Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 21: Vong Hồn Gõ Cửa Lần Cuối Cùng

Mặt trời mùa đông nhô lên sau rặng liễu hồ Gươm, xua tan dần lớp sương mù xám đục đang bao phủ mặt nước. Ánh sáng ban mai rọi thẳng vào mặt tiền căn nhà…

Nội dung chương

Mặt trời mùa đông nhô lên sau rặng liễu hồ Gươm, xua tan dần lớp sương mù xám đục đang bao phủ mặt nước. Ánh sáng ban mai rọi thẳng vào mặt tiền căn nhà số 138 Hàng Trống, phơi bày rõ mồn một từng mảng tường lở loét, những vết nứt toác chạy dọc từ mái ngói xuống tận chân móng. Giữa khung cảnh hoang tàn ấy, cây đa ký sinh cổ thụ sừng sững vươn cành, như một chiếc lồng khổng lồ bằng gỗ và rễ cây trùm kín cả nóc gác hai.

Sáu giờ ba mươi phút sáng, chiếc xe cẩu chuyên dụng của Công ty Công viên Cây xanh gầm rú đỗ sát mép vỉa hè. Bác Thuận, người thợ cả lớn tuổi nhất trong nhóm thợ cưa, bước xuống xe với chiếc túi da đựng đồ nghề đeo chéo bên hông. Bác chừng ngoài năm mươi tuổi, nước da ngăm đen vì dãi dầu mưa nắng, trên trán hằn sâu những nếp nhăn từng trải.

Bác Thuận không vội khởi động máy móc. Bác tháo đôi găng tay bạt, điềm đạm bước lại trước hương án mà nhà chùa vừa lập chiều hôm trước. Trên bàn thờ, ba bát hương bằng đồng vẫn còn đỏ lửa tàn ủ, những cánh hoa cúc trắng hơi se lại vì sương đêm nhưng vẫn giữ nguyên vẻ thanh khiết. Bác rút ba nén nhang trầm trong túi áo, châm lửa rồi kính cẩn vái lạy ba vái:

- Kính lạy chư vị thần linh thổ địa, kính lạy hương linh cô Ba và các vong linh nương náu nơi gốc đa này. Hôm nay phụng mệnh hạ giải cành nhánh, chúng tôi xin phép được động chạm rìu cưa. Cốt sao cho thanh tịnh trần gian, đưa các chân linh về chùa nghe kinh siêu thoát. Cầu xin chư vị độ trì cho anh em thợ thuyền bình an vô sự.

Toán thợ sáu người đứng xếp hàng phía sau bác Thuận, tất cả đều ngả mũ len, cúi đầu thành kính. Ông Thắng phó ban quản lý cũng bước lên rót ba chén rượu trắng dâng lên bàn thờ. Không khí buổi sớm trang nghiêm, tĩnh lặng, hoàn toàn vắng bóng sự ồn ào xô bồ vốn có của những công trường phá dỡ nơi phố cổ.

Tôi đứng tựa lưng vào bốt gác, mở cuốn sổ trực ban ghi lại giờ bắt đầu thi công: 06 giờ 45 phút, ngày hạ giải cây đa số 138 Hàng Trống.

Sau hồi chuông nhỏ mà bác Thuận mang theo rung lên ba tiếng giòn giã, công việc chính thức bắt đầu. Đám thợ phân chia nhiệm vụ rành rọt. Hai người phụ trách vận hành cần cẩu cơ giới ngoài vỉa hè, bốn người còn lại mang theo dây thừng, móc khóa bảo hiểm và thang thép luồn vào bên trong phế tích.

Nhiệm vụ đầu tiên là tháo gỡ chùm rễ khí sinh khổng lồ buông dài từ hiên gác hai xuống mặt sân. Suốt bao nhiêu năm tháng, những chiếc rễ này đã đâm xuyên qua lớp vữa vôi mắt cua, bện chặt lấy lan can sắt hoen rỉ và ăn sâu vào các kẽ nứt của ban công. Nhìn từ xa dưới ánh đèn đêm, chúng từng khiến bao nhiêu người lầm tưởng là mái tóc đen nhánh rũ rượi của người phụ nữ ngồi khóc than. Nhưng sáng nay, dưới ánh nắng sớm tinh khôi, chúng hiện nguyên hình là những bó rễ màu nâu xám, phủ đầy rêu mốc và bụi đường tích tụ qua nhiều thập kỷ.

Bác Thuận ra hiệu cho hai thợ trẻ bắc thang thép trèo lên tầng hai. Bác dặn dò kỹ lưỡng:

- Cắt từ ngọn rễ bám đất trước, tuyệt đối không giật mạnh. Rễ đã ăn sâu vào tường mục, các chú giật bừa là sập luôn cả mảng ban công đấy. Cứ dùng cưa tay tỉa từng đoạn một mét, thả xuống bạt lót bên dưới cho chú bảo vệ gom lại.

Tiếng cưa tay bắt đầu vang lên sàn sạt. Từng đoạn rễ đa đứt rời rơi xuống tấm bạt dứa trải sẵn giữa sân, phát ra những tiếng "bịch" khô khốc. Tôi cùng một người thợ phụ nhanh chóng nhặt từng đoạn rễ xếp gọn vào những bao tải gai có lót vải vàng. Đây là yêu cầu nghiêm ngặt của nhà chùa từ hôm trước: toàn bộ cành lá, thân rễ của cây đa thiêng này không được vứt bỏ bừa bãi ra bãi rác công cộng, mà phải thu gom đầy đủ để chuyển về lò hóa vàng trong khuôn viên chùa làm lễ hỏa hóa thành tro sạch.

Khi từng lớp rễ đa dày đặc được bóc tách khỏi bề mặt ban công, lớp tường vôi màu vàng cổ kính của căn biệt thự thời Pháp phơi bày ra trước mắt. Những rãnh sâu hoắm ngoằn ngoèo in hằn trên mặt tường, giống như những vết sẹo chằng chịt sau một cơn bạo bệnh kéo dài. Đất đá vụn và rêu khô rơi lả tả xuống mặt sân gạch.

Đến tám giờ ba mươi phút, cần cẩu bắt đầu vươn cánh tay thép dài qua rào tôn, tiếp cận phần ngọn đa trên mái nhà. Gió mùa đông bắc thổi mạnh từ phía hồ Gươm sang làm những tán lá xanh thẫm rung lên xào xạc.

Bác Thuận đích thân thắt dây bảo hiểm quanh bụng, bước lên chỏm tường đầu hồi để tiếp cận thân chính. Trên tay bác là chiếc cưa máy cầm tay nhỏ gọn. Bác kiểm tra kỹ lưỡng các nút thắt dây thừng nối liền ngọn đa với móc cẩu thép trước khi giật nổ động cơ.

Tiếng máy cưa xé toạc không gian tĩnh mịch của phố Hàng Trống. Khói xăng mỏng bay lơ lửng rồi tan biến vào gió hồ. Mũi cưa sắc bén ngoạm sâu vào thớ gỗ tươi, mùn cưa màu trắng ngà bắn ra rào rào, tỏa ra mùi nhựa cây ngai ngái nồng đượm.

Cành đa lớn đầu tiên dài gần năm mét từ từ đứt rời khỏi thân mẹ. Cần cẩu nhấc bổng cành cây lên không trung, lượn một vòng bán nguyệt qua khoảng không rực nắng rồi hạ nhẹ nhàng xuống lòng thùng xe tải đỗ ngoài cổng. Đám đông người đi đường dừng chân ven hồ Gươm ngước mắt nhìn lên, xì xào bàn tán. Những lời đồn thổi ma mị từng ám ảnh góc phố này suốt nhiều năm qua dường như đang tan biến theo từng nhánh cây được đốn hạ giữa thanh thiên bạch nhật.

Công việc diễn ra liên tục, nhịp nhàng và chuẩn xác suốt bốn tiếng đồng hồ. Từng cành lớn phía đông, phía tây rồi phía bắc lần lượt được cắt rời an toàn. Trên nóc căn nhà, tán lá rậm rạp che khuất bầu trời bấy lâu nay vơi dần đi, để lộ ra những mảng ngói âm dương rêu phong xô lệch và khung kèo gỗ lim đã mục nát một nửa vì ngấm nước mưa.

Đến gần mười hai giờ trưa, toán thợ tiến hành xử lý phần quan trọng nhất: chạc ba của thân đa ký sinh, nơi cành chính mọc nghiêng ra phía bờ hồ. Đây chính là vị trí gắn liền với câu chuyện truyền kỳ về cô Ba, người thiếu phụ bất hạnh đã tìm đến cái chết trong tuyệt vọng vào một đêm giông bão hơn nửa thế kỷ trước.

Bác Thuận đứng trên thang nhôm, quan sát chạc cây rất lâu. Thân cây ở đoạn này phình to bất thường, tạo thành một hốc gỗ mục lõm sâu vào bên trong, xung quanh bao bọc bởi những thớ rễ phụ xoắn xít như dây thừng bện.

- Anh em cẩn thận dây cáp chỗ này. - Bác Thuận hét lớn qua tiếng gió - Chạc cây này nặng đấy, lại nằm sát mép ngói mục. Cẩu kéo căng dây lên một chút rồi giữ nguyên vị trí, đợi tôi cắt xong mối nối cuối cùng.

Cần cẩu siết chặt dây cáp dù bản to. Bác Thuận tì lưỡi cưa vào phần gốc chạc ba, bắt đầu nhấn ga. Tiếng máy cưa gầm lên từng chặp dứt khoát. Nhựa cây ứa ra đỏ quạch như màu đất sét. Khi lưỡi cưa ăn sâu được hai phần ba thân gỗ, một tiếng "rắc" giòn tan vang lên. Chạc ba khổng lồ tách rời khỏi gốc mẹ, lơ lửng giữa tầng không trong sự căng thẳng tột độ của mọi người có mặt dưới sân.

Người lái cẩu thao tác vô cùng thuần thục, từ từ nhả tời đưa chạc cây hạ thẳng xuống giữa khoảng sân gạch, ngay cạnh bàn thờ bát ngát mùi hương trầm. Bụi vôi và lá khô bay mù mịt rồi lắng dần xuống.

Toán thợ thở phào nhẹ nhõm. Ông Thắng vội vàng mang mấy chai nước khoáng ra mời mọi người:

- Cảm ơn các bác, may quá mọi sự hanh thông trọn vẹn. Thân cây to thế này mà hạ xuống êm ru, không làm sứt mẻ một viên gạch nào của nhà bên cạnh.

Bác Thuận cởi mũ bảo hộ, lau những giọt mồ hôi đang túa ra trên trán dù tiết trời mùa đông đang rét buốt. Bác cầm chiếc cưa tay nhỏ bước lại gần chạc ba nằm giữa sân để tỉa bớt những cành nhỏ cho vừa thùng xe tải.

Bác cúi người, dùng lưỡi cưa róc bớt lớp rêu phong và mùn gỗ mục phủ dày quanh hốc chạc cây. Đột nhiên, lưỡi cưa tay chạm phải một vật cản cứng ngắc, phát ra tiếng kêu "cách" rất khẽ.

Bác Thuận khựng lại. Bác rút cưa ra, dùng bàn tay đeo găng gạt lớp mùn đen xốp sang một bên. Khe hốc gỗ sâu hoắm hiện ra, bên trong có một vật dẹt dài chừng một gang tay đang bị rễ đa non bọc kín, dính chặt vào thớ gỗ mẹ qua hàng chục năm sinh trưởng.

- Chú Thắng ơi, chú bảo vệ ơi, vào đây tôi bảo cái này. - Bác Thuận cất tiếng gọi, giọng bác trầm xuống, xen lẫn một thoáng ngỡ ngàng.

Tôi và ông Thắng bước nhanh lại gần chạc cây. Bác Thuận rút con dao găm nhỏ chuyên dùng gọt cành cây, cẩn thận nạy từng lớp vỏ mục xung quanh vật lạ. Bác làm rất chậm, tỉ mỉ như một người thợ khảo cổ đang khai quật cổ vật dưới lòng đất.

Lớp rễ cây khô giòn tách ra. Bác Thuận nhấc vật thể đó lên lòng bàn tay thô ráp của mình, đưa vạt áo lau sạch lớp bùn đất bám ngoài.

Dưới ánh nắng trưa rực rỡ chiếu rọi qua khoảng sân, vật thể lộ rõ hình hài: một chiếc kẹp tóc bằng chất liệu đồi mồi xưa cũ.

Chiếc kẹp uốn lượn hình cánh bướm thanh mảnh, màu nâu cánh gián xen lẫn những vệt vàng óng ả đặc trưng của mai đồi mồi thượng hạng thời tiền chiến. Trên mặt kẹp vẫn còn giữ nguyên những họa tiết khảm xà cừ nhỏ li ti hình hoa mai, dù lớp vỏ ốc đã xỉn màu và bong tróc vài mảnh theo dòng chảy thời gian. Phần răng kẹp phía sau bằng kim loại đã rỉ sét hoàn toàn, gãy mất hai răng, gắn chặt vào một mẩu xương gỗ mục nát của cây đa.

Cả khoảng sân bỗng chìm vào một sự im lặng tuyệt đối.

Gió hồ Gươm thổi qua rào tôn lay động tà áo bông của tôi. Không ai bảo ai, tất cả thợ thuyền đều bỏ găng tay, đứng lặng nhìn chiếc kẹp tóc nhỏ bé nằm lọt thỏm trong bàn tay người thợ cả.

Đây chính là di vật của cô Ba. Suốt hơn nửa thế kỷ nằm kẹt trong hốc cây đa non, chứng kiến căn nhà đổi dời qua bao thế hệ, chiếc kẹp tóc này đã cùng người thiếu phụ trải qua những năm tháng bi thương nhất của kiếp người. Có lẽ vào cái đêm định mệnh ấy, khi cô nấc lên những tiếng khóc tuyệt vọng cuối cùng trên chạc cây này, chiếc kẹp tóc đã tuột khỏi mái tóc dài buông xõa, rơi vào hốc cây rồi bị những nhánh rễ non lớn dần lên nuốt chửng, bảo bọc lấy nó như một bí mật vĩnh hằng của lòng phố cổ.

Ông Thắng run run đưa hai tay đón lấy chiếc kẹp tóc từ tay bác Thuận. Gương mặt người cán bộ quản lý dự án chùng xuống, ánh mắt gã chứa chan niềm trắc ẩn sâu sắc:

- Tội nghiệp cô quá... Hóa ra lời người già kể lại không sai một ly nào. Cô ấy đã ở đây thật, đã chịu đau đớn ở chính chạc cây này...

Bác Thuận bước lại bàn thờ, cầm lấy chiếc khăn nhiễu điều màu đỏ dùng để phủ hương án mang lại. Bác đỡ lấy chiếc kẹp đồi mồi từ tay ông Thắng, nhẹ nhàng đặt nó vào giữa tấm khăn đỏ rồi bọc lại ngay ngắn.

- Vạn vật hữu linh, chú Thắng ạ. - Bác Thuận nói khẽ - Cây đa đã chở che cho kỷ vật của cô ấy suốt mấy mươi năm qua. Nay cây hạ xuống, di vật này xuất lộ xem như duyên nợ trần gian đã đến ngày giải tỏa. Chú mang gói này đặt lên bàn thờ Phật, lát nữa xe chở cây về chùa Bà Đá thì dâng lên cho các thầy làm lễ hỏa hóa chung cùng thân gỗ. Như thế linh hồn cô mới thực sự nhẹ gánh mà đi.

Ông Thắng gật đầu lia lịa. Gã cung kính bưng bọc khăn đỏ đặt vào chính giữa bàn hương án, ngay cạnh bát hương cắm đầy những chân nhang uốn lượn. Tôi bước tới, châm thêm ba nén nhang mới, khói thơm nghi ngút bay lên quấn quýt lấy tấm khăn đỏ trước khi tan vào bầu trời xanh biếc.

Đến hai giờ chiều, công việc cưa đốn toàn bộ phần thân chính của cây đa hoàn tất. Chiếc gốc sần sùi bám sâu vào nóc gác hai được cẩu nhấc lên nguyên vẹn, đặt cẩn thận vào thùng chiếc xe tải thứ hai.

Toán thợ nhanh chóng thu dọn dây cáp, chổi quét sạch mùn cưa và những mảnh cành vụn vương vãi trên mặt sân. Cánh cổng sắt số 138 mở rộng để hai chiếc xe tải chở đầy những nhánh đa cổ thụ từ từ lăn bánh ra đường. Trên đầu xe, lá cờ ngũ sắc của nhà chùa khẽ bay trong gió sớm, dẫn đường đưa chứng tích trăm năm rời khỏi góc phố Hàng Trống, hướng về khuôn viên thanh tịnh của chùa Bà Đá để chuẩn bị cho lễ hỏa hóa cuối cùng.

Tôi đứng tựa vào cột cổng sắt, ngước nhìn lên khoảng không gian phía trên.

Cây đa cổ thụ từng che khuất cả một góc trời nay đã hoàn toàn biến mất. Khoảng trời xanh ngắt của Hà Nội mở rộng thênh thang ngay trên đầu tôi, sáng rực và khoáng đạt đến bàng hoàng. Nhưng khi bóng mát của tàn cây mất đi, căn nhà số 138 Hàng Trống hiện nguyên hình là một phế tích trơ trọi, tàn tạ đến xót xa.

Khung nhà hai tầng lở loét đứng chơ vơ giữa nắng trưa. Những bức tường vôi nứt toác từng mảng lớn, kèo gỗ mục gãy gục xuống nền gác, phơi bày toàn bộ phần ruột rỗng rác rưởi tích tụ qua hàng chục năm bỏ hoang. Không còn những tán lá đa rậm rạp che chở, căn nhà như một bộ xương khô khốc, bất lực tựa vào những bức tường bao quanh của các công trình lân cận.

Gió từ hồ Hoàn Kiếm thổi thốc qua những khung cửa sổ không còn chấn song, phát ra những tiếng rít u u ghê rợn. Khung vỏ mục nát của chứng tích kiến trúc trăm năm đang run rẩy đứng đợi những nhát búa và gầu xúc cơ giới cuối cùng.

Chương khác

Xem thêm