thế đưa máy móc vào giằng néo thân cây đa, hoặc cố tình phá dỡ phần khung nhà bên dưới mà chưa xử lý khối rễ phụ đang bám chặt vào cấu trúc căn gác này, toàn bộ hệ thống mái ngói và các bức tường nứt nẻ sẽ sụp đổ dây chuyền. Hơn thế nữa, những nhánh rễ phụ này đã mọc trườn qua khe tường sổ, vươn dài xuống tận mặt tiền số 138 Hàng Trống, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của bất kỳ ai đứng dưới vỉa hè khi dựng giàn giáo.
Sự tồn tại của những chùm rễ phụ này không chỉ là mối nguy hiểm về mặt kết cấu kỹ thuật, mà còn là chiếc neo giữ chặt lấy tất cả những u uất, ma quái đang bủa vây lấy công trường.
Tôi quay ngoắt người lại, bước thoăn thoắt về phía cửa vòm. Mỗi bước chân tôi hạ xuống sàn gỗ lim lúc này đều dứt khoát và gấp gáp. Tôi không nhìn lại vệt ố màu cánh gián dưới chân nữa, nhưng mùi tanh nồng của huyết khí và mùi phấn nụ nồng nặc vẫn bám riết lấy gấu áo tôi suốt chặng đường xuống cầu thang.
Từng bậc gỗ lim lại rên rỉ dưới chân tôi, nhưng lần này tôi không còn do dự. Tôi nhảy phắt qua ba bậc cuối cùng, đáp xuống nền gạch hoa xi măng tầng trệt. Cây xà beng ngắn dắt lại vào thắt lưng, tôi đẩy tung cánh cửa gỗ lim nặng nề, lao ra ngoài khoảng sân hoang tàn ngập gió.
Bầu trời phía trên hồ Hoàn Kiếm đã chuyển dần từ màu đen kịt sang sắc xám tro của rạng đông. Sương mù từ mặt nước hồ bốc lên, tràn qua dải lan can đá, bảng lảng bao phủ lấy mặt phố Hàng Trống còn vắng bóng người. Tháp Rùa phía xa chỉ còn là một bóng đen mờ ảo nổi bồng bềnh giữa làn sương lạnh.
Gió sớm thổi tạt vào mặt làm tôi bừng tỉnh sau cơn ngột ngạt dưới căn gác xép. Tôi đưa tay lên sờ túi áo ngực; nửa chiếc lược sừng vẫn nằm yên đó, cứng đờ và lạnh buốt.
Ngoài cổng công trường, tiếng xe tải chở vật liệu bắt đầu gầm rú ngoài đường lớn. Đội thợ lâm sản và ban chỉ huy công trường chắc chắn sẽ có mặt trong vòng một tiếng nữa để khảo sát lần cuối trước khi tiến hành lắp dựng giàn giáo bao che.
Tôi nhìn ngược lên mái nhà số 138. Trong ánh sáng lờ nhờ của buổi sớm mùa đông, cây đa cổ thụ hiện ra sừng sững như một con quái vật khổng lồ đang phục kích trên nóc phế tích. Những nhánh rễ phụ mọc trườn qua các ô văng cửa sổ gác hai, buông thõng xuống vỉa hè như những cánh tay dài ngoằng đang chực chờ vồ lấy người đi đường.
Cần phải hành động ngay lập tức. Không thể để những nhánh rễ phụ ma quái này tiếp tục bám sâu vào căn phòng oan khuất ấy nữa.
Tôi rảo bước về phía lán bảo vệ, mở cuốn sổ nhật ký trực ban đặt trên bàn gỗ ép. Bằng những ngón tay còn vương mùi vôi vữa và vệt nước màu nâu khô ráp, tôi cầm bút bi gai, ghi dồn dập vào trang giấy còn trắng những dòng chữ run rẩy nhưng kiên quyết:
"Yêu cầu ban chỉ huy cho tổ thợ lâm sản cưa tỉa khẩn cấp toàn bộ hệ thống rễ phụ buông xuống mặt tiền và ăn sâu vào mái gác xép ngay trong buổi sáng nay. Nếu không hạ nhánh rễ trước khi bắc giàn giáo, tai nạn chết người chắc chắn sẽ xảy ra."
Tôi gập mạnh cuốn sổ trực lại, ngước mắt nhìn ra rặng rễ đa đen đúa đang đung đưa từng nhịp dữ dội trong luồng gió đông bắc vừa ùa về.