Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 25: Từ Căn Nhà Ma 138 Hàng Trống Đến Khách Sạn Apricot

Bước chân tôi rời khỏi mép vỉa hè lát đá hoa cương sáng bóng trước cửa khách sạn Apricot, băng qua lòng đường Hàng Trống vắng bóng xe cộ để tiến về phía…

Nội dung chương

Bước chân tôi rời khỏi mép vỉa hè lát đá hoa cương sáng bóng trước cửa khách sạn Apricot, băng qua lòng đường Hàng Trống vắng bóng xe cộ để tiến về phía bờ hồ Hoàn Kiếm.

Gió mùa đông bắc thổi qua mặt nước mênh mông, cuốn theo hơi lạnh cắt da cắt thịt đặc trưng của Hà Nội những ngày cuối năm. Bên kia bờ, tháp Rùa cổ kính chìm trong vầng sáng ấm áp của dàn đèn hắt chân đế, soi bóng lung linh xuống làn nước biếc dập dềnh sóng gợn. Phố xá xung quanh hồ Gươm lúc này đã thưa thớt người qua lại. Những gánh hàng rong cuối cùng rảo bước vội vã, tiếng còi xe máy thỉnh thoảng xé toạc không gian tĩnh mịch rồi nhanh chóng chìm nghỉm vào bóng đêm sâu thẳm.

Tôi bước lại gần chiếc ghế đá xám đặt dưới tán một cây lộc vừng khẳng khiu sát mép nước. Vị trí này đối diện thẳng với số nhà 136 và 138 Hàng Trống. Ngồi xuống ghế, tôi kéo vạt áo khoác dạ kín cổ, ngước mắt nhìn sang công trình kiến trúc tân cổ điển lộng lẫy đang tỏa sáng rực rỡ bên kia đường.

Nhìn vào tòa nhà bề thế ấy, ít ai ngờ rằng nơi đây từng tồn tại một phế tích hoang tàn ròng rã suốt mấy mươi năm, từng gắn liền với những truyền thuyết rùng rợn gieo rắc nỗi kinh hoàng cho biết bao thế hệ người Hà Nội. Căn nhà vôi vữa bong tróc, mái ngói sụp xệ, cây đa cổ thụ với chùm rễ đen đúa buông thõng xuống gác hai như một tấm rèm tang tóc, tất cả đã hoàn toàn biến mất khỏi thực tại.

Tôi luồn tay vào túi áo trong, cẩn thận lấy ra cuốn sổ tay bìa da sờn rách.

Cuốn sổ này tôi mua từ một hiệu sách cũ trên phố Tràng Tiền vào những ngày đầu mùa thu năm 2006, ngay trước khi nhận ca trực đêm đầu tiên tại công trường phá dỡ. Trải qua tám năm nằm sâu trong đáy ngăn kéo bàn trọ, lớp bìa da màu nâu sẫm đã tróc từng mảng lớn, đường chỉ khâu ở gáy sổ bị đứt vài đoạn, để lộ ra những thớ chỉ trắng đục xơ xác. Tôi lật nhẹ từng trang giấy kẻ ngang. Mặt giấy ngả sang màu vàng vôi của thời gian, bốc lên mùi ẩm mốc quen thuộc xen lẫn mùi mực khô cằn cỗi.

Tôi dừng lại ở trang đầu tiên. Dòng chữ viết vội bằng mực xanh học trò ghi rõ: "Đêm thứ nhất - Ngày 12 tháng 10 năm 2006".

Từng dòng ký ức ùa về sống động đến nghẹt thở. Tôi nhớ rõ cảm giác lạnh gáy của đêm đầu tiên bước chân vào căn nhà trống, đứng dưới gốc đa cổ thụ rậm rạp và lắng nghe tiếng gió rít qua những khe tường nứt toác. Tôi nhớ tiếng chải tóc rào rạt vọng xuống từ chạc cây cao, tiếng nấc nghẹn ngào của một linh hồn phụ nữ cô đơn, và ảo giác thị giác Pareidolia kỳ lạ khi ánh đèn cao áp màu cam rọi qua kẽ lá, in lên bức tường ẩm mốc hình bóng một thiếu phụ thắt cổ đung đưa.

Tôi lật tiếp sang những trang ghi chép giữa tháng mười. Ở đó ghi lại những câu chuyện truyền miệng từ các bác xích lô đêm lão thành, chuyện người phụ nữ mặc áo dài màu xanh xám bắt xe về căn nhà 138 rồi biến mất, để lại những chiếc lá đa khô úa thay cho tiền giấy. Tôi đọc lại đoạn ghi chép về vụ án mạng thảm khốc năm 1990, khi người vợ trẻ bụng mang dạ chửa chờ chồng về trong đêm mưa bão rồi bị toán cướp sát hại dã man. Hai dị bản tưởng chừng rời rạc, tách biệt của hai thời kỳ lịch sử khác nhau, hóa ra lại cùng hội tụ dưới một mái nhà định mệnh, đan bện vào nhau thành bức tranh u uất về số phận bi thương của người phụ nữ trong xã hội cũ.

Ngón tay tôi khẽ miết lên trang viết về đêm rằm tháng mười năm ấy, thời điểm toán thợ hồ kinh hãi bỏ chạy vì bóng đè và dụng cụ xây dựng bị ném văng tung tóe khắp sân. Đêm đó, chính tôi đã quỳ trước bàn thờ tạm bợ lập vội dưới chân cầu thang, khước từ phương án dùng bùa chú trấn yểm hung bạo của đám thầy cúng trục lợi, một lòng hướng về đàn tràng cầu siêu giải oan.

Tôi lật đến những trang cuối của đợt trực ba mươi đêm, nơi ghi lại thời điểm chiếc máy xúc ngoạm từng mảng tường vôi, hạ giải cây đa cổ thụ và phát hiện chiếc kẹp tóc đồi mồi cùng thanh then cài rỉ sét nằm sâu dưới nền móng.

Những kỷ vật ấy đã được sư thầy chùa Quán Sứ mang về, tụng kinh hồi hướng và chôn cất thanh tịnh dưới chân cội bồ đề nơi đất Phật. Lễ cầu siêu năm 2006 không dùng đao kiếm tâm linh để xua đuổi, tiêu diệt hay giam hãm. Buổi lễ ấy dùng lòng trắc ẩn, sự thấu cảm và tình thương của người sống để xoa dịu những uất ức ngút trời của người chết, dẫn lối cho những linh hồn vất vưởng tìm về nẻo thiện để siêu sinh.

Nhìn lại toàn bộ ba mươi đêm trực được ghi chép tỉ mỉ, tôi nhận ra một sự thật giản dị nhưng sâu sắc. Bản chất của ma quỷ hay những hiện tượng siêu nhiên mà người đời vẫn truyền tai nhau trên các diễn đàn mạng như TTVNOL, VOZ suốt thập niên qua, thực chất chỉ là tấm gương phản chiếu những bi kịch nhân sinh bị lãng quên giữa dòng đời cuộn chảy.

Người đời thích thêu dệt nên những câu chuyện rùng rợn, ly kỳ để thỏa mãn trí tò mò, biến nỗi đau xé lòng của đồng loại thành thứ gia vị giải trí lúc trà dư tửu hậu. Họ gán ghép cho căn nhà 138 Hàng Trống những danh xưng ghê rợn, biến nơi này thành tụ điểm của tà ma, quỷ quyệt.

Thế nhưng, suốt ba mươi đêm đối mặt với bóng tối và sự cô quạnh cùng cực, tôi chưa từng thấy một vong hồn nào muốn làm hại con người. Họ không tìm cách giết hại hay bắt bớ ai. Những tiếng khóc thê lương vọng xuống từ tán lá, những tiếng bước chân chạy loạn xạ bên trong căn nhà trống, hay hình bóng chải tóc mờ ảo in trên tường vôi, tất cả chỉ là tiếng kêu cứu tuyệt vọng của những số phận bất hạnh bị mắc kẹt lại giữa ranh giới âm dương.

Họ mắc kẹt vì sự phụ bạc tàn nhẫn của người tình, vì định kiến khắt khe của gia đình danh gia vọng tộc trước năm 1954. Họ mắc kẹt vì cái chết bất đắc kỳ tử, tức tưởi và oan khiên dưới lưỡi dao của lũ cướp bạo tàn vào một đêm mưa bão năm 1990. Họ khao khát được lắng nghe, khao khát có ai đó thấu hiểu nỗi oan khuất mà họ phải mang theo xuống nấm mồ lạnh lẽo. Khi những người sống như chúng tôi chịu dừng lại, lắng nghe và đáp lại nỗi đau ấy bằng những nén nhang thành tâm cùng lời kinh giải thoát, sợi dây oán hận trói buộc họ suốt mấy mươi năm cuối cùng đã tự động buông lơi.

Tôi đưa mắt nhìn sang những trang giấy trắng tinh còn sót lại ở phần cuối cuốn sổ.

Hơn mười trang giấy trắng nằm lặng lẽ, không một vết mực, tượng trưng cho tám năm khu đất số 138 bị bỏ hoang sau ngày phá dỡ. Tám năm ròng rã, bức tường tôn xanh han rỉ đứng cô đơn giữa lòng phố cổ, im lìm chờ đợi những tranh luận về quy hoạch, bảo tồn di sản vùng đệm hồ Gươm ngã ngũ. Trong suốt tám năm đất trống đợi thời gian ấy, không còn một lời đồn ma quái nào xuất hiện thêm nữa. Mặt đất đã được làm sạch, rễ đa đã mục nát thành tro bụi, và những linh hồn từng chịu uất nghẹn đã tìm được chốn bình an vĩnh hằng.

Tôi rút chiếc bút bi cài ở mép áo khoác, tháo nắp bút ra. Bàn tay tôi khẽ run lên vì cái lạnh của ngọn gió đông thổi từ mặt hồ, nhưng nét chữ đặt xuống trang giấy vẫn giữ được sự ngay ngắn, dứt khoát.

Tôi đặt ngòi bút lên trang giấy trắng đầu tiên sau chuỗi ngày bỏ ngỏ, nắn nót ghi lại mốc thời gian của hiện tại:

"Hà Nội, một đêm mùa đông năm 2014. Khách sạn Apricot đã sáng đèn trên nền đất cũ 136 - 138 Hàng Trống."

Đầu ngòi bút bi lăn nhẹ trên mặt giấy ráp, phát ra tiếng sột soạt êm tai:

"Đêm nay, tôi đứng bên kia đường nhìn lại mảnh đất từng gắn bó với ba mươi đêm trực của tuổi trẻ. Nơi từng là phế tích hoang tàn, rêu phong và lạnh lẽo, giờ đây đã khoác lên mình diện mạo của một công trình nghệ thuật rực rỡ, trang nhã và sang trọng. Không còn bóng ma phụ nữ chải tóc trên chạc cây đa non. Không còn người vợ trẻ đập cửa gào khóc gọi chồng trong mưa gió. Không còn sự kinh hãi của những người thợ hồ nghèo khó.

Trước tấm kính lớn của sảnh khách sạn, tôi đã nhìn thấy chiếc bóng áo dài xanh xám quen thuộc lần cuối cùng. Chiếc bóng ấy không còn oán hận, không còn vẻ thê lương u uất. Nụ cười nhẹ nhõm của người thiếu phụ bên bục dương cầm hòa vào ánh sáng ấm áp của ngọn đèn chùm pha lê, tựa như một lời chào từ biệt thanh thản gửi lại chốn nhân gian.

Thời gian có thể xóa nhòa những dấu tích kiến trúc cổ xưa, có thể biến một mái nhà đổ nát thành khách sạn hoa lệ, nhưng thời gian không thể chôn vùi lòng trắc ẩn của con người. Căn nhà số 138 Hàng Trống khép lại sứ mệnh của nó không phải bằng sự lãng quên vô tình, mà bằng sự hóa giải trọn vẹn giữa quá khứ và hiện tại, giữa cõi âm và cõi dương, giữa những mất mát đau thương và niềm hy vọng tái sinh.

Những ai từng sống, từng chết và từng chịu đựng nỗi oan khuất nơi đây, xin hãy an giấc ngàn thu trong lòng đất mẹ."

Tôi viết xong câu cuối cùng, đặt dấu chấm hết thật đậm lên mặt giấy.

Một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ bến dâng trào từ sâu thẳm tâm can, xua tan đi sự mệt mỏi, nặng trĩu mà tôi đã mang theo suốt gần mười năm qua. Ba mươi đêm trực năm 2006 từng là một bóng ma tâm lý đè nặng lên tuổi thanh xuân của tôi. Nhưng giờ đây, khi trang viết này hoàn tất, nó đã trở thành một phần ký ức thiêng liêng. Nhắc nhở tôi về giá trị của sự thấu cảm và lòng nhân từ giữa cuộc đời trần tục.

Đúng lúc ấy, một làn gió hồ thổi nhẹ qua rặng cây ven đường.

Cành lộc vừng phía trên đầu tôi khẽ rung rinh, phát ra tiếng xào xạc dịu dàng giữa đêm thanh vắng. Từ trên cành cao, một chiếc lá già vàng sẫm khẽ tách khỏi cuống, chao liệng vài vòng trong không trung rồi đáp nhẹ nhàng xuống mặt bàn sổ tay, nằm ngay ngắn trên trang giấy vừa ráo mực.

Chiếc lá khô mang màu vàng của đất, hình dáng thon dài, mép lá hơi cong gập lại vì gió lạnh. Nó che phủ lên nửa dưới của dòng chữ cuối cùng tôi vừa viết, hệt như một dấu son niêm phong mộc mạc do chính thiên nhiên ban tặng để khép lại trang nhật ký của đời người.

Tôi ngắm nhìn chiếc lá khô một hồi lâu, khóe môi khẽ mỉm cười. Tôi không gạt chiếc lá ra, mà nhẹ nhàng khép hai mép bìa da của cuốn sổ lại, kẹp chiếc lá nằm yên bên trong trang nhật ký cuối cùng như một chứng tích vĩnh cửu của đêm nay.

Khách sạn Apricot bên kia đường vẫn rực rỡ ánh sáng vàng ấm áp. Tiếng đàn dương cầm từ sảnh lớn dường như đã ngừng hẳn, nhường chỗ cho tiếng sóng nước vỗ nhẹ vào bờ kè đá hoa cương của hồ Hoàn Kiếm. Thành phố ngoài kia vẫn đang chuyển mình từng ngày, hiện đại hơn, hối hả hơn, nhưng dưới lớp vỏ bọc phồn hoa ấy, những trầm tích lịch sử và những câu chuyện truyền thuyết đô thị vẫn sẽ mãi mãi là một phần linh hồn của mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn hiến.

Tôi cất cuốn sổ tay bìa da vào sâu trong túi áo khoác, kéo khóa cẩn thận.

Đứng dậy khỏi chiếc ghế đá, tôi hít một hơi thật sâu bầu không khí mát lành của mặt hồ Gươm, rồi thong thả cất bước hòa mình vào dòng người đang chậm rãi dạo phố đêm. Quá khứ đã lùi lại phía sau, bình yên và thanh thản. Cuốn nhật ký ba mươi đêm trực tại căn nhà số 138 Hàng Trống đã chính thức khép lại từ giây phút này.

Chương khác

Xem thêm