Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 24: Từng Viên Gạch Vỡ Mang Theo Một Oan Hồn
Mùa đông năm 2014 tràn về trên từng con phố Hà Nội bằng những đợt gió mùa đông bắc cắt da cắt thịt. Mặt nước hồ Hoàn Kiếm chuyển sang màu xanh thẫm, gợn…
Nội dung chương
Mùa đông năm 2014 tràn về trên từng con phố Hà Nội bằng những đợt gió mùa đông bắc cắt da cắt thịt. Mặt nước hồ Hoàn Kiếm chuyển sang màu xanh thẫm, gợn sóng lăn tăn dưới bầu trời bàng bạc một màu chì đặc trưng của những ngày cuối năm. Rặng liễu ven hồ rủ xuống những nhánh khẳng khiu trơ trọi, nghiêng mình đón từng cơn gió lạnh buốt từ phía bắc thổi thốc qua lòng phố.
Tôi đứng tựa lưng vào lan can đá bên bờ hồ, kéo cao cổ chiếc áo khoác dạ màu tro, phóng tầm mắt sang bên kia đường Hàng Trống.
Trước mắt tôi, dãy rào tôn xanh xao rỉ sét từng án ngữ suốt tám năm ròng rã đã biến mất không để lại bất kỳ dấu vết nào. Thay vào đó, sừng sững ngự trị trên nền đất số 136 và 138 Hàng Trống là một khối kiến trúc tân cổ điển bề thế, rực rỡ và lộng lẫy dưới ánh đèn chiếu sáng nghệ thuật. Khách sạn Apricot đã hoàn thành những công đoạn trang hoàng cuối cùng, chuẩn bị cho ngày chính thức mở cửa đón khách.
Tòa nhà khoác lên mình màu sơn trắng kem trang nhã, điểm xuyết những chi tiết phào chỉ tinh xảo, những ban công sắt uốn hoa văn cầu kỳ mang đậm phong cách kiến trúc Pháp cổ điển. Toàn bộ mặt tiền tầng một được ốp bằng những phiến đá cẩm thạch màu nâu vàng bóng loáng, phản chiếu ánh đèn cao áp từ vỉa hè rọi vào sáng trưng. Phía trên cao, dòng chữ tên khách sạn màu đồng sáng lấp lánh, vươn cao kiêu hãnh giữa trung tâm trái tim thủ đô.
Tôi ngắm nhìn công trình đồ sộ ấy, lồng ngực trào dâng một cảm giác bâng khuâng khó tả. Ký ức về mùa đông năm 2006 bất chợt dội về, rõ rệt đến từng chi tiết nhỏ.
Tám năm trước, cũng vào những ngày gió rét căm căm của tháng Chạp, nơi đây từng là một phế tích u ám, ẩm mốc và rách nát đến cùng cực. Khi ấy, căn nhà cổ số 138 đứng cô độc trong bóng tối, rêu phong phủ đầy trên từng viên gạch vỡ vụn. Tán cây đa cổ thụ xum xuê buông những chùm rễ xanh đen dài ngoằng xuống hiên gác hai, đung đưa trong gió đêm như những cánh tay ma quái chực chờ nuốt chửng sự sống. Mùi ẩm mốc của tường vôi rạn nứt, mùi xú uế của chim chóc và tử khí tích tụ suốt mấy mươi năm từng khiến bất kỳ ai đi ngang qua cũng phải rảo bước thật nhanh vì ớn lạnh.
Giờ đây, sự hoang tàn ấy đã hoàn toàn bị xóa sạch. Ánh sáng ấm áp từ hàng trăm ngọn đèn chùm pha lê bên trong sảnh lớn tỏa ra qua những ô cửa kính kịch trần, xua tan hoàn toàn bóng đen lạnh lẽo từng bao trùm mảnh đất này suốt hơn nửa thế kỷ. Nơi từng chôn giấu những lời nguyền thắt cổ oan nghiệt, những vụ cướp của giết người đẫm máu trong đêm mưa gió, nay đã biến thành một thiên đường nghỉ dưỡng xa hoa bậc nhất trần gian.
Tôi rảo bước băng qua con đường Hàng Trống quen thuộc.
Mặt đường nhựa bằng phẳng, khô ráo, tiếng còi xe máy rộn rã và tiếng cười nói của từng tốp du khách dạo bộ quanh bờ hồ tạo nên một bầu không khí sống động, tươi vui. Đứng trên vỉa hè lát gạch sạch sẽ ngay trước thềm bậc tam cấp bằng đá hoa cương của khách sạn, tôi ngửi thấy mùi hương tinh dầu sả chanh thoang thoảng bay ra từ hệ thống thông gió, lấn át hoàn toàn cái mùi mục ruỗng của lá đa ẩm ướt năm nào.
Người gác cửa trong bộ đồng phục màu mận chín lịch thiệp cúi đầu chào tôi với nụ cười nhã nhặn. Tôi mỉm cười gật đầu đáp lại, rồi đứng nép sang một bên hông sảnh, qua lớp vách kính cường lực trong suốt để quan sát không gian bên trong.
Khách sạn Apricot không đơn thuần là một chốn lưu trú thượng lưu. Đúng như những thông tin tôi đọc được trên báo chí mấy tháng nay, nơi đây được thiết kế như một bảo tàng nghệ thuật thu nhỏ giữa lòng Hà Nội. Trên những bức tường cao vút được sơn màu ấm cúng, hàng trăm bức tranh sơn dầu, tranh sơn mài của các danh họa bậc thầy Việt Nam được treo trang trọng dưới những vệt đèn rọi chuyên dụng. Những nét vẽ tài hoa, những gam màu rực rỡ của hội họa dân tộc tỏa ra một nguồn sinh khí mãnh liệt, lấp đầy từng ngóc ngách không gian.
Ở giữa sảnh chính, trên một bục gỗ mun bóng loáng, một chiếc đại dương cầm màu đen tuyền đứng kiêu hãnh. Người nghệ sĩ dương cầm mặc âu phục chỉnh tề đang lướt những ngón tay thon dài trên phím đàn trắng muốt.
Những thanh âm trong trẻo, dìu dặt của một bản dạ khúc cổ điển khẽ lọt qua khe cửa tự động mỗi khi có khách bước vào. Tiếng đàn du dương, thanh thoát ngân vang, bay bổng giữa không gian ngập tràn ánh sáng vàng kim.
Lắng nghe tiếng đàn ấy, tôi chợt thấy khóe mắt mình cay xè.
Tôi nhớ lại ba mươi đêm trực của mùa đông năm 2006. Đêm nào tôi cũng phải căng tai lắng nghe những thanh âm ghê rợn vẳng ra từ căn nhà bỏ hoang: tiếng rễ đa cọ xát cọt kẹt vào mái ngói mục nát, tiếng chân người chạy loạn xạ trên sàn gỗ mục tầng hai, tiếng then cài cửa rỉ sét đập thình thình trong tuyệt vọng, và nhất là tiếng nỉ non, ai oán của một người đàn bà ngồi vắt vẻo trên chạc cây đa chải tóc giữa đêm rằm. Những âm thanh của đau khổ, u uất và hận thù từng găm sâu vào thần trí tôi như những chiếc dằm nhức nhối.
Nay, tiếng nhạc dương cầm êm ái đã thay thế cho tiếng khóc than ai oán. Nghệ thuật và cái đẹp đã thay thế cho nỗi sợ hãi và sự hủy diệt. Mảnh đất từng oằn mình gánh chịu những bi kịch nhân gian đau xót nay được bao bọc bởi sự văn minh, ấm áp và trân trọng.
Tôi đứng lặng ngắm nhìn hình ảnh phản chiếu trên tấm vách kính lớn của sảnh khách sạn.
Mặt kính dày và trong suốt hoạt động như một tấm gương khổng lồ. Nó vừa phản chiếu khung cảnh tráng lệ ngập tràn ánh đèn chùm và tranh nghệ thuật bên trong sảnh, vừa thu trọn bóng hình mặt hồ Hoàn Kiếm với những gợn sóng dập dềnh và ánh đèn đường lung linh phía sau lưng tôi. Hai không gian thực và ảo đan cài vào nhau, tạo nên một bức tranh thị giác đa tầng kỳ ảo.
Những đợt gió đông bắc lại thổi mạnh qua lòng đường, làm lay động những tán cây xanh ven hồ. Ánh đèn cao áp màu vàng vọt ngoài phố xuyên qua những cành cây đung đưa, chiếu thẳng vào bề mặt tấm kính lớn.
Chính tại vị trí giao thoa giữa ánh sáng rực rỡ bên trong và bóng tối dập dềnh sóng nước bên ngoài, hiện tượng thị giác Pareidolia quen thuộc của tám năm trước lại bất ngờ tái hiện trước mắt tôi.
Những vệt sáng phản chiếu từ ngọn đèn chùm pha lê khúc xạ qua mép kính vát cạnh, kết hợp cùng bóng râm của rặng liễu ven hồ in lên mặt gương, tạo thành hình bóng mờ ảo của một người phụ nữ.
Tôi nín thở, hai bàn tay siết chặt lấy mép túi áo khoác.
Hình bóng ấy không còn là cái bóng đen kịt, vặn vẹo với chiếc thòng lọng đung đưa trên chạc cây đa. Hình bóng ấy cũng không mang dáng vẻ rách rưới, tóc tai rũ rượi đầy máu me của người vợ trẻ bị sát hại dã man năm 1990.
Trong lớp ánh sáng khúc xạ màu vàng ấm, bóng hình hiện lên thanh mảnh và trang nhã trong tà áo dài màu xanh xám. Mái tóc người phụ nữ được búi gọn gàng sau gáy, để lộ chiếc cổ thon thả và bờ vai gầy guộc. Chiếc bóng đứng nghiêng mình bên cạnh bục dương cầm, hòa lẫn vào những vệt sáng lấp lánh của đèn pha lê.
Gió hồ lại thổi qua một cơn dữ dội, làm mặt nước sau lưng tôi xao động mạnh mẽ. Sự dịch chuyển của sóng nước khiến những vệt sáng phản chiếu trên mặt kính khẽ rung rinh.
Trong một nhịp thở chậm rãi, vệt sáng nơi khuôn mặt của chiếc bóng khẽ biến đổi. Ánh sáng đèn vàng rọi nghiêng tạo nên đường nét thanh tú của khóe môi và đôi mắt. Người phụ nữ ấy dường như đang quay đầu nhìn về phía tôi, khóe môi khẽ nở một nụ cười nhẹ nhõm, bình thản và dịu dàng đến vô cùng. Đó là nụ cười của một linh hồn đã tìm thấy sự an nghỉ vĩnh hằng, trút bỏ được mọi oán hận, đắng cay và tủi nhục đeo bám suốt bao nhiêu năm tháng chốn trần gian.
Bóng hình khẽ nghiêng đầu như một lời chào từ biệt thanh thản gửi tới cõi thực, rồi từ từ nhạt nhòa, tan loãng vào những luồng sáng lấp lánh của đèn chùm và giai điệu dương cầm cao vút đang vút lên nốt nhạc cuối cùng của khúc dạ khúc.
Trên mặt kính bóng loáng, chỉ còn lại hình ảnh phản chiếu của chính tôi - một người đàn ông ngoài ba mươi tuổi với gương mặt phong trần, đứng lặng lẽ bên lề đường giữa lòng phố thị phồn hoa.
Tôi thở ra một hơi dài, luồng hơi ấm phả vào không khí lạnh ngưng tụ thành một làn khói trắng mỏng manh rồi nhanh chóng tan biến.
Mọi ân oán đã thực sự kết thúc. Lời thề nguyện của người sống dành cho người chết trong buổi lễ cầu siêu dưới chân gốc bồ đề tám năm trước đã được hoàn tất trọn vẹn. Nỗi đau của cô Ba, của thiếu phụ Mai thắt cổ trên cây đa non năm xưa, và cái chết tức tưởi của người vợ trẻ chờ chồng trong đêm mưa gió năm 1990, tất cả đã được đất mẹ ôm ấp, hóa giải bằng lòng trắc ẩn và sự thấu hiểu của hậu thế. Mảnh đất này không còn là nơi lưu đày của những oan hồn vất vưởng, mà đã trở thành một phần tươi đẹp, rực rỡ của thành phố đang từng ngày vươn mình đổi mới.
Tôi đưa bàn tay lạnh cóng vào ngăn trong của chiếc áo khoác dạ. Ngón tay tôi chạm vào bề mặt sần sùi của cuốn sổ tay bìa da cũ kỹ - cuốn nhật ký trực đêm năm 2006 mà tôi luôn mang theo bên mình như một phần máu thịt của tuổi trẻ.
Những trang giấy vàng ố ghi lại từng đêm kinh hoàng, từng vết nứt trên tường vôi và những tiếng thở dài trong bóng tối giờ đây đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của chúng. Chúng không còn là bằng chứng của nỗi sợ hãi ma quái, mà là chứng nhân cho một chặng đường chuyển mình đầy đau thương nhưng cũng rất đỗi thiêng liêng của mảnh đất nghìn năm văn vật.
Một chiếc xe taxi tấp vào lề đường trước cửa khách sạn, đón một cặp vợ chồng ngoại quốc vừa bước ra từ sảnh lớn. Tiếng cười nói ríu rít, tiếng vali kéo lách cách trên nền gạch hoa cương kéo tôi trở về trọn vẹn với nhịp sống thực tại.
Tôi quay lưng lại với tòa khách sạn lộng lẫy ánh đèn, bước chân thong thả sải bước trở lại phía bờ hồ Hoàn Kiếm. Gió đông bắc vẫn thổi, nhưng trong lòng tôi lúc này chỉ còn lại một cảm giác ấm áp, bình yên và nhẹ nhõm đến lạ kỳ. Đã đến lúc tôi tìm một góc ghế đá quen thuộc bên mặt nước hồ Gươm, mở cuốn sổ tay sờn gáy ra để viết nốt những dòng suy ngẫm cuối cùng, khép lại trọn vẹn tập nhật ký ba mươi đêm trực của một thời dĩ vãng.