Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 4: Lời Thì Thầm Bên Quán Trà Đá
Sáu giờ sáng, tiếng chuông đồng hồ từ Bưu điện Hà Nội bên kia hồ Hoàn Kiếm ngân dài qua làn sương mỏng, từng hồi chuông thong thả xua tan bớt màn đêm đặc…
Nội dung chương
Sáu giờ sáng, tiếng chuông đồng hồ từ Bưu điện Hà Nội bên kia hồ Hoàn Kiếm ngân dài qua làn sương mỏng, từng hồi chuông thong thả xua tan bớt màn đêm đặc quánh bám riết lấy khu công trường.
Tôi mở chốt sắt rỉ sét của cánh cửa tôn, bước ra ngoài vỉa hè đường Hàng Trống. Hơi lạnh phả lên từ mặt nước hồ mang theo vị tanh nồng của rong rêu và mùi ẩm mốc đặc trưng của phố cổ khi vừa bước vào cữ giao mùa. Phía ngoài hàng rào tôn quây kín công trường, nhịp sống ban mai của thủ đô năm 2006 đã bắt đầu cựa mình. Vài người cao tuổi mặc áo khoác len sờn vai đang đi bộ thể dục vòng quanh Bờ Hồ, bước chân đều đặn trên những viên gạch lát vỉa hè loang lổ vết lá đa rụng. Tiếng chuông xe đạp lách cách hòa lẫn tiếng xích líp khô dầu của mấy chiếc xích lô chờ khách đầu ngày.
Cái sáng sủa bình dị của phố xá ngoài kia đối lập gay gắt với sự u ám rợn người đang giam hãm số nhà 138 sau lưng tôi. Mắt tôi cay xè vì một đêm thức trắng. Vệt thòng lọng hằn sâu trên chạc ba cây đa và dòng chữ ghi chú bằng mực tím cuối tờ biên bản - "Nhà có tiếng khóc oán, không ai trụ nổi" - vẫn bám riết lấy từng nếp nghĩ, khiến cổ họng tôi khô khốc và hai thái dương giật từng cơn nhức buốt.
Tôi cần một ngụm trà nóng để kéo lại chút hơi ấm cho cơ thể đang lạnh ngắt.
Ngay góc ngã ba Hàng Trống giao với mép phố nhìn sang đền Ngọc Sơn, dưới bóng một gốc xà cừ già, có một quán trà đá vỉa hè vừa mới dọn hàng. Quán mộc mạc đúng kiểu Hà Nội xưa: một chiếc bàn gỗ con kê trên mấy viên gạch vồ, chục chiếc ghế nhựa thấp màu xanh đỏ xếp vòng quanh, chiếc điếu cày bằng tre bóng loáng nước đồng cùng một ấm tích bọc trong bao rơm ủ ấm.
Chủ quán là ông Thụ, một người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi, tóc bạc hoa râm cắt ngắn, sống ở con ngõ nhỏ thông sang phố Bảo Khánh từ thuở còn để chỏm.
Tôi bước tới, kéo một chiếc ghế nhựa thấp ngồi nép vào góc hiên có tấm bạt che chắn gió lạnh.
- Cho cháu một chén trà nóng với điếu thuốc, bác Thụ.
Ông Thụ liếc nhìn tôi. Ánh mắt từng trải của người già phố cổ dừng lại trên bộ đồng phục bảo vệ sờn vai còn vương đầy bụi vữa và mạng nhện của tôi. Ông không vội rót trà, cầm chiếc kẹp tre gắp vài chiếc chén hạt mít nhúng vào âu nước sôi tráng qua một lượt, đoạn lắc đầu bảo:
- Thức trắng đêm trong cái bốt tôn ấy à? Mặt mày xám ngoét như người ngâm nước thế kia, trông hốc hác quá đấy chú em.
- Công việc mà bác. Ban đêm gió hồ thổi thốc vào khe tôn lạnh quá, cháu không chợp mắt nổi - Tôi đáp, cố gắng nở một nụ cười gượng gạo để che giấu sự bất an đang đè nặng lồng ngực.
Chiếc ấm tích rót ra thứ nước trà xanh đậm đặc sánh màu cánh gián, khói bốc lên nghi ngút mang theo vị chát ngọt quen thuộc của chè búp Thái Nguyên. Tôi bưng chén trà bằng cả hai tay, áp lòng bàn tay vào thành sứ nóng rẫy để tìm lại chút cảm giác ở các đầu ngón tay đang tê dại. Ngụm trà đầu tiên trôi qua cuống họng, đắng chát nơi đầu lưỡi rồi đọng lại vị ngọt hậu sâu thẳm, làm tan bớt luồng khí lạnh ngưng tụ trong người suốt mười hai tiếng trực đêm.
Lúc này quán chưa có khách nào khác. Mặt hồ Hoàn Kiếm phía trước mờ ảo dưới lớp sương sớm, tháp Rùa lấp ló giữa những vạt sương mỏng như một nét vẽ cổ kính bằng mực tàu.
Tôi đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ, mắt vờ nhìn về phía ngọn cây đa khổng lồ đang trùm kín nóc ngói số nhà 138, rồi cất giọng hỏi thăm dò:
- Bác Thụ này, cháu mới từ quê lên nhận trông cái công trường phá dỡ kia được ít hôm. Thấy người ta bảo mảnh đất này thuộc diện đất vàng, vị trí đẹp nhìn thẳng ra Bờ Hồ thế này mà sao lại để hoang phế cả mấy chục năm trời? Đêm hôm ngồi gác, gió thổi rễ cây cọ vào mái ngói nghe rợn cả người.
Bàn tay đang cầm chiếc điếu cày của ông Thụ bỗng khựng lại. Ông ngước mắt nhìn qua vai tôi, hướng về phía ngôi nhà cổ đang bị rào kín bởi những tấm tôn xám xịt. Đôi lông mày bạc của ông chau lại, khóe miệng giật nhẹ. Ông đặt chiếc điếu cày dựa vào chân bàn, với tay lấy chiếc quạt nan phẩy vài cái đuổi ruồi, rồi hạ thấp giọng xuống mức chỉ vừa đủ hai người nghe thấy:
- Cậu trẻ gan to đấy. Nhận tiền công bao nhiêu một đêm mà dám đâm đầu vào cái chỗ ấy gác cửa? Dân sống quanh cái hồ này, từ trẻ con đến mấy lão xích lô chạy đêm, chẳng ai lạ gì cái dốc nhà 138. Ban ngày người xe tấp nập thì không sao, chứ qua mười một giờ đêm, có các vàng người ta cũng né cái vỉa hè đoạn ấy ra.
Tôi ghé sát người lại gần mặt bàn, hai mắt chăm chú nhìn vào nét mặt trầm ngâm của ông lão:
- Đêm qua cháu lật xem hồ sơ cũ trong bốt gác, thấy bảo từ cuối thập niên chín mươi đến giờ có ba đời chủ vào ở, nhưng không ai trụ nổi quá nửa năm. Người thì tán gia bại sản, người thì thắt cổ, người thì gặp nạn cướp của giết người. Chuyện ấy là thật hả bác?
- Thật chứ còn giả gì nữa! - Ông Thụ thở dài một tiếng sườn sượt, giọng trầm đục pha lẫn vẻ u uất - Ba cái vụ ấy là chuyện mới xảy ra chục năm trở lại đây thôi. Người đời cứ nhìn vào ba vụ ấy rồi bảo mảnh đất dính dớp làm ăn lụi bại. Nhưng cái dớp ấy từ đâu mà ra? Nó bắt rễ từ hơn nửa thế kỷ trước kia, từ cái thời Tây chuẩn bị rút khỏi Hà Nội, khi cái cây đa trên nóc nhà kia còn chưa bằng bắp chân người lớn.
Trái tim tôi đập mạnh một nhịp. Manh mối về vết siết thòng lọng trên chạc ba cây đa mà tôi nhìn thấy đêm qua đang dần hé mở qua lời kể của nhân chứng sống.
- Hơn nửa thế kỷ trước? Có phải là chuyện về người phụ nữ tên Mai không bác? - Tôi sốt sắng gặng hỏi.
Ông Thụ giật mình, đôi mắt đục mờ mở to nhìn xoáy vào tôi:
- Cậu cũng nghe phong phanh chuyện cô Mai rồi à? Đúng đấy, dân phố cổ gốc người ta gọi là cô Mai, có người lại gọi là cô Ba. Chuyện xảy ra đâu tầm đầu năm 1954, trước giải phóng thủ đô mấy tháng. Khi ấy căn nhà 138 là cơ ngơi buôn bán sầm uất của một gia đình tiểu tư sản có tiếng trên phố Hàng Trống. Cô Mai là con gái thứ ba trong nhà, nhan sắc nề nếp, đàn ngọt hát hay, bao nhiêu đám môn đăng hộ đối dòm ngó.
Ông lão với lấy bao thuốc lá Thăng Long, rút ra một điếu rồi châm lửa. Đốm lửa đỏ bập bùng soi rõ những nếp nhăn chằng chịt nơi khóe mắt ông. Khói thuốc xanh mờ bay lên, cuộn tròn trong không khí lạnh giá của buổi sớm.
- Nhà gia giáo nghiêm ngặt là thế, nhưng cô ấy lại vướng vào lưới tình với một gã công tử hào hoa theo học trường Tây. Gã này ăn nói dẻo như kẹo kéo, hẹn thề non biển rồi làm cho cô Mai mang bầu. Đến khi cái bụng bắt đầu lùm lùm sau tà áo dài, gã nhân tình kia liền trở mặt, cuốn gói theo gia đình di cư vào Nam, để lại cô gái trẻ một mình đối mặt với búa rìu dư luận. Thời bấy giờ, cái chuyện chửa hoang là nỗi nhục nhã tày đình của cả một dòng họ danh giá.
Giọng ông Thụ chùng xuống, chậm rãi và nặng trĩu:
- Ông ba cô Mai là người cực kỳ cổ hủ và gia trưởng. Khi biết chuyện, ông ta nổi lôi đình, coi đứa con gái ruột như rác rưởi làm hoen ố gia phong. Gia đình cạn tình xua đuổi, nhốt cô ấy trên căn gác xép ẩm thấp, cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài, hàng ngày chỉ cho người đưa lên lưng bát cơm nguội chan nước mắm. Người ta đồn rằng ông ba còn ép cô ấy phải uống thuốc phá thai để giữ thể diện cho gia đình đi hỏi mối khác, nhưng cô Mai sống chết bảo vệ đứa bé trong bụng.
- Rồi sao nữa bác? Đêm hôm ấy đã xảy ra chuyện gì? - Tôi nín thở hỏi, hình ảnh dải vải xanh xám mục nát dính trên chạc ba cây đa đêm qua lại hiện rõ mồn một.
- Uất ức, tuyệt vọng, người tình phản bội, gia đình ruồng bỏ - Ông Thụ nhả một ngụm khói thuốc đặc quánh - Trong một đêm mưa phùn gió bấc cuối đông rét buốt thấu xương, cô Mai cạy then cửa gác xép, lén trèo qua ô cửa sổ áp mái để bước lên nóc nhà. Bụng mang dạ chửa sáu tháng, cô ấy mặc chiếc áo dài màu xanh xám nhạt, mang theo một sợi dây thừng bện bằng xơ dừa. Trên góc mái ngói phía sau máng xối lúc bấy giờ có một mầm đa non mới mọc, thân nó chỉ to bằng cổ tay, chạc cây vừa vặn để tròng một chiếc thòng lọng.
Ông Thụ dừng lại, nhấp một ngụm trà đặc để nén tiếng thở dài.
- Cô ấy thắt cổ ngay trên chạc cây đa ấy. Đến sáng hôm sau, người nhà mở cửa gác xép không thấy con đâu, nhìn lên mái ngói thì xác người đã đung đưa vắt vẻo trên nóc nhà từ bao giờ. Hai mắt mở trừng trừng nhìn xuống lòng đường, tà áo dài xanh ướt đẫm nước mưa phùn bết chặt vào thân thể lạnh ngắt. Đứa con trong bụng cũng chết theo mẹ. Người ta bảo, người chết mang thai oan ức ngút trời, hồn phách không chịu đi đầu thai mà hóa thành thứ quỷ dữ bám chặt lấy nơi mình trút hơi thở cuối cùng.
Cơn gió từ mặt hồ thổi tạt vào quán nước làm tấm bạt che rung lên phần phật. Tôi rùng mình, hai cánh tay nổi rộp da gà. Vết siết thòng lọng sâu hoắm trên thân cây đa mà tôi tận mắt chứng kiến đêm qua quả nhiên là dấu tích của cái chết thảm khốc này. Sức nặng của một thi thể mang thai treo lơ lửng nhiều ngày đêm đã hằn sâu vào thớ gỗ non tơ, để rồi nửa thế kỷ trôi qua, cây lớn lên vẫn mang theo vết sẹo tử thần ấy.
- Chuyện sau đó thế nào hả bác? Gia đình họ có an táng cho cô ấy đàng hoàng không?
Ông Thụ lắc đầu, khóe mắt lộ vẻ sợ hãi mơ hồ:
- Chôn cất thì có chôn, đưa về nghĩa trang xa tít mù tắp ngoài ngoại ô. Nhưng điều kỳ quái là cái cây đa non kia. Cây đa vốn dĩ do chim trời ăn quả trên rừng rồi bay về hồ Gươm phóng uế nhả hạt xuống máng xối mà mọc lên. Vốn dĩ trên mái ngói khô cằn, gạch đá trơ trọi thì làm gì có đủ dinh dưỡng để một loài cây ăn thịt như cây đa phát triển? Vậy mà sau cái chết của cô Mai, cái cây ấy lớn nhanh một cách dị thường, nhanh đến mức quỷ dị!
Ông lão rướn người về phía trước, hai mắt nhìn trừng trừng vào tôi, giọng thì thào như sợ những bóng ma vô hình trên cành cây nghe thấy:
- Người ta bảo cái xác cô Mai treo ở đấy hai ngày một đêm mới được hạ xuống vì thủ tục thời thuộc địa rườm rà. Nước dịch tử thi và linh khí oán hận của hai mẹ con rỉ ra, ngấm trọn vào phần rễ non đang bám trên máng xối. Cây đa ấy lớn lên nhờ hút linh khí tử thi, hút máu thịt và nỗi oán hờn ngút trời của người phụ nữ mang thai bị bức tử. Rễ của nó đâm toạc mái ngói, luồn qua các kẽ nứt của tường gạch, bao bọc lấy toàn bộ phần xương sống của ngôi nhà. Căn nhà cổ số 138 từ đó không còn là nơi dành cho người sống nữa, nó trở thành cái lồng giam giữ một vong linh đầy thù hận.
- Sau khi cô Mai mất, gia đình ấy có ở đó tiếp không bác? - Tôi hỏi, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi dù trời đang rất lạnh.
- Ở làm sao nổi! - Ông Thụ gõ ngón tay cồm cộp xuống bàn gỗ - Ngay trong tuần đầu tiên sau khi hạ xác, người nhà liên tục nghe thấy tiếng khóc thút thít vọng xuống từ nóc ngói vào đúng canh ba. Tiếng người phụ nữ nỉ non gọi tên đứa con chưa kịp chào đời, tiếng chân bước sột soạt trên những viên ngói máng. Chưa đầy một tháng sau, ông ba phát bệnh thổ huyết rồi qua đời bất đắc kỳ tử. Những người còn lại hoảng sợ quá, bỏ xới bỏ xứ mà đi vào Nam, bán tống bán tháo ngôi nhà cho người khác. Rồi thời cuộc đổi thay, căn nhà qua tay nhiều người, nhưng hễ ai dọn vào ở là y như rằng gặp chuyện chẳng lành.
Một chiếc xe xích lô trờ tới mép vỉa hè. Bác lái xích lô trạc ngũ tuần, mặc chiếc áo gi-lê len cũ kỹ, đầu đội mũ cối, nhảy xuống xe cất tiếng chào:
- Cho chén nước nóng với điếu thuốc lào ông Thụ ơi! Sáng ra khách khứa vắng vẻ quá, rét buốt cả giò.
- Ngồi xuống đây uống chén trà cho ấm người - Ông Thụ với chiếc chén khác rót trà, rồi quay sang nhìn bác xích lô - Đang kể cho chú em bảo vệ công trường 138 nghe chuyện cô Mai ngày xưa. Chú mày chạy xích lô đêm quanh Bờ Hồ mấy chục năm nay, có lạ gì cái chuyện ấy nữa không.
Bác tài xích lô vừa đưa mồi lửa vào nõ điếu cày rít một hơi dài sòng sọc, nghe thấy thế liền giật nảy mình suýt sặc khói. Bác ho sặc sụa vài tiếng, vội vàng xua tay lia lịa:
- Thôi thôi, sáng ngày ra các ông đừng có nhắc đến cái dớp nhà 138 nữa, nghe mà sởn hết cả gai ốc! Đêm rằm tháng bảy năm ngoái tôi vừa dính một vố suýt nữa thì đâm cả xe xuống hồ đây!
Tôi lập tức quay sang phía người lái xích lô, giọng dồn dập:
- Bác cũng từng nhìn thấy hiện tượng lạ ở số nhà 138 sao?
Bác xích lô uống một ngụm trà đặc để lấy lại bình tĩnh, đưa mắt nhìn dáo dác xung quanh lòng đường vắng vẻ rồi hạ giọng kể lại:
- Đêm hôm ấy tôi chở một cuốc khách từ Hàng Buồm về ga Hà Nội lúc hơn một giờ sáng. Lúc đạp xe quay về qua đường Hàng Trống, ngang qua đoạn số 138 thì trời đứng gió, không khí tự nhiên lạnh buốt khác thường. Dưới ánh đèn đường cao áp vàng vọt của Bờ Hồ rọi sang, tôi vô tình ngửa mặt nhìn lên ngọn cây đa trên nóc nhà. Chú mày có tin không, trên cái chạc cây to chìa ra phía vỉa hè, có một bóng người phụ nữ mặc áo dài xanh xám nhạt đang ngồi vắt vẻo, hai chân buông thõng xuống khoảng không!
Bác xích lô rùng mình một cái, miêu tả một cách rành rọt:
- Tóc người đó dài chấm gót, xõa rượi trùm kín cả mặt mũi, tay cầm một chiếc lược gỗ cứ chải từng nhịp, từng nhịp vào mái tóc ướt sũng. Tiếng lược cào vào tóc nghe sột soạt rõ mồn một giữa đêm thanh vắng. Tôi sợ đến mức chết trân tại chỗ, hai chân cứng đờ không đạp nổi bàn đạp. Đúng lúc ấy, người đàn bà trên cành cây từ từ quay mặt xuống nhìn thẳng vào tôi. Phía sau mái tóc đen rũ rượi kia là một khuôn mặt trắng bệch, hốc mắt sâu hoắm rỉ máu, miệng ngoác ra cười không thành tiếng! Tôi vứt cả xe, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng sang mép hồ, đến sáng bạch mới dám nhờ người ra dắt xe về.
Lời kể của người lái xích lô khớp từng chi tiết với những gì tôi đã lượm lặt được từ mẩu dải vải mục dính trên chạc ba cây đa và tiếng cào sột soạt trên mái ngói đêm qua.
Bóng người phụ nữ ngồi chải tóc trên chạc cây đa non. Vong linh thiếu phụ Mai thắt cổ tự vẫn năm 1954, bị mắc kẹt lại trần gian cùng cái cây ký sinh hút máu thịt của chính mình.
- Đấy, chú em thấy chưa? - Ông Thụ nhìn tôi với ánh mắt đầy vẻ lo ngại - Cây đa ấy bây giờ rễ nó đã ăn sâu vào lòng đất, cành lá sum suê che kín cả một góc trời, nhưng bản chất của nó là cây ma, cây quỷ. Nó sống bằng sự oán hận. Người đi xích lô đêm thi thoảng vẫn thấy bóng áo dài trắng lướt qua dưới chân tường, hoặc thấy người ngồi chải tóc trên ngọn cây. Lại có những đêm rằm, khách đi đường còn nhặt được những chiếc lá đa khô rơi trúng đầu, cầm lên xem thì thấy dính đầy những vệt máu tươi đỏ lòm.
Tôi ngồi lặng người trên chiếc ghế nhựa thấp. Cơn buồn ngủ hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự buốt giá chạy dọc theo sống lưng. Câu chuyện của ông Thụ và bác lái xích lô đã giải thích nguồn gốc của cái cây và hình bóng người phụ nữ treo cổ. Nhưng còn người phụ nữ bị cướp sát hại lúc 23 giờ đêm trong vụ án năm 2000 thì sao? Còn tiếng bước chân chạy loạn xạ bên trong nền gạch tầng một và tiếng gõ cửa đòi chồng thảm thiết kia là thế nào?
Căn nhà cổ số 138 Hàng Trống giống như một cái huyệt mộ tập thể chứa đựng nhiều tầng oán khí, nơi những cái chết oan khuất qua các thời kỳ lịch sử chồng chéo lên nhau, bị giam hãm dưới bóng mát quái đản của một tán đa ký sinh khổng lồ.
- Cháu nghe nói đơn vị thi công chuẩn bị cho chặt hạ cây đa để san phẳng mặt bằng - Tôi thăm dò.
Ông Thụ cười khẩy, lắc đầu dứt khoát:
- Chặt à? Ai dám chặt? Mấy năm trước có đội thợ từ bên ngoài vào định đốn cành, vừa vác cưa trèo lên thang thì thang gãy đôi, ngã gãy giò phải đi cấp cứu. Cây đa ấy không chặt bằng sức người được đâu. Đụng vào nó mà không biết cách giải oan, có ngày rước họa vào thân đấy chú mày ạ. Nghe lời lão già này, xin chuyển sang công trường khác mà làm, kiếm đồng tiền mà mất mạng thì không bõ đâu!
Tôi không đáp, chỉ cúi đầu nhìn vào đáy chén trà đã cạn. Những bã chè li ti đọng lại thành một hình thù kỳ dị, trông giống như một cái thòng lọng xoắn ốc.
Tôi rút tờ tiền giấy năm nghìn đồng đặt lên bàn gỗ gửi ông Thụ rồi đứng dậy.
Gió hồ Hoàn Kiếm lại thốc lên từng đợt, xua tan lớp sương sớm trên mặt nước nhưng lại kéo theo những đám mây xám xịt từ phía chân trời tràn về. Bầu trời Hà Nội chuyển sang một màu xám đục ảm đạm báo hiệu một đợt gió mùa đông bắc mang theo mưa phùn rả rích sắp sửa đổ xuống.
Tôi quay đầu nhìn lại số nhà 138 Hàng Trống.
Dưới bầu trời âm u chuẩn bị chuyển mưa, tán đa cổ thụ khổng lồ vươn những nhánh cành gầy guộc, đen đúa lên nền trời xám xịt như những cánh tay ma quái đang vẫy gọi. Chiếc chạc ba có vết thòng lọng hằn sâu ẩn hiện sau những chùm rễ buông rủ xuống tận hiên gác hai. Lời kể của bác lái xích lô về bóng người đàn bà ngồi vắt vẻo chải mái tóc dài ướt sũng giữa đêm rằm cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi như một lời nguyền rủa.
Tối nay, ca trực đêm thứ ba của tôi sẽ bắt đầu giữa một cơn mưa phùn ẩm ướt bao phủ phố cổ. Và tôi biết, khi màn đêm buông xuống trên vỉa hè Hàng Trống vắng ngắt, thứ đang ngồi trên ngọn cây kia sẽ không để tôi được yên.