Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 19: Lập Đàn Cầu Siêu Giải Oan
Tám giờ sáng, cánh cổng tôn quây kín mặt tiền căn nhà số 138 Hàng Trống hé mở vừa đủ cho một chiếc xích lô chở đồ lễ lách qua. Mưa phùn của đợt gió mùa…
Nội dung chương
Tám giờ sáng, cánh cổng tôn quây kín mặt tiền căn nhà số 138 Hàng Trống hé mở vừa đủ cho một chiếc xích lô chở đồ lễ lách qua.
Mưa phùn của đợt gió mùa đông bắc rải một lớp bụi nước mỏng dính lên những tấm bạt dứa xanh đỏ giăng tạm quanh sân. Mặt đường phố Hàng Trống bắt đầu nhộn nhịp tiếng còi xe máy, tiếng rao bánh khúc nóng hòa lẫn nhịp guốc lẹp kẹp của người đi chợ sớm. Trái ngược hoàn toàn với sự tất bật ngoài kia, bên trong khoảng sân phế tích, không khí chùng xuống một vẻ u trầm đặc quánh.
Ông Thắng bước vào đầu tiên. Bộ âu phục đắt tiền của gã phó ban dự án hôm nay được thay bằng chiếc áo khoác gió sẫm màu cài kín cổ. Khuôn mặt gã hốc hác, quầng mắt thâm đen lộ rõ dấu vết của một đêm mất ngủ triền miên. Đi ngay phía sau gã là hai vị sư thầy mặc áo nâu sồng giản dị cùng ba phật tử lớn tuổi của chùa Bà Đá, ngôi cổ tự nằm cách đây chỉ một quãng ngắn rẽ qua ngõ Huyện. Họ mang theo những thùng carton đựng đầy hoa cúc trắng, nến cốc bọc giấy đỏ, hương trầm nén dài và những chồng hoa đăng bằng giấy xếp hình hoa sen.
Tôi buông chiếc chổi tre quét dở đống mùn cưa và mảnh gạch vỡ, bước lại gần đỡ lấy chiếc thùng nặng trên tay vị sư bác trẻ tuổi. Sư thầy dẫn đầu, một người có nét mặt phương phi và ánh mắt trầm tĩnh, ngước nhìn lên vòm lá rậm rạp của cây đa cổ thụ đang trùm kín mái gác hai. Thầy chắp hai tay trước ngực, khẽ niệm một câu Phật hiệu rồi quay sang nói với ông Thắng:
- Đất này oán kết nhiều tầng, gốc rễ bám chặt vào xương thịt căn nhà suốt mấy chục năm qua. Muốn chuyển dời cây cối, giải tỏa mặt bằng, trước hết phải lấy lòng từ bi mà hóa giải nút thắt trong lòng người khuất mặt. Tuyệt đối không được dùng tâm sân hận hay vũ lực trấn áp.
Ông Thắng cúi gập người, hai bàn tay đan chặt vào nhau:
- Thưa thầy, chúng con u mê trăm sự nhờ thầy chỉ dẫn. Hôm qua suýt nữa xảy ra đại họa đổ máu, nay chúng con chỉ mong các hương linh được siêu sinh tịnh độ, không còn ai phải chịu đau đớn oán hờn nữa.
Vị sư thầy gật đầu, ra hiệu cho chúng tôi bắt tay vào việc.
Tôi cùng người thợ phụ xốc lại hai chiếc bàn gỗ dài bốn chân mượn từ nhà dân bên cạnh, kê ngay ngắn giữa khoảng sân gạch vỡ, đối diện trực tiếp với thân rễ xù xì của cây đa. Trên mặt bàn, các phật tử phủ lên một tấm vải vàng thêu hoa sen trang trọng. Không có đầu lợn, không có tiết gà, không có đinh sắt hay bùa chú đỏ quạch như mớ đồ nghề ma thuật hắc ám của gã thầy cúng hôm trước. Đàn tràng được thiết lập hoàn toàn bằng những phẩm vật thanh tịnh của nhà Phật.
Tôi cẩn thận cắm từng cành hoa cúc trắng tinh khiết vào hai chiếc lọ gốm Bát Tràng lớn đặt ở hai đầu hương án. Mùi hương ngai ngái, thanh tao của cúc trắng bốc lên, át đi phần nào mùi ẩm mốc thối rữa của lớp vôi vữa mục nát tích tụ nhiều năm. Giữa bàn đặt một mâm ngũ quả tươi gồm chuối tiêu, bưởi đào, phật thủ, hồng đỏ và cam canh. Xung quanh bày biện hàng chục đĩa nhỏ đựng bánh khảo, chè lam, bỏng ngô, gạo muối sạch và những chén nước trong vắt múc từ giếng chùa.
Ở vị trí trung tâm của đàn tràng, vị sư thầy đặt hai bài vị bằng giấy điều viết mực tàu đỏ thắm. Tấm bên trái đề: "Bản xứ thập loại vô danh cô hồn cập chư vị hương linh". Tấm bên phải, sau một hồi trao đổi nhỏ với tôi về những manh mối ghi lại trong cuốn sổ nhật ký trực ban, thầy cẩn trọng chấm bút lông viết dòng chữ: "Tiếp dẫn hương linh hai vị thiện nữ thác oan tại số nhà 138 Hàng Trống quy y Tam Bảo, vãng sinh Tây Phương Cực Lạc".
Khi nét mực đỏ vừa ráo trên trang giấy, một làn gió bấc bất ngờ thổi thốc qua khe hở của tấm rào tôn. Tán đa phía trên rung lên bần bật, hàng ngàn chiếc lá xanh đen cọ vào nhau tạo thành một tràng âm thanh rào rào buốt lạnh. Những chùm rễ phụ buông lơ lửng giữa không trung khẽ đung đưa qua lại. Vết thương hôm qua bị đục thép khoét sâu trên thân cây vẫn còn để lại một vệt sẹo sẫm màu, nay đã ngừng rỉ nhựa đỏ, nằm im lìm dưới lớp rêu ẩm mục.
Đúng mười giờ trưa, lễ khai đàn bạt độ bắt đầu.
Vị sư thầy khoác lên mình chiếc áo cà sa màu vàng nghệ, tay cầm cành dương liễu nhúng vào chén nước cam lộ thanh tịnh. Thầy bước từng bước chậm rãi quanh gốc đa, vừa đi vừa sái tịnh khắp bốn góc sân, vẩy những giọt nước mát lành lên từng thớ rễ xù xì và chân tường vôi nứt nẻ. Tiếng mõ gõ nhịp đều đặn trầm ấm vang lên giữa không gian ngổn ngang của công trường:
"Cốc... cốc... cốc..."
Tiếng chuông đồng nhỏ trên tay sư bác phụ lễ ngân lên từng hồi trong trẻo, thanh thoát, xua tan đi sự u ám nặng nề đã đè nén góc phố này qua bao mùa mưa nắng. Âm thanh ấy hòa vào tiếng sóng vỗ ì oạp ngoài bờ hồ Hoàn Kiếm, vượt qua những bức tường tôn cao ngất ngưởng, bay vút lên bầu trời mùa đông xám xịt.
Các phật tử ngồi xếp bằng trên những tấm chiếu cói trải tạm dưới đất, đồng thanh cất tiếng tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện. Lời kinh trầm bổng, từ tốn vang vọng khắp gian nhà hoang phế. Tôi đứng chắp tay nép bên cạnh bốt gác, lặng người lắng nghe từng câu kinh kệ giảng giải về cõi luân hồi, về những nỗi khổ đau của chốn u minh, về sự giải thoát khỏi sợi dây trói buộc của hận thù và tiếc nuối.
Qua những khe hở của hàng rào công trường, một vài người dân phố Hàng Trống bắt đầu dừng xe đứng nhìn vào. Họ không còn xì xào bàn tán về chuyện ma quỷ rùng rợn hay chuyện đất đai tranh chấp bạc tỷ. Ánh mắt họ dõi theo làn khói trầm thơm ngát đang bốc lên nghi ngút từ chiếc lư đồng, lan tỏa một cảm giác bình an lạ thường giữa lòng phố thị ồn ã.
Nghi lễ kéo dài liên tục qua buổi trưa mà không hề gián đoạn. Mỗi khi dứt một biến kinh, các phật tử lại thay nhau thắp thêm những nén hương mới, rải từng nắm bỏng nẻ và gạo muối ra bốn phía để ba thí cho chúng sinh vãng lai. Dưới ánh sáng vàng vọt của buổi chiều đông, lớp vỏ cây đa dường như mềm lại, không còn vẻ gai góc, đe dọa như những đêm giông bão trước đây.
Khoảng ba giờ chiều, khi tuần kinh thứ hai đang bước vào giai đoạn hồi hướng, cánh cửa ngách bằng tôn của công trường khẽ lay động.
Một bà lão lưng còng, đầu quấn chiếc khăn len xám màu tro, chân đi đôi dép nhựa mòn vẹt, chầm chậm bước vào sân. Trên tay bà xách một chiếc làn nhựa đã cũ, bên trong đựng mấy thẻ hương trầm quấn giấy điều cẩn thận cùng một bó hoa cúc đại đóa vàng rực. Tôi nhận ra bà ngay lập tức. Đó là bà cụ bán quán nước chè chén đã ngồi ở góc ngã tư Hàng Trống giao với phố Bảo Khánh suốt mấy chục năm qua, người từng nhìn thấy biết bao thăng trầm biến đổi của đoạn phố ven hồ này.
Ông Thắng toan bước ra ngăn lại vì quy định an toàn công trường, nhưng tôi đã kịp đưa tay giữ nhẹ vai gã, lắc đầu ra hiệu. Tôi bước nhanh tới, đỡ lấy chiếc làn nhựa trên tay bà cụ:
- Bà cẩn thận gạch vỡ dưới chân kẻo ngã.
Bà cụ ngước nhìn tôi bằng đôi mắt đục mờ vì tuổi tác, viền mắt đỏ hoe và chằng chịt nếp nhăn. Giọng bà run rẩy, khàn đặc vì gió lạnh:
- Tôi ngồi bán nước đầu phố, nghe tiếng chuông chùa thỉnh từ sáng tới giờ... Tôi biết các anh đang làm lễ cho người ta... Cho tôi xin vào dâng nén hương thơm cho người nằm xuống... Tôi nợ người ta một lời chào mấy mươi năm rồi...
Vị sư thầy dừng nhịp gõ mõ, mỉm cười gật đầu từ bi với bà cụ.
Tôi đỡ bà bước qua đống xà bần ngổn ngang, tiến lại gần mép hương án. Bà cụ run run rút ba nén hương từ bó hương trầm của mình, châm lửa vào ngọn nến cốc đang cháy bập bùng. Làn khói trắng mỏng manh bốc lên, tỏa ra mùi thơm ngọt ngào của trầm tự nhiên xứ Huế. Bà không cắm hương ngay vào bát cát mà ngửa mặt nhìn thẳng lên chạc ba của cây đa trên mái gác hai, nơi rễ phụ buông dày như một bức rèm đen kịt.
Bà cụ sụp lạy ba lạy sát đất, trán chạm vào lớp bụi gạch vôi. Hai bờ vai gầy guộc của bà rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào. Trong tiếng gió hồ rít qua kẽ lá, tôi nghe rõ mồn một từng lời thì thầm đứt quãng phát ra từ đôi môi móm mém của bà lão:
- Khấn lạy hương linh cô Nguyễn Thị Ngọc Lan... Em gái ơi... Tôi là con bé bán lạc luộc đầu phố năm xưa đây... Năm bốn mươi chín cô hay mua lạc của tôi, cô hay cho tôi chiếc bánh khảo mỗi chiều... Năm năm tư người ta kéo đến gỡ cô xuống khỏi cành đa non... lúc ấy tôi mới mười sáu tuổi, đứng chết trân bên đường nhìn người ta khiêng chiếc chiếu hoa bọc xác cô đi...
Trống ngực tôi đập dồn dập từng hồi dữ dội. Tôi nín thở, lắng nghe từng âm tiết thiêng liêng vừa được thốt ra giữa đàn tràng.
Nguyễn Thị Ngọc Lan. Đó chính là tên cúng cơm thực sự của người phụ nữ mang thai bị phụ bạc, người mà suốt nửa thế kỷ qua dân gian phố cổ chỉ gọi bằng cái tên mơ hồ đầy ma quái: cô Ba. Huyền tích truyền miệng trên các diễn đàn mạng, những lời đồn thổi kinh hoàng về bóng ma chải tóc trên ngọn cây, bức tranh quá khứ chắp vá qua những mẩu chuyện của đám lái xích lô đêm, tất cả vào lúc này đã được xác thực bằng xương bằng thịt qua lời nhân chứng sống cuối cùng của khu phố.
Bà cụ gạt giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, ngước nhìn lên bài vị bằng giấy điều:
- Mấy mươi năm cô mắc kẹt ở cành cây này, chịu bao nhiêu gió rét, chịu bao nhiêu lời cay độc của người đời... Nay có kinh Phật chỉ đường, có thầy chùa tiếp dẫn, cô buông bỏ hết đi cô ơi... Người phụ bạc cô cũng đã thành nắm tro tàn dưới đất từ lâu rồi... Đừng ôm mối hận mà giam mình trên mái nhà hoang này nữa...
Bà cắm ba nén hương vào chiếc bát đồng lớn. Lạ lùng thay, ba đốm lửa đỏ rực bỗng bùng lên một tia sáng nhỏ, tàn hương không rơi rụng xuống mặt bàn mà uốn cong lại thành một vòng tròn hoàn hảo, kết thành hình một bông hoa sen nhỏ xíu trên đầu nén nhang.
Bà lão lại quay sang tấm bài vị thứ hai, nơi dành cho người vợ trẻ bị sát hại vào đêm mưa năm 1999:
- Cả cô gái trẻ xấu số nữa... Chồng cô người ta đã chuyển đi nơi khác làm ăn, xây dựng lại cuộc đời rồi... Chuyện trần gian đã dứt, duyên nợ kiếp này coi như đã trả xong... Cô đừng đứng ở cửa gác chờ đợi người ta trong mưa gió nữa... Hãy theo chân Phật mà đi về cõi an lành...
Từng lời nói mộc mạc, chân thành thấm đẫm tình người của bà cụ bán nước chè như chiếc chìa khóa cuối cùng mở tung cánh cửa u uất bấy lâu nay của căn nhà số 138. Không khí buốt giá xung quanh khoảng sân đột nhiên chùng xuống, trở nên ấm áp một cách kỳ lạ. Mùi tanh tưởi của tử khí hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại mùi khói trầm, mùi hoa cúc trắng và hơi thở thanh sạch của đất trời buổi giao mùa.
Bà lão làm lễ xong, từ chối lời mời nhận tiền công đức của ông Thắng. Bà chỉ xin lại một bông cúc trắng trên bàn thờ rồi lặng lẽ chống gậy bước ra cổng, bóng lưng còng của bà khuất dần sau dòng người xuôi ngược trên vỉa hè phố Hàng Trống.
Trời sụp tối rất nhanh. Gió mùa đông bắc mang theo những hạt mưa phùn dày hơn, quất ràn rạt vào những tán cây ven hồ Gươm.
Ánh đèn cao áp màu vàng vọt từ phía bờ hồ bật sáng, hắt qua rào tôn chiếu rọi vào khoảng sân phế tích. Nhưng đêm nay, dưới luồng sáng thủy ngân quen thuộc ấy, những bóng rễ đa in trên bức tường vôi nứt nẻ không còn tạo thành hình thù người phụ nữ ngồi rũ rượi chải tóc hay những móng vuốt quái dị cào xé trong đêm. Hàng trăm ngọn nến hoa đăng xếp quanh chân gốc cây lung linh tỏa sáng, soi rõ từng lớp rêu phong già cỗi đang từ từ khô ráo.
Tiếng tụng kinh của các thầy chùa Bà Đá kéo dài cho đến tận chín giờ đêm.
Sau khi hoàn tất nghi thức quy y Tam Bảo và hồi hướng công đức cho các chân linh, vị sư thầy bước lại gần tôi và ông Thắng. Thầy đưa cho tôi một hộp nến sáp lớn cùng một bọc trầm vụn:
- Đàn tràng đã trọn vẹn, oán khí đã tan biến theo lời kinh tiếng kệ. Đêm nay là đêm canh thức cuối cùng trước khi các vị thi công hạ giải cây đa. Hãy giữ cho ngọn nến trên hương án này cháy sáng liên tục cho đến rạng sáng mai. Không được để lửa tắt, không được để mùi hương trầm gián đoạn.
Ông Thắng chắp tay vâng dạ rối rít. Gã nhìn tôi bằng ánh mắt đầy sự tin tưởng xen lẫn hàm ơn:
- Đêm nay... trăm sự nhờ chú mày trông nom hộ. Sáng sớm mai đội cơ giới của công ty công viên cây xanh sẽ mang xe cẩu chuyên dụng và thiết bị hạ giải tới. Tôi sẽ có mặt từ năm giờ sáng cùng các anh em.
Đoàn người nhà chùa cùng ban quản lý dự án lần lượt ra về. Cánh cổng sắt nặng nề khép lại, khóa chặt bên trong một khoảng không gian tĩnh mịch chưa từng có.
Tôi một mình đứng lại giữa khoảng sân hoang tàn của số nhà 138 Hàng Trống.
Mưa ngoài hồ đã dứt hẳn. Gió vẫn thổi đều đều qua những tán lá rậm rạp trên nóc nhà, nhưng tiếng xào xạc dữ dội mọi đêm nay chỉ còn là những thanh âm êm dịu, nhịp nhàng như một tiếng thở dài nhẹ nhõm sau một cơn mộng mị kéo dài đằng đẵng hơn năm mươi năm.
Tôi bước lại gần bàn thờ, cẩn thận gạt những tàn hương đã rụng, thắp thêm hai ngọn nến mới vào dãy hoa đăng xếp quanh chân gốc đa. Ánh lửa bập bùng phản chiếu lên những cánh hoa cúc trắng muốt đang rung rinh trong gió lạnh.
Mùi trầm hương thơm ngát bao bọc lấy tôi, ấm áp và chở che. Tôi kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống hiên gác hai, mở cuốn sổ trực ban đặt lên đùi, bắt đầu ca trực đêm đặc biệt nhất trong cuộc đời mình. Đêm canh thức cho một chứng tích bi thương sắp sửa vĩnh viễn lùi vào dĩ vãng của lòng phố cổ.