Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 14: Khách Xích Lô Đêm Áo Dài Xanh Xám
Năm giờ ba mươi phút sáng, sương mù từ mặt hồ Hoàn Kiếm dâng lên trắng xóa, tràn qua mặt đường Hàng Trống rồi quẩn quanh quấn chặt lấy chân tường rào tôn…
Nội dung chương
Năm giờ ba mươi phút sáng, sương mù từ mặt hồ Hoàn Kiếm dâng lên trắng xóa, tràn qua mặt đường Hàng Trống rồi quẩn quanh quấn chặt lấy chân tường rào tôn dã chiến. Đèn cao áp vàng vọt phía bờ hồ vẫn chưa tắt, tỏa ra một quầng sáng mờ đục rọi xuyên qua lớp hơi nước dày đặc, biến cảnh vật xung quanh thành một bức tranh thủy mặc nhòe nhoẹt.
Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu trong lán trực, ngón tay mân mê cán chiếc đèn pin ba pin đại bằng vỏ sắt nặng trịch. Bên cạnh chân bàn, cây xà beng ngắn dùng để cạy ván gỗ nằm im lìm trên nền đất nện. Tờ bản vẽ kỹ thuật của Huy vẫn nằm lại trên mặt bàn gỗ ép, góc giấy vẽ gốc đa cổ thụ bị vết ố thẫm màu hình trăng khuyết khoét thủng một mảng lớn giòn vụn. Huy đã rời đi từ trưa hôm qua và không hề quay lại, bỏ lại lời hẹn lấp lửng về việc rà soát hồ sơ địa chính thời thuộc Pháp. Toán thợ hồ của bác Năm cũng chưa ai dám bén mảng tới công trường. Sự im ắng đặc quánh bao trùm lấy toàn bộ khoảng sân gạch vỡ, chỉ có tiếng gió mùa đông bắc rít từng cơn qua kẽ hở tấm tôn chắn đường.
Tôi biết mình không thể chần chừ thêm nữa. Đợt cắm mốc giải tỏa mặt bằng của ban chỉ huy công trường sẽ bắt đầu vào ngày mai. Nếu không tự mình khảo sát không gian bên trong căn nhà số 138 ngay lúc này, tôi sẽ mãi mãi mất đi cơ hội nhìn thấy những gì thực sự tồn tại sau cánh cửa then cài im ỉm kia trước khi những mũi khoan bê tông và xích xe ủi nghiền nát tất cả thành bình địa.
Tôi khoác chiếc áo trấn thủ lót bông mỏng, cài chặt cúc cổ áo để ngăn từng đợt gió bấc buốt lạnh thốc vào người. Tôi cầm chắc chiếc đèn pin, giắt thêm cây xà beng vào thắt lưng rồi bước ra khỏi lán bảo vệ.
Đôi ủng cao su dẫm lên lớp xà bần lạo xạo. Từng bước chân của tôi vang lên cô độc giữa khoảng sân hoang tàn ngập ngụa vôi vữa. Ngước mắt nhìn lên, khối kiến trúc ba tầng của ngôi nhà cổ hiện ra sừng sững trong sương sớm. Tán đa cổ thụ trên nóc gác lửng trông tựa một tổ chim khổng lồ đen đúa, những chùm rễ khí sinh rủ lòng thòng xuống sát mép hiên tầng hai, bất động giữa làn sương lạnh giá.
Tôi tiến lại gần bậc thềm tam cấp dẫn vào cửa chính gian tầng trệt. Những khối đá xanh lát bậc thềm đã bị rễ cây trồi lên làm nứt toác, tạo thành những gờ mấp mô phủ đầy rêu nhớp nháp. Cánh cửa chính bằng gỗ lim hai cánh dày cộp, sơn màu cánh gián nguyên bản nay đã bong tróc từng vệt loang lổ, phơi ra lớp thớ gỗ mốc xám. Giữa hai tay nắm bằng đồng đúc hình đầu sư tử ngậm vòng khuyên là một sợi xích sắt to bản hoen gỉ, khóa chặt bằng một ổ khóa đồng cổ lỗ sĩ phủ đầy bụi vôi.
Hôm qua, trước khi bỏ chạy thục mạng, bác Quý xích lô từng bảo với tôi rằng cánh cửa này đã không ai mở ra kể từ ngày chủ nhà cuối cùng dọn đi vào cuối thập niên chín mươi. Nhưng khi tôi đưa tay chạm vào then cài, sợi xích sắt bỗng lỏng lẻo trượt xuống một nấc. Ổ khóa đồng kia thực chất đã bị cưa đứt chốt ngầm từ bao giờ, chỉ móc hờ vào mắt xích để đánh lừa mắt người qua đường.
Tôi hít một hơi sâu, luồn ngón tay gỡ sợi xích nặng trịch ra khỏi tay nắm. Kim loại hoen rỉ cọ vào nhau phát ra những tiếng ken két chói tai, rụng xuống mu bàn tay tôi từng mảng mạt sắt nâu đỏ tanh nồng.
Tôi đặt hai bàn tay lên bề mặt gỗ lim lạnh buốt, dồn lực toàn thân đẩy mạnh vào trong.
"Kẹtttt... rầm!"
Bản lề rỉ sét rên rỉ một chuỗi âm thanh khô khốc xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm. Cánh cửa nặng nề chuyển động từng tấc một, quét qua lớp cát bụi trên sàn gạch hoa tạo thành hai vệt hình cánh quạt sâu hoắm. Một luồng khí tù hãm, ẩm lạnh từ sâu trong lòng phế tích lập tức ùa ra, phả thẳng vào mặt tôi.
Đó là thứ mùi hỗn tạp đặc trưng tích tụ qua hàng chục năm của một chốn đô thị cổ kính bị lãng quên: mùi ẩm mốc ngàn năm của những bức tường vôi rơm mục nát, mùi bụi xi măng phong hóa, mùi rêu ẩm bám trên chân móng đá hộc, xen lẫn mùi hăng hắc của phân chuột và gỗ mục.
Thế nhưng, át hẳn lên trên những thứ xú uế trần tục ấy lại là một làn hương hoa đại thoang thoảng vương vít trong không gian. Mùi hương thanh khiết, ngòn ngọt nhưng ai oán kỳ lạ, phảng phất như thứ hương thơm từng tỏa ra từ dải áo dài của người phụ nữ lạ mặt trên chuyến xích lô đêm hôm nào.
Tôi bấm công tắc đèn pin. Luồng ánh sáng vàng đục rọi thẳng vào bóng tối mịt mùng phía trước, xé tan màn sương ẩm đang lởn vởn bên trong gian phòng khách rộng lớn.
Tôi nhấc chân bước qua bậu cửa gỗ cao ngang bắp chân, chính thức đặt bước chân đầu tiên vào lòng căn nhà số 138 Hàng Trống.
Dưới gót ủng cao su, lớp vôi vữa vụn nát và rác rưởi tích tụ qua năm tháng vỡ vụn tanh tách. Gian phòng khách tầng trệt rộng chừng bốn mươi mét vuông, trần nhà cao vút theo đúng lối kiến trúc biệt thự Pháp cổ đầu thế kỷ hai mươi. Những thanh xà gồ bằng gỗ lim to bản chạy ngang trần nhà đều đã chuyển sang màu đen kịt vì khói bếp và ẩm ướt. Từng mảng trần vôi rơm tróc lở từng mảng lớn, để lộ ra những nan tre đan chéo chằng chịt rủ xuống lòng thòng như những chiếc xương sườn mục nát của một con thú khổng lồ thời tiền sử.
Tôi rọi đèn pin men theo bốn bức tường. Lớp sơn vàng vôi đặc trưng của Hà Nội xưa nay đã bị rêu xanh và nấm mốc đen kịt xâm lấn gần hết. Những vết nứt to tướng ngoằn ngoèo xé dọc bức tường phía tây, nơi tiếp giáp với gốc đa khổng lồ bên ngoài. Đáng sợ nhất là những sợi rễ phụ của cây đa cổ thụ đã tìm đường chui qua các kẽ nứt ấy, đâm xuyên qua lớp vôi vữa dày cộp, bò ngoằn ngoèo trên mặt tường trong nhà tựa như những đường gân máu khổng lồ màu xám tro đang bám chặt lấy khung xương của công trình để hút cạn chút sinh khí tàn tàn còn sót lại.
Giữa sàn nhà, rải rác những mảnh vỡ của một bộ bàn ghế salon kiểu cổ bằng gỗ tạp đã mục ruỗng, vải bọc rách tơi tả trơ cả lớp lò xo gỉ sét cong queo. Những mảnh bát đĩa men lam vỡ vụn, vài mẩu báo cũ ố vàng từ năm một chín chín tám dính bết vào nền gạch hoa Bát Tràng tráng men nứt rạn. Tôi bước chậm từng bước một, cẩn trọng tránh những chiếc đinh gỉ nhô lên từ các thanh gỗ mục rải rác trên sàn.
Càng tiến sâu vào bên trong, luồng không khí ẩm buốt càng xiết chặt lấy da thịt tôi. Đi hết gian phòng khách, trước mắt tôi mở ra một hành lang hẹp dẫn về phía giếng trời phía sau căn nhà.
Khu vực giếng trời chính là khoảng thở hiếm hoi của khối kiến trúc ống dài dặc này. Từ đây nhìn ngược lên, tôi có thể thấy một khoảng trời xám xịt của buổi sớm Hà Nội lọt qua ô thông tầng hun hút. Những sợi rễ đa rủ từ mép gác hai lòng thòng giữa không trung giếng trời như một tấm rèm ma quái đung đưa nhè nhẹ theo từng luồng gió bấc luồn qua kẽ ngói. Dưới đáy giếng trời, một bể nước cạn trơ đáy phủ đầy lá khô mục ruỗng và những cánh hoa đại trắng ngà đã héo úa rụng đầy quanh miệng bể. Thì ra mùi hương hoa đại u uất kia bắt nguồn từ một nhánh cây đại khẳng khiu mọc chen chúc nơi vách tường ngăn với số nhà 136 bên cạnh, vươn những cành trơ trụi vào khoảng trống này.
Cảnh tượng hoang phế đến rợn người khiến từng thớ cơ trên cơ thể tôi căng cứng. Cảm giác có ai đó đang theo dõi mình từ các góc tối u uất lại trỗi dậy dữ dội. Tôi lia đèn pin xung quanh, tự nhủ rằng đây chỉ là phản xạ tâm lý tự nhiên của con người khi bước vào một không gian khép kín đã bỏ hoang quá lâu năm.
Tôi quay trở lại gian phòng khách, quyết định kiểm tra kỹ khu vực trung tâm trước khi tìm đường tiếp cận hệ thống cầu thang dẫn lên các tầng trên.
Ngay tại bức tường phía đông của phòng khách, đối diện với vách nứt nơi rễ đa xâm lấn, một chiếc lò sưởi kiểu Pháp đồ sộ vẫn đứng sừng sững. Khác với sự tàn tạ xung quanh, bệ lò sưởi này được ốp bằng những phiến đá cẩm thạch xám vân mây dày dặn, chạm khắc hoa văn dây lá uốn lượn tinh xảo theo phong cách Tân cổ điển. Họng lò sưởi sâu hoắm, đen ngòm như một cái miệng khổng lồ đang há hốc trong bóng tối, bên trong đọng lại một lớp tro xỉ than dày cộp ẩm ướt đã đóng thành tảng qua nhiều thập kỷ không hề đỏ lửa.
Tôi bước lại gần bệ lò sưởi, luồng ánh sáng đèn pin quét qua bề mặt đá cẩm thạch. Mạng nhện xơ xác giăng kín từ góc lò sưởi lên tận phào chỉ tường, kết thành những màng xám đùng đục bám đầy bụi vôi lơ lửng.
Tôi đưa tay gạt nhẹ một góc mạng nhện phủ trên mặt bệ đá. Dưới lớp bụi mịn tích tụ qua gần chục năm bỏ hoang, một vật thể nhỏ bé, nằm khuất trong góc sâu sát mép tường bỗng bắt sáng lấp lánh dưới ánh đèn pin.
Tim tôi đập mạnh một nhịp. Tôi ghé sát mặt lại, rọi thẳng luồng ánh sáng vàng đục vào góc đá cẩm thạch.
Nằm im lìm trong đám mạng nhện và tro bụi là một chiếc lược bí cổ xưa.
Chiếc lược được chế tác bằng sừng trâu đen bóng, bản nhỏ với những chiếc răng lược dày khít nhau đều tăm tắp, loại lược mà phụ nữ Hà Nội thời kỳ trước thập niên năm mươi hay dùng để chải tóc sâu và vuốt nếp tóc huyền. Nhưng chiếc lược này đã bị gãy đôi ngay chính giữa thân, mép gãy lởm chởm để lộ ra những thớ sừng già màu nâu hổ phách.
Một sự việc bất thường đập ngay vào mắt tôi khiến sống lưng tôi bỗng chốc lạnh toát.
Kẹp chặt giữa những chiếc răng sừng dày đặc của nửa chiếc lược gãy là một lọn tóc dài.
Đó là một lọn tóc đen tuyền, bóng mượt lạ thường, cuộn tròn vài vòng quanh thân lược rồi buông dài một đoạn chừng hai gang tay rũ xuống mặt bệ đá. Dưới lớp bụi bặm xám xịt và vôi vữa bong tróc của căn nhà hoang phế cả chục năm trời, lọn tóc ấy không hề bị mục rữa, không hề vướng một hạt bụi bẩn nào. Từng sợi tóc óng ánh, mềm mại như thể vừa mới được chải ra từ mái đầu của một người phụ nữ còn đang sống khỏe mạnh cách đây chỉ vài phút.
Đôi bàn tay tôi run rẩy khi thò ra khỏi tay áo trấn thủ. Tôi cẩn trọng đưa hai ngón tay chạm khẽ vào thân chiếc lược sừng. Chất liệu sừng trâu lạnh buốt như băng, truyền một cảm giác tê dại chạy dọc từ đầu ngón tay lên tận bả vai tôi.
Tôi nhấc nửa chiếc lược gãy lên khỏi bệ đá cẩm thạch. Lọn tóc dài trượt nhẹ trên mặt đá hoa cương, mềm mượt đến mức khiến da gà tôi nổi rợp khắp hai cánh tay.
Ngay khi chiếc lược được nâng lên khỏi lớp tro bụi, một mùi hương phấn nụ nồng nàn pha lẫn mùi dầu dừa cổ xưa lập tức bốc lên ngùn ngụt, xộc thẳng vào cánh mũi tôi. Đó chính xác là thứ mùi hương đã bao trùm lấy khoang xe xích lô của bác Quý trong đêm mưa phùn, thứ mùi hương đã lướt qua sống mũi tôi nơi lán trực hoang tàn.
Chiếc lược bằng sừng này... lọn tóc không hề phân hủy này...
Lời đồn đại trên các diễn đàn mạng về thiếu phụ tên Mai thắt cổ tự vẫn trên chạc cây đa non sau khi bị phụ bạc bỗng ùa về rõ mồn một. Người ta từng kể rằng trước khi tìm đến cái chết trên nóc căn nhà này vào những năm năm mươi đầy biến động, cô Ba đã ngồi trước lò sưởi chải mái tóc dài óng mượt của mình suốt một đêm ròng, vừa chải vừa khóc cho số phận hẩm hiu bị gia đình từ mặt. Liệu đây có phải là kỷ vật sót lại từ người phụ nữ bạc mệnh ấy, hay là tàn tích của một bi kịch khác chìm sâu trong bóng tối thời gian?
Bỗng nhiên, từ khoảng tối hun hút trên trần nhà, ngay phía trên đầu tôi vang lên một tiếng động lạ.
"Cọt kẹt... cọt kẹt..."
Đó là tiếng bước chân dẫm lên sàn gỗ mục.
Âm thanh chậm rãi, nặng nề, phát ra từ khu vực gác xép u tối nằm ngay phía trên gian phòng khách. Từng nhịp bước chân di chuyển rất khẽ, nhưng rõ mồn một giữa sự câm lặng tuyệt đối của ngôi nhà cổ. Tiếng gỗ lim cọ xát vào nhau, tiếng xà gồ cọt kẹt rên rỉ dưới một sức nặng vô hình nào đó đang đi đi lại lại trên đầu tôi.
Tôi đứng chết trân bên bệ lò sưởi, một tay cầm đèn pin soi ngược lên trần, tay kia siết chặt nửa chiếc lược sừng kẹp lọn tóc dài. Luồng ánh sáng đèn pin chỉ soi tới những thanh nan tre mục nát và những chùm rễ đa đen đúa bò lan trên trần vôi, hoàn toàn không thấy được gì ở tầng trên.
Tiếng bước chân trên sàn gỗ đột ngột dừng lại ngay mép trần thông với chân cầu thang góc nhà.
Sau đó là một khoảng lặng kéo dài đến nghẹt thở. Tôi nghe rõ cả tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng gió bấc thổi rít qua khe cửa vỡ ngoài mặt đường Hàng Trống.
Dưới ánh đèn pin rung rinh trong tay tôi, lọn tóc đen kẹp trên chiếc lược sừng bỗng khẽ đung đưa qua lại, mặc dù luồng gió mùa đông bắc ngoài kia không thể nào thổi sâu tới tận góc lò sưởi kín gió này. Từng sợi tóc óng ả lay động nhè nhẹ như đang được một bàn tay vô hình nào đó chải chuốt.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng xuống cổ họng khô khốc. Cảm giác sợ hãi tột cùng đang đấu tranh quyết liệt với sự tò mò bức bách trong tâm can tôi. Nếu bây giờ tôi quay đầu bỏ chạy ra ngoài cánh cửa lớn, lao về lán bảo vệ an toàn, tôi sẽ vĩnh viễn sống trong nỗi ám ảnh không lời đáp.
Tôi cẩn thận nhét nửa chiếc lược sừng cùng lọn tóc vào túi áo trong của chiếc áo trấn thủ, cài chặt cúc áo lại. Kỷ vật của người phụ nữ trong quá khứ nằm áp sát vào ngực tôi, lạnh ngắt như một tảng băng nhỏ đè nặng lên tim.
Tôi rút cây xà beng ngắn dắt bên thắt lưng ra, cầm chắc trong tay trái, tay phải giơ cao chiếc đèn pin rọi về phía góc sâu tăm tối nhất của gian phòng khách.
Ở đó, khuất sau một bức vách ngăn bằng gỗ dán mục nát, hệ thống cầu thang gỗ lim kiểu cổ hiện ra lờ mờ. Những bậc thang hẹp và dốc đứng, lan can tiện hoa văn uốn lượn đã gãy rụng non nửa, phủ đầy một lớp bụi vôi trắng xóa. Những rễ đa phụ to bằng bắp tay từ trên gác lửng thọc sâu xuống, quấn chặt lấy tay vịn cầu thang như những con trăn khổng lồ đang nằm phục kích trong bóng tối.
Tiếng cọt kẹt ban nãy dường như phát ra từ chính những bậc thang trên cùng dẫn lên căn gác xép u tối.
Tôi hít một hơi thật sâu, dằn nén nỗi run rẩy trong từng khớp xương, rồi nhấc chân bước từng bước nặng nề về phía chân cầu thang gỗ lim ọp ẹp.