Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 20: Bát Hương Và Vòng Hoa Thạch Thảo Tím
Tôi bấm chiếc khóa Việt Tiệp nặng trịch vào then cài cánh cổng tôn che chắn mặt tiền số 138 Hàng Trống. Tiếng kim loại va chạm phát ra âm thanh khô khốc…
Nội dung chương
Tôi bấm chiếc khóa Việt Tiệp nặng trịch vào then cài cánh cổng tôn che chắn mặt tiền số 138 Hàng Trống. Tiếng kim loại va chạm phát ra âm thanh khô khốc giữa lòng phố khuya. Bên ngoài vỉa hè, dòng người xe cộ thưa thớt dần theo từng đợt gió rét cuối năm thổi từ mặt nước hồ Hoàn Kiếm sang. Những chuyến xích lô đêm chở khách muộn thi thoảng lướt qua lòng đường nhựa ướt lạnh, bánh xích rít lên kẽo kẹt đều đặn rồi nhanh chóng chìm nghỉm vào bóng tối phía ngã ba Lê Thái Tổ.
Hà Nội vào những ngày giáp Tết năm 2006 chìm trong lớp sương mù dày đặc và giá buốt. Nhưng khác với chuỗi ngày u ám trước đây, khoảng sân hoang phế sau lưng tôi đêm nay sáng bừng ánh lửa. Hơn ba mươi ngọn nến hoa đăng xếp vòng quanh gốc đa cổ thụ vẫn đang cháy đều, bao bọc lấy những bông hoa cúc trắng tinh khôi mà đoàn nhà chùa Bà Đá để lại từ chiều.
Tôi quay người bước lại gần chiếc bàn gỗ phủ vải vàng đặt giữa sân. Bát hương đồng lớn nghi ngút khói trầm. Từng sợi khói trắng cuộn tròn bay thẳng lên không trung, quyện chặt vào những chùm rễ phụ rủ xuống từ mái hiên gác hai. Lời dặn của vị sư thầy vẫn còn văng vẳng bên tai: tuyệt đối giữ cho lửa nến không tắt, giữ cho hương trầm không dứt suốt đêm nay. Đây là đêm canh thức cuối cùng, đêm giáp ranh trước khi những mũi cưa máy của công ty công viên cây xanh chính thức hạ giải chứng tích nửa thế kỷ trên nóc căn nhà cổ.
Tôi mở phích nước Rạng Đông, rót một dòng nước sôi sủi tăm vào chiếc ấm sứ Bát Tràng cũ khao. Vị trà Thái Nguyên mạn chát đậm lan trên đầu lưỡi, kéo theo hậu ngọt làm ấm hẳn khoang ngực đang tê cóng vì gió bấc. Cầm theo đèn pin và cuốn sổ nhật ký bìa da sờn góc, tôi men theo những bậc thang gỗ ọp ẹp tiến lên sàn gác hai.
Chiếc cầu thang này suốt mấy tuần qua từng là nỗi khiếp đảm của cánh thợ xây. Mỗi bước chân giẫm lên thớ gỗ mủn đều phát ra tiếng cót két rợn người, tựa hồ có ai đó đang lén lút bám sát ngay gót chân. Nhưng đêm nay, từng bậc gỗ nằm im lìm dưới đế giày bảo hộ của tôi, vững chãi đến lạ lùng. Không còn hơi lạnh thấu xương phả ra từ các góc tường ẩm mốc. Thứ mùi tanh nồng của tử khí hay mùi ngai ngái của rêu úa thường ngày đã bị xua tan hoàn toàn bởi hương trầm thanh sạch bốc lên từ đàn tràng dưới sân.
Tôi đặt chiếc ghế đẩu bằng gỗ lim sát ra mép lan can gác hai, nơi có thể nhìn bao quát toàn bộ tán đa và một góc hồ Gươm bên kia đường. Từ vị trí này, ánh đèn cao áp màu vàng vọt ngoài phố rọi thẳng qua những tán lá rậm rạp, hắt lên mảng tường vôi loang lổ vết nứt của căn nhà hoang.
Tôi ngước mắt nhìn lên bức tường quen thuộc ấy.
Suốt hai mươi chín đêm trực vừa qua, hiện tượng thị giác Pareidolia kết hợp cùng nỗi hoang mang tột độ đã biến mảng tường này thành một cơn ác mộng sống động. Ánh sáng vàng chói lóa xuyên qua kẽ lá đung đưa trong gió từng tạo thành những hình thù quái dị khôn cùng. Có những đêm mưa phùn, tôi đã thấy trên nền vôi nứt bóng dáng một người phụ nữ tóc dài rũ rượi ngồi vắt vẻo, hai tay cào cấu từng mảng vữa mục nát. Có những đêm gió lốc gầm rú, bóng của những chùm rễ đa rủ xuống lại biến thành những móng vuốt đen đúa vươn dài, chực vồ lấy bất cứ ai dám bén mảng đến gần chạc cây quyên sinh của cô Ba.
Nhưng giờ đây, quy luật quang học của ánh sáng và bóng tối vẫn diễn ra trước mắt tôi, bóng của chùm lá đa vẫn in hằn lên nền tường vôi xám xịt, song đường nét lại mang một sắc thái hoàn toàn khác biệt.
Vết nứt chân chim kéo dài từ xà nhà xuống sàn gác vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Tuy nhiên, các chùm lá rung rinh trong gió nhẹ lại vô tình che bớt những mảng bóng sắc nhọn hung dữ. Ánh đèn cao áp hắt qua kẽ hở tạo nên một hình bóng mềm mại, uốn lượn như tà áo dài buông rủ thanh thản. Ở phần chạc cây phía trên, bóng một nhánh đa non khẽ nghiêng xuống, tạo thành góc nghiêng nhẹ nhàng của một người phụ nữ đang cúi đầu tạ từ.
Không còn ánh mắt oán hờn trừng trừng dọi xuống từ nóc nhà. Không còn tư thế giãy giụa bi thảm của một linh hồn bị giam hãm. Chiếc bóng in trên nền vôi nứt giờ đây toát lên vẻ an nhiên, tĩnh lặng, tựa như một người đã trút bỏ được gánh nặng đằng đẵng qua nhiều thập kỷ gió sương.
Tôi hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng gió lành lạnh thổi qua hàng rào tôn.
Mở cuốn sổ nhật ký đặt trên đùi, tôi bật chiếc đèn pin nhỏ kẹp vào mép bìa, nắn nót ghi lại những dòng suy nghĩ của đêm trực thứ ba mươi. Ngòi bút bi gai góc cào nhẹ trên mặt giấy ố vàng:
"22 giờ 30 phút. Đêm thứ ba mươi canh giữ căn nhà 138 Hàng Trống. Đàn tràng giải oan đã phát huy công đức. Hàn khí tan rã. Tán cây đứng sừng sững trong ánh sáng đèn hoa đăng, không còn tiếng gầm rít dọa dẫm. Mọi dấu vết hung bạo của những ngày bùa chú trấn yểm đã được gột rửa bằng sự từ bi và chân thành."
Viết xong đoạn nhật ký, tôi ngẩng đầu nhìn chiếc đồng hồ đeo tay Liên Xô cũ kỹ. Kim dài đang chậm rãi nhích từng vạch nhỏ, tiến dần về con số mười hai.
Chỉ còn mười phút nữa là bước sang 23 giờ đêm.
Lồng ngực tôi bất giác thắt lại một nhịp theo phản xạ quen thuộc. Suốt cả tháng trời làm việc tại công trường này, 23 giờ đêm luôn là mốc thời gian kinh hoàng nhất. Đó là thời khắc định mệnh năm 1999, khi người vợ trẻ ngồi chờ chồng bên mâm cơm nguội lạnh rồi bị toán cướp sát hại dã man trong cơn mưa bão. Đó cũng là khung giờ mà theo lời kể của những người già quanh phố cổ, vong linh cô Ba thường xuất hiện trên chạc ba cây đa cất lên tiếng khóc than ai oán làm kinh động cả một góc phố Hàng Trống.
Mỗi khi kim đồng hồ chỉ đúng 23 giờ, gió từ lòng hồ Gươm thường đổi chiều đột ngột, cuộn thành những cơn lốc xoáy thốc mạnh vào các khe cửa sổ vỡ vụn. Sau đó sẽ là tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch trên sàn gác mục, tiếng đập cửa rầm rầm tuyệt vọng tìm kiếm lối thoát, và tiếng rễ cây cọ xát vào mái ngói nghe rợn tóc gáy.
Tôi nín thở, đặt hai bàn tay lên đùi, mắt dán chặt vào mặt đồng hồ.
Năm phút.
Ba phút.
Một phút.
Chiếc kim giây nhảy nốt một nhịp khô khốc. Đúng 23 giờ đêm.
Tôi căng tai lắng nghe, toàn bộ dây thần kinh trên cơ thể đều gồng lên để đón nhận cơn thịnh nộ quen thuộc của phế tích.
Thế nhưng, không có bất kỳ cơn lốc nào ập tới.
Từ phía bên kia bờ hồ, tiếng chuông đồng hồ từ bưu điện Hà Nội thong thả điểm mười một tiếng ngân nga, âm thanh trầm ấm bay qua làn sương mỏng, lọt qua khe tôn rồi rơi tõm vào khoảng sân hoang tàn.
Ngay khi tiếng chuông cuối cùng tan biến, một hiện tượng kỳ lạ diễn ra trước mắt tôi: toàn bộ gió bấc ngoài phố đột ngột ngừng hẳn. Mặt nước hồ Hoàn Kiếm phía xa phẳng lặng như một tấm gương đen khổng lồ soi bóng tháp Rùa. Những tán cây ven đường Lê Thái Tổ rủ xuống bất động, không còn một chiếc lá nào lay chuyển.
Bên trong khuôn viên số 138 Hàng Trống, không gian rơi vào một trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối.
Sự tĩnh lặng sâu thẳm đến mức tôi có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng tàn hương rơi khẽ xuống mặt bàn gỗ ở tầng dưới, nghe thấy cả tiếng bấc đèn cháy tí tách giữa những chén hoa đăng. Những cành đa rậm rạp trên nóc nhà đứng im phăng phắc giữa màn đêm mùa đông. Những chùm rễ phụ buông dài trơ trọi, buông lỏng hoàn toàn như những dải lụa mềm mại rủ xuống mái hiên, không còn vẻ căng cứng co quắp như móng vuốt của một con thú dữ sẵn sàng vồ mồi.
Không có tiếng bước chân chạy loạn xạ bên trong căn nhà trống. Không có tiếng gõ cửa tuyệt vọng tìm chồng của người thiếu phụ năm 1999. Không có tiếng rên xiết ai oán của người con gái lỡ bước trước năm 1954.
Mọi oán hận, mọi cay đắng, mọi u uất tích tụ qua hơn nửa thế kỷ dường như đã được hóa giải trọn vẹn trong buổi lễ chiều nay. Lời kinh cầu siêu của các vị cao tăng chùa Bà Đá, nén hương mộc mạc và những giọt nước mắt trắc ẩn của bà cụ hàng nước chè đã cởi bỏ những sợi dây vô hình đang trói buộc các vong linh khốn khổ vào từng thớ gỗ, từng viên gạch đổ nát. Họ đã buông tay. Họ đã chấp nhận rời bỏ chốn trần gian đầy rẫy khổ đau này để đi về cõi an lạc, để lại căn nhà cổ này đúng với bản chất thật của nó: một xác nhà vô tri đang chuẩn bị hoàn thành sứ mệnh lịch sử trước dòng chảy phát triển của đô thị.
Tôi ngồi lặng người trên chiếc ghế đẩu, cảm nhận một luồng hơi ấm kỳ lạ lan tỏa khắp cơ thể. Cơn ớn lạnh dọc sống lưng biến mất hoàn toàn. Thay vào đó là một sự nhẹ nhõm vô bờ bến, một cảm giác bình yên chưa từng có kể từ ngày tôi đặt chân đến mảnh đất vàng đầy ám ảnh này để nhận ca trực đêm.
Tôi đứng dậy, bước ra sát lan can gác hai, đưa tay chạm nhẹ vào một nhánh rễ đa buông ngay trước mặt. Vỏ rễ xù xì, thô ráp nhưng khô ráo và ấm áp, không còn rỉ ra những giọt nhựa đỏ thẫm như máu tươi giống buổi sáng hôm thầy Bát dùng búa đục trấn yểm. Thân cây đứng đó, trầm mặc đón nhận những giờ khắc cuối cùng của đời mình.
Tôi đi xuống cầu thang gỗ, bước ra giữa khoảng sân gạch vỡ.
Dưới ánh sáng lung linh của ba mươi ngọn đèn hoa đăng, chân gốc đa phủ một lớp rêu xanh mướt mát mắt. Tôi cúi người, nhặt một nhúm trầm vụn trong gói giấy của nhà chùa, cẩn thận rải đều lên đĩa than đỏ rực trong lư hương. Làn khói thơm ngọt ngào lại bốc lên nghi ngút, bao trùm lấy chân bồ đề và hai tấm bài vị bằng gỗ sơn son.
Tôi chắp tay trước ngực, cúi đầu vái ba vái thật sâu trước bàn thờ:
- Đêm nay gió đã lặng, đường về cõi sáng đã mở rộng thênh thang. Xin các cô hãy yên lòng buông bỏ tất cả mà siêu sinh tịnh độ. Người đời sau sẽ không còn ai nhắc đến nơi này bằng sự sợ hãi hay thù ghét nữa. Mọi chuyện đau thương xin hãy để lại cho cát bụi trần ai.
Nói xong, tôi ngẩng đầu nhìn lên chạc ba cây đa non mọc trên góc mái ngói.
Dưới ánh sáng vàng dịu của ngọn nến hoa đăng phản chiếu lên cao, chạc cây ba nhánh nơi từng chứng kiến sự kết thúc bi thảm của một kiếp người đang nằm yên bình trong bóng đêm. Từng nhánh lá xanh thẫm khẽ xòe ra che chở cho mái ngói mục nát, giống như một bàn tay gầy guộc đang ôm lấy những mảnh ký ức cuối cùng trước khi nhường chỗ cho những công trình hiện đại của tương lai.
Tôi rút bao thuốc lá trong túi áo bông, châm một điếu rồi ngồi bệt xuống bậc thềm gạch trước cửa bốt gác.
Đêm trôi qua êm đềm đến lạ thường. Đồng hồ điểm một giờ, rồi hai giờ, ba giờ sáng.
Cả góc phố Hàng Trống chìm sâu trong giấc ngủ mùa đông. Thỉnh thoảng, tiếng chổi tre quét rác xào xạc của những cô công nhân vệ sinh môi trường vọng lại từ phía tượng đài Lý Thái Tổ, nhịp nhàng và thân thuộc như nhịp đập bình dị của mảnh đất kinh kỳ. Tôi không hề cảm thấy buồn ngủ. Tâm trí tôi hoàn toàn tỉnh táo, bình thản tận hưởng từng phút giây của đêm canh thức đặc biệt này.
Bốn giờ ba mươi phút sáng.
Bầu trời phía đông bên kia hồ Gươm bắt đầu chuyển dần từ màu mực đen sang sắc xám nhạt của rạng đông. Sương mù trên mặt nước hồ bốc lên là là, lượn lờ qua những rặng liễu khẳng khiu ven bờ.
Dưới sân, ba mươi ngọn nến hoa đăng đã cháy gần hết phần sáp, chỉ còn lại những đốm lửa nhỏ le lói nhưng kiên cường giữ vững ánh sáng cho đến phút cuối. Mùi trầm hương vẫn thoang thoảng trong không khí ban mai trong lành, mát rượi.
Từ đầu phố Hàng Trống, tiếng động cơ gầm rú phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm.
Một chiếc xe tải cẩu chuyên dụng cỡ lớn mang biển hiệu của Công ty Công viên Cây xanh Hà Nội từ từ lăn bánh tiến về phía cổng rào số 138, theo sau là chiếc xe con màu bạc của ban quản lý dự án. Ánh đèn pha xe ô tô quét loang loáng qua lớp tôn rào, báo hiệu một ngày làm việc trọng đại đã chính thức bắt đầu.
Cửa ô tô bật mở. Ông Thắng phó ban quản lý bước xuống xe trong chiếc áo khoác dày cộp, gương mặt lộ rõ vẻ căng thẳng và lo âu sau một đêm dài mất ngủ. Đi cùng gã là tay cai thầu xây dựng và một toán thợ cưa lành nghề gồm sáu người, trên tay ai nấy đều lỉnh kỉnh dây cáp bảo hiểm, cưa máy cầm tay và thang thép chuyên dụng.
Ông Thắng tiến lại gần cổng sắt, ngập ngừng nhìn qua khe hở rồi cất tiếng gọi khẽ:
- Chú bảo vệ ơi... Chú còn thức bên trong không đấy?
Tôi đứng dậy phủi sạch lớp bụi vôi bám trên vạt áo bông, bình tĩnh mở chốt then cài cánh cổng sắt kéo sang hai bên:
- Tôi vẫn thức từ tối qua tới giờ, anh Thắng. Mọi chuyện trong này đều bình an vô sự.
Ông Thắng bước nhanh vào sân, ánh mắt đảo quanh một lượt từ bàn thờ hoa cúc trắng đến hàng nến hoa đăng vẫn đang âm ỉ cháy quanh gốc đa. Gã hít sâu một hơi dài, ngửi thấy mùi trầm hương thanh khiết thay vì mùi tử khí tanh nồng mọi khi, vẻ căng thẳng trên gương mặt gã mới giãn dần ra. Gã vỗ mạnh vào vai tôi, giọng nói xúc động:
- Tốt quá... Chú em vất vả cả đêm rồi. Tôi ở nhà mà ruột gan cứ cồn cào như có lửa đốt, chỉ sợ nửa đêm lại xảy ra chuyện chẳng lành như mấy hôm trước. Thấy chú bình an, bàn thờ yên ả thế này là tôi mừng lắm.
Tay cai thầu dẫn toán thợ cưa bước vào sân. Đám thợ nhìn quanh phế tích hoang tàn với ánh mắt dè chừng, cẩn trọng. Một người thợ cưa lớn tuổi, mái tóc hoa râm, cởi chiếc mũ len xuống, bước lại gần bàn hương án chắp tay vái ba vái thật thành kính rồi quay lại nói với toán thợ:
- Đất đã sạch, tâm đã an. Anh em chuẩn bị dây cáp và kiểm tra cưa máy đi. Đợt này chúng ta hạ giải nhẹ nhàng, tuyệt đối không được báng bổ thô bạo. Từng cành cây đốn xuống phải thu gom gọn gàng để chuyển sang chùa làm lễ hỏa hóa theo đúng lời dặn của các thầy.
Toán thợ đồng thanh dạ ran, tiếng kim loại lách cách bắt đầu vang lên rộn rã khắp khoảng sân.
Ánh bình minh đầu tiên của ngày mới rọi xuyên qua lớp sương mù dày đặc bên bờ hồ Gươm, dát một vệt sáng màu hồng nhạt lên những tán lá đa già nua trên nóc nhà số 138 Hàng Trống. Gió sớm khẽ lay động những cành cây trơ trụi như một lời chào vĩnh biệt.
Tôi ngước nhìn cây đa cổ thụ lần cuối cùng trước khi những mũi cưa máy bắt đầu khởi động. Bản trường ca u uất kéo dài hơn nửa thế kỷ sắp sửa bước sang chương kết thúc, nhường chỗ cho sự đổi thay tất yếu của đất trời và lòng người nơi phố cổ.