Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 2: Tán Cây Ký Sinh Trên Nóc Ngói
Cơn lạnh buốt từ sau gáy giật ngược lên đỉnh đầu khiến tôi ngã bật ngửa về phía sau. Chiếc chõng tre kêu lên một tiếng *rắc* khô khốc dưới sức nặng của…
Nội dung chương
Cơn lạnh buốt từ sau gáy giật ngược lên đỉnh đầu khiến tôi ngã bật ngửa về phía sau. Chiếc chõng tre kêu lên một tiếng *rắc* khô khốc dưới sức nặng của thân người. Tôi giơ cao chiếc đèn pin sắt trong tay, ngón tay run rẩy gạt nấc công tắc sáng tối đa, chĩa thẳng luồng sáng vàng vọt lên lỗ thủng han rỉ trên nóc bốt tôn.
Vùng sáng tròn quét qua những mảng xà gồ rỉ sét. Vật thể đen ngòm vừa nhìn chằm chằm vào tôi thực chất là một mắt gỗ mục nằm lẫn giữa búi rễ non, hai vệt nhựa cây sẫm màu chảy dài xuống tạo thành hai rãnh lõm sâu hun hút. Gió ngoài bờ hồ thốc qua khe rào tôn thổi lùa vào bên trong, làm chùm rễ đa nhỏ bằng ngón tay đung đưa qua lại. Dưới khe cửa gỗ lim của ngôi nhà số 138, vệt nước nhờn nhợt tôi nhìn thấy lúc nãy chỉ là dòng nước mưa rỉ từ máng xối tầng trên, cuốn theo bột gạch ba-vanh đỏ quạch chảy tràn xuống thềm xi măng lồi lõm.
Tôi ngồi bệt dưới đất, hai bàn tay chống ngược lên mặt sàn lạnh ngắt, cố hít từng ngụm khí đục ngầu mùi vôi sống để ổn định nhịp thở. Đồng hồ đeo tay chỉ hai giờ mười lăm phút sáng. Tiếng xe máy đêm ngoài đường Đinh Tiên Hoàng thưa dần rồi tắt hẳn, trả lại cho không gian một vẻ tịch mịch nặng nề của khu đất giải tỏa.
Tôi nhặt chiếc đèn pin lên, phủi lớp bụi bám trên ống quần bảo hộ màu xanh công nhân. Lời dặn dò của ông Thắng ban chiều vẫn rành rọt bên tai: đêm đầu tiên trực công trường, dù có bất cứ động tĩnh gì lạ thường cũng phải đi một vòng quanh ranh giới rào tôn, kiểm tra các chốt neo giằng để đề phòng dân xóm liều vào trộm sắt phế liệu. Tôi siết chặt chiếc dùi cùi cao su đeo bên hông, đẩy cánh cửa tôn lẹp bẹp của bốt gác bước ra ngoài sân.
Bầu trời đêm mùa đông Hà Nội đặc quánh một màu tím sẫm nhờ nhờ. Đối diện bên kia đường, mặt nước hồ Hoàn Kiếm phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ bốc hơi sương trắng xóa. Những rặng liễu rủ dọc bờ đê buông rèm im lìm trong sương mù. Trái ngược hoàn toàn với vẻ phong quang bên mép hồ, khoảng sân trước của ngôi nhà số 138 Hàng Trống chìm sâu trong bóng tối quánh đặc. Toàn bộ khu đất rộng hàng trăm mét vuông bị vây kín bởi hàng rào tôn xanh cao quá đầu người, ngăn cách khu phế tích đổ nát với nhịp sống đô thị đang cựa mình ngoài kia.
Tôi rọi đèn pin lên cao. Ánh sáng vàng đục rạch ngang màn đêm, dừng lại trên khối kiến trúc đồ sộ của căn biệt thự kiểu Pháp được xây dựng từ thời thuộc địa. Tường nhà trát vôi màu vàng thổ phủ đầy rêu phong đen đúa, từng mảng vữa lớn bong tróc để lộ ra những hàng gạch chỉ đỏ sẫm xếp so le đã mục nát theo năm tháng. Các khung cửa sổ bằng gỗ lim hình vòm cong vút đều đã mục ruỗng, nan chớp gãy vụn chìa ra ngoài như những chiếc xương sườn gãy của một bộ hài cốt khổng lồ.
Nhưng cảnh tượng khiến người ta lạnh gáy nhất không nằm ở những bức tường nứt nẻ, mà ngự trị ngay trên nóc ngôi biệt thự: một cây đa cổ thụ khổng lồ đang bám chặt lấy toàn bộ phần mái ngói âm dương.
Theo như những kỹ sư bên ban quản lý dự án kể lại hồi chiều, cây đa này không có gốc rễ cắm dưới lòng đất như những loài thực vật thông thường. Nó là một thực thể ký sinh thuần túy, hình thành từ vài chục năm trước khi một con chim ăn hạt đa bên bờ hồ bay qua rồi phóng uế xuống kẽ ngói nứt trên nóc nhà. Hạt giống gặp mùn rác và vôi vữa ẩm ướt đã nảy mầm. Qua năm tháng, loài cây ăn thịt công trình này lớn lên bằng cách thọc hàng nghìn xúc tu rễ vào từng mạch vữa, hút cạn khoáng chất của những viên gạch nung để nuôi dưỡng thân hình vạm vỡ.
Tôi nhích từng bước lại gần góc sân phía đông, nơi có cầu thang ngoài trời dẫn lên gác hai đã bị sập một nửa. Ánh đèn pin quét dọc theo những thớ rễ đa to bằng bắp đùi người lớn. Chúng bò lổm ngổm trên bề mặt tường ngoài, chằng chịt bện chặt vào nhau như những búi gân xanh gân đỏ nổi phồng trên da thịt người bệnh. Rễ cây đâm thủng trần bê tông, xé toạc các gờ chỉ đắp nổi hình hoa sen kiểu cổ, rồi buông thõng từ mép mái hiên tầng hai xuống tận khoảng sân gạch phía dưới.
Một cơn gió mạnh từ hồ Hoàn Kiếm bất thần thổi thốc qua khe hở của hàng rào tôn. Hàng vạn chiếc lá đa dày cộp cọ xát vào nhau, phát ra những chuỗi âm thanh xào xạc rợn người, tựa hồ như tiếng hàng trăm người đang đồng loạt thì thầm to nhỏ trong đêm vắng. Cùng lúc đó, chùm rễ buông rủ từ ban công gác hai đung đưa qua lại. Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt từ cột đèn cao áp bên kia đường Lê Thái Tổ, bóng của những thớ rễ in ngoằn ngoèo lên bức tường vôi nứt, tạo nên hình thù một dòng thác tóc xanh đen khổng lồ đang rũ rượi bay theo gió.
Tôi đứng chôn chân giữa sân, cảm giác ớn lạnh từ từ lan dọc sống lưng. Hình ảnh người phụ nữ ngồi chải tóc trên nóc nhà mà tôi nhìn thấy cách đây nửa tiếng bỗng chốc trùng khớp một cách kỳ lạ với hình ảnh dòng rễ cây đung đưa này. Có phải ảo giác thị giác tạo nên bởi sự kết hợp giữa ánh đèn cao áp, cành lá rậm rạp và tâm lý hoang mang của một kẻ lần đầu trực đêm nơi phế tích?
Tôi cố bám víu vào lời giải thích khoa học đó để trấn an bản thân. Tôi bước tới gần sát chân tường tầng một, nơi một chùm rễ khí sinh buông rủ xuống ngang tầm mắt. Rễ cây to cỡ ngón chân cái, bề mặt thô ráp, sần sùi với những nốt mụn gỗ xám xịt.
Tôi đưa tay chạm vào thớ rễ. Cảm giác truyền lại qua đầu ngón tay không phải là chất gỗ khô ráp của cây cối thông thường, mà là một bề mặt ẩm ướt, lạnh ngắt và nhơn nhớt mủ thực vật.
Tôi rút tay lại, vô thức đưa lên mũi ngửi.
Một mùi hương kỳ lạ xộc thẳng vào xoang mũi tôi. Đó không đơn thuần là mùi ngai ngái của đất ẩm hay mùi mục ruỗng của lá cây phân hủy. Nằm lẫn trong thứ mùi tanh tao của bùn đất đáy hồ là một hương thơm thanh nhẹ, thoang thoảng mùi bồ kết nướng cháy lẫn với hương tinh dầu vỏ bưởi. Mùi hương này quen thuộc đến mức khiến tôi rùng mình; đó chính là thứ nước gội đầu mà các bà, các cô thời xưa thường nấu trong những chiếc nồi đồng vào chiều ba mươi Tết.
Làm sao một cây đa ký sinh mọc hoang phế giữa thủ đô hoang tàn lại có thể tỏa ra mùi nước gội đầu bồ kết của phụ nữ?
Tôi lùi lại hai bước, ngửa cổ nhìn thẳng lên chạc ba của cây đa nằm vắt vẻo qua gờ ban công gác hai. Để nhìn rõ hơn, tôi bước lên hai bậc tam cấp bằng đá xanh đã vỡ mép, bấm nấc đèn pin sang chế độ hội tụ để gom luồng sáng thành một vệt tròn sắc nét.
Luồng sáng trắng quét qua phần ngọn ngói cong vút, soi thẳng vào chạc ba của một nhánh đa non vươn ngang ra khoảng không gian đối diện hồ Hoàn Kiếm. Nhánh cây này có đường kính chừng hai mươi phân, vỏ cây nhẵn thín hơn những phần thân già nua khác.
Và ngay tại điểm phân nhánh của chạc ba đó, ánh đèn pin làm lộ ra một chi tiết dị thường.
Trên lớp vỏ cây xám bạc, có một vệt khấc sâu hoắm hình tròn khép kín, ăn sâu vào tận thớ gỗ lõi bên trong. Vết hằn đó không phải do cành cây tự nhiên gãy gập tạo thành. Vỏ cây xung quanh miệng vết rãnh lồi lên thành từng cục sẹo lồi xù xì màu nâu tím, giống hệt như phản ứng của một thực thể sống khi cố gắng bọc lấy một dị vật ngoại lai siết chặt vào da thịt mình qua hàng chục năm ròng rã.
Đó là dấu vết cơ học không thể nhầm lẫn của một sợi dây thừng bản to. Vết siết của một chiếc thòng lọng chịu một sức nặng treo lơ lửng trong một thời gian rất dài, sâu đến mức khi thân cây đa tiếp tục lớn lên, nó không thể xóa nhòa được vòng tròn oan nghiệt ấy mà buộc phải phát triển ôm trọn lấy vết tích của cái chết.
Gió hồ lại rít lên qua khe hở giữa các tấm tôn bao quanh công trường. Tiếng cọ xát của lá cây trên mái ngói lại vang lên, đều đặn và nhịp nhàng như tiếng răng lược chải qua từng lọn tóc rối: *rột... roạt... rột... roạt...*
Ánh đèn pin trong tay tôi bắt đầu chập chờn. Viên pin con thỏ bên trong dường như bị hơi lạnh hút cạn năng lượng, luồng sáng vàng vọt lụi dần thành một chấm đỏ ối yếu ớt. Đúng lúc ánh sáng sắp tắt hẳn, tôi trông thấy một dải vải màu xanh xám mục nát dính chặt vào kẽ nứt của chạc ba cây đa, đung đưa nhè nhẹ ngay bên cạnh vết siết thòng lọng.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng. Những câu chuyện truyền miệng trôi nổi trên các diễn đàn mạng mà đám thợ xây kháo nhau lúc chiều tối bỗng ùa về trong đầu tôi một cách rõ ràng. Thiếu phụ Mai. Vụ tự vẫn trước năm 1954 khi cây đa này mới chỉ là một mầm cây non nớt mọc trên máng xối. Người phụ nữ mang thai bị phụ bạc, bước lên mái nhà cổ trong một đêm mưa phùn gió bấc rồi gieo mình vào thòng lọng buộc trên chạc cây đa. Oan hồn vắt vẻo không siêu thoát, biến thân cây ký sinh thành chốn nương náu qua nửa thế kỷ.
Nhưng nếu chỉ có câu chuyện về người thiếu phụ treo cổ, thì tại sao lại có tiếng bước chân lê lết bên trong sàn gạch tầng một? Tại sao lại có tiếng gõ cửa đòi chồng lúc nửa đêm mang hơi thở của một thảm kịch khác diễn ra vào cuối thập niên chín mươi?
Căn nhà này chứa đựng nhiều hơn một cái chết oan khuất.
Gió lạnh quất từng đợt vào mặt khiến da gà tôi nổi râm ran. Tiếng cành cây cào cấu trên nóc ngói đột ngột ngưng bặt, để lại một khoảng lặng tuyệt đối đến gai người. Giữa sự tĩnh mịch ấy, từ sâu thẳm bên trong tầng một của ngôi nhà cổ, vang lên tiếng cựa mình của những tấm ván sàn mục nát.
Tôi không dám nán lại ngoài sân thêm một giây nào nữa. Tôi quay phắt người, cắm đầu chạy thục mạng về phía bốt bảo vệ bằng tôn. Tiếng đế giày vải nện thình thịch trên nền gạch vỡ vụn, phá tan sự im ắng của khu công trường.
Tôi lao vào trong bốt, giật sập cánh cửa tôn rồi cài chặt then sắt rỉ sét. Chiếc chốt sắt run lên bần bật dưới bàn tay đẫm mồ hôi lạnh của tôi.
Bên trong căn chòi chật hẹp, ngọn đèn sợi đốt hai mươi lăm oát treo lơ lửng trên trần vẫn tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt ảm đạm. Tôi ngồi thụp xuống mép chõng tre, ngực phập phồng thở dốc, hai mắt dán chặt vào khe hở dưới chân cửa tôn. Không có tiếng gõ cửa ba tiếng. Không có tiếng nài nỉ khàn đặc của người đàn bà tìm chồng. Chỉ có tiếng gió hồ rít qua các kẽ hở kim loại nghe như tiếng huýt sáo ai oán của một người vô hình.
Khi cơn hoảng loạn dần lắng xuống, lý trí của tôi bắt đầu hoạt động trở lại. Tôi nhìn sang chiếc bàn làm việc ọp ẹp kê ở góc phòng. Dưới chân ngọn đèn dầu hỏa dự phòng là một tập tài liệu dày cộp bọc bìa các-tông màu nâu đã sờn rách bốn góc. Đó là tập hồ sơ lưu trữ thi công và giấy tờ bàn giao hiện trạng khu đất mà ban quản lý dự án để lại cho tổ bảo vệ để phục vụ công tác kiểm đếm tài sản trước ngày san phẳng.
Trên mặt bìa các-tông, dòng chữ viết bằng mực Cửu Long màu xanh đậm đã ố vàng theo thời gian ghi rõ: "Hồ sơ kỹ thuật và lịch sử biến động mặt bằng khu đất số 136 - 138 phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội".
Vết siết thòng lọng sâu hoắm trên chạc ba cây đa kia không phải là chuyện bịa đặt của cánh xe ôm hay đám thanh niên rảnh rỗi trên mạng. Nó là một dấu tích có thật, được khắc ghi bằng da thịt và xương cốt vào thân gỗ của loài cây ma quái này. Và nếu dấu vết đó là thật, thì những trang hồ sơ cũ kỹ nằm phủ bụi trên chiếc bàn kia chắc chắn đang che giấu nguyên nhân vì sao một khu đất vàng nằm ngay đối diện Bờ Hồ lại bị bỏ hoang tàn phế suốt mấy chục năm qua mà không một ai dám chạm tay vào dỡ bỏ.
Tôi vươn tay kéo tập hồ sơ sờn góc về phía mình, lật mở lớp bìa các-tông ẩm mốc để tìm kiếm những cái tên từng sở hữu căn nhà.