Căn Nhà Số 138 Hàng Trống - Chương 23: Thủ Tục Cấp Phép Di Sản Hồ Gươm Đình Trệ

Rời khỏi công trường phá dỡ số 138 Hàng Trống vào những ngày giáp Tết năm 2006, tôi nộp lại chiếc thẻ bảo vệ tạm thời cho đơn vị chủ quản rồi tìm một…

Nội dung chương

Rời khỏi công trường phá dỡ số 138 Hàng Trống vào những ngày giáp Tết năm 2006, tôi nộp lại chiếc thẻ bảo vệ tạm thời cho đơn vị chủ quản rồi tìm một công việc mới. Tôi chuyển sang làm nhân viên trực kho kiêm chân bảo vệ ca ngày cho một nhà sách tư nhân nằm trên phố Tràng Thi, cách bờ hồ Hoàn Kiếm chừng vài trăm mét đi bộ. Công việc mới đỡ vất vả hơn, không còn cảnh phải ngồi cô độc giữa đêm đen lắng nghe tiếng gió rít qua những khe tường nứt nẻ, cũng không còn những cơn ớn lạnh dọc sống lưng mỗi khi nhìn lên tàn cây rậm rạp.

Thế nhưng, thói quen đi dạo ven hồ sau giờ làm việc vẫn bám rễ sâu trong nếp sinh hoạt của tôi.

Cứ chiều muộn hoặc những tối rảnh rỗi, tôi lại thả bộ từ ngã tư Tràng Thi - Quang Trung, rẽ sang phố Hàng Trống rồi dừng chân thật lâu phía bên kia đường, đối diện với mảnh đất cũ. Căn nhà cổ hai tầng với cây đa sừng sững trên nóc đã hoàn toàn biến mất khỏi thực tại. Thay vào đó là một bức tường tôn màu xanh lục cao hơn hai mét, quây kín toàn bộ chu vi khu đất rộng lớn trải dài từ mặt đường Hàng Trống vát sang góc nhìn hướng thẳng ra mặt nước hồ Gươm.

Những ngày đầu sau khi công trình bị san phẳng, khu vực này từng là tâm điểm chú ý của dư luận thành phố. Người ta bàn tán sôi nổi trên báo chí về việc dự án khách sạn cao cấp bị đình trệ. Khu đất nằm ngay trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của quần thể di tích quốc gia hồ Hoàn Kiếm, nơi từng tấc đất, từng chiều cao công trình đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc. Chiều cao tối đa của các tòa nhà xây mới quanh bờ hồ bị khống chế gắt gao để không phá vỡ cảnh quan mặt nước và bóng dáng Tháp Rùa cổ kính. Hồ sơ thiết kế bị trả về nhiều lần, các cuộc họp giữa những ban ngành văn hóa, xây dựng và chủ đầu tư kéo dài hết mùa này sang mùa khác mà chưa tìm được tiếng nói chung.

Thế là dự án rơi vào trạng thái im lìm kéo dài.

Bức tường tôn xanh dựng lên ban đầu còn sáng bóng dưới ánh mặt trời tháng Giêng, nhưng chỉ sau hai năm mưa nắng nhiệt đới đã bắt đầu ngả màu ố rỉ. Bụi đường, khói xe máy cùng những cơn mưa rào mùa hạ phủ lên mặt tôn những vệt váng nâu sẫm. Trên bề mặt kim loại ấy, cánh thợ dán tờ rơi nhanh chóng biến nó thành một tấm bảng tin hỗn tạp của đời sống đô thị nghèo: chi chít những mẩu giấy in số điện thoại khoan cắt bê tông, dịch vụ thông hút bể phốt, gia sư tại nhà và cho thuê phòng trọ sinh viên.

Tôi nhiều lần áp mắt vào một khe hở nhỏ giữa hai tấm tôn ghép lệch để nhìn vào khoảng không gian bên trong.

Khoảng đất rộng hàng trăm mét vuông từng chứa đựng ngôi nhà hoang giờ đây hoàn toàn phơi mình dưới bầu trời rộng lớn. Ánh nắng ban trưa rọi thẳng xuống từng mét đất, sưởi ấm những viên gạch vỡ còn sót lại sau đợt dọn dẹp xà bần năm 2006. Cây đa cổ thụ từng buông rễ ngột ngạt trên nóc nhà đã không còn dấu vết, chỉ có đám cỏ dại, cây ngũ sắc và những bụi tầm ma thi nhau mọc lên xanh um tùm, phủ kín phần móng gạch cũ kỹ. Côn trùng rả rích kêu ran trong những vũng nước đọng sau cơn mưa rào, tạo nên một khoảng hoang dã kỳ lạ nằm lọt thỏm giữa lòng khu phố cổ sầm uất nhất Hà Nội.

Khoảng đất trống ấy cứ nằm đợi thời gian, lặng lẽ và nhẫn nại suốt từ năm 2006, 2007 rồi bước qua những năm 2008, 2009.

Khoảng giữa năm 2010, nhân dịp kỷ niệm đại lễ một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, phố xá quanh hồ Gươm được chỉnh trang lộng lẫy. Vỉa hè Hàng Trống được lát lại đá sạch sẽ, những cột đèn chiếu sáng công cộng mang phong cách cổ điển được dựng lên dọc bờ hồ, tỏa ánh sáng vàng dịu dàng xuống lòng đường. Bức tường tôn của khu đất 138 cũng được chủ đầu tư sơn lại một lớp sơn màu xanh đậm mới tinh, gỡ bỏ toàn bộ tờ rơi rác rưởi để giữ mỹ quan cho ngày hội lớn của thủ đô.

Vào một buổi chiều thu năm ấy, khi đi dạo qua vỉa hè Hàng Trống, tôi nhìn thấy một quán trà đá quen thuộc nép mình ngay dưới chân bức tường tôn số 138. Quán chỉ gồm một chiếc bàn gỗ con con, dăm ba chiếc ghế nhựa thấp tè, một chiếc phích nước Rạng Đông bọc vỏ nhựa đỏ và chiếc điếu cày bằng tre bóng loáng nước thời gian.

Chủ quán là một bà cụ tóc bạc trắng, lưng còng, mặc chiếc áo cánh màu nâu sồng giản dị. Ngồi trên chiếc ghế gỗ dài cạnh bàn trà là bác Lập, người lái xích lô già năm xưa từng chở tôi qua ngã tư Tràng Thi trong những đêm trực đầy ám ảnh.

Tôi bước lại gần, khẽ cất tiếng chào:

- Cháu chào bác Lập. Bác còn nhận ra cháu không?

Bác Lập ngẩng đầu lên khỏi làn khói thuốc lào vừa phả ra, đôi mắt nheo lại nhìn tôi chăm chú qua cặp kính lão gọng sắt. Vài giây sau, khóe mắt đầy nếp nhăn của người phu xe giãn ra, gã đập mạnh tay xuống đùi rồi reo lên:

- Ơ kìa! Chú em bảo vệ gác đêm ở căn nhà đổ năm nào đây mà! Lâu lắm rồi mới thấy chú em qua đây. Ngồi xuống đi, làm chén trà nóng với bác cho ấm bụng!

Tôi kéo chiếc ghế nhựa ngồi xuống cạnh bác Lập, gọi bà cụ một chén trà xanh nóng và hai chiếc kẹo lạc. Nhấp một ngụm trà chát đậm nơi đầu lưỡi rồi ngọt dần nơi cuống họng, tôi đưa mắt nhìn lên bức tường tôn xanh phía sau lưng bà cụ.

- Bác dạo này vẫn chạy xích lô quanh hồ chứ ạ? - Tôi hỏi khẽ.

- Vẫn chạy đều chú em ạ. - Bác Lập cười khà khà, với tay lấy chiếc điếu cày gõ nhẹ xuống nền gạch vỉa hè để thông nỏ - Già rồi, sức khỏe không còn sung mãn như chục năm trước, nhưng cái nghề đạp xe này nó ngấm vào máu rồi, ở nhà vài hôm là bứt rứt chân tay không chịu nổi. Ngày chở khách du lịch ngắm phố phường, tối lại chạy túc tắc vài chuyến quanh bờ hồ kiếm đồng ra đồng vào mua gói thuốc chén trà.

Tôi ngừng lại một nhịp, quan sát gương mặt bình thản của bác Lập rồi hỏi tiếp:

- Mấy năm nay khu đất này quây tôn kín mít, cánh lái xe đêm các bác chạy qua đây còn gặp chuyện gì lạ lùng nữa không?

Nghe tôi nhắc đến chuyện cũ, bà cụ bán trà đá đang tráng chén bên cạnh cũng ngừng tay, ngước mắt lên lắng nghe. Bác Lập đặt điếu cày tựa vào chân bàn, ánh mắt nhìn ra mặt nước hồ Gươm đang dập dềnh sóng nhẹ trong gió heo may:

- Hết sạch rồi chú em ạ. Từ cái đợt đầu năm 2006, sau khi người ta cho hạ cái cây đa cổ thụ, làm lễ cầu siêu rồi chuyển cây về chùa Bà Đá, cái dớp nặng nề ở góc phố này xem như tan biến hết. Cánh xích lô chúng tôi mấy năm nay chạy đêm qua đây tuyệt nhiên không còn ai thấy bóng dáng người phụ nữ mặc áo dài xanh đứng đợi xe dưới cột đèn nữa. Càng không có chuyện ai đó nhận tiền cuốc xe rồi sáng hôm sau mở bao diêm ra thấy toàn lá đa khô mục nát.

Bà cụ bán trà đá chen lời, giọng nói ấm áp đặc trưng của người phụ nữ phố cổ:

- Tôi ngồi bán nước ở góc vỉa hè này từ năm 2008 đến giờ. Ngày trước khi căn nhà cũ còn đứng đấy, ban ngày người ta đi qua còn bước vội bước vàng vì sợ cái lạnh tanh toát ra từ mấy gốc rễ đa. Ban đêm thì chẳng ai dám bén mảng lại gần vì nghe đồn có tiếng người khóc than thảm thiết trên nóc gác hai. Nhưng từ hồi giải tỏa xong, người ta dựng cái tường tôn này lên, góc phố này lại hóa ra chỗ nghỉ ngơi lý tưởng nhất.

Bà cụ chỉ tay về phía những chiếc xích lô đang dựng ngay ngắn dọc mép vỉa hè bên cạnh hàng rào tôn. Dưới bóng râm của hàng cây xà cừ ven hồ hắt sang, hai người đạp xích lô trẻ tuổi đang ngả lưng trên đệm xe thiu thiu ngủ trưa. Cách đó vài bước chân, một chị bán hoa rong với gánh hoa cúc vàng rực rỡ cũng đang ngồi nghỉ chân trên bờ tường bao, tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy xua tan những giọt mồ hôi trên trán.

Không còn bất kỳ cảm giác lạnh lẽo hay u ám nào từng khiến người ta phải khiếp sợ. Khoảng vỉa hè trước khu đất số 138 đã trở thành chốn dừng chân bình yên, quen thuộc của những phận người lao động lam lũ giữa lòng đô thị.

Bác Lập uống cạn chén nước trà, chép miệng đầy vẻ chiêm nghiệm:

- Năm xưa, khi chú em cùng ông Thắng bên dự án quyết định mời các thầy chùa về lập đàn giải oan thay vì thuê thầy cúng về yểm bùa trừ tà, tôi đã biết mọi chuyện rồi sẽ được giải tỏa êm thấm. Người chết tức tưởi hay người sống chịu oan ức, cái họ cần là một lời nguyện cầu cho siêu thoát, một sự công nhận nỗi đau của họ chứ đâu phải bùa ngải xua đuổi. Cây đa đổ xuống, người ta đem tro cốt và những di vật gửi nương nhờ cửa Phật, hồn phách người xưa nương theo khói hương mà thanh thản rời đi. Trần gian hết duyên nợ thì âm cảnh cũng buông bỏ oán hờn.

Tôi ngồi im lặng, ngắm nhìn nhịp sống hối hả trôi qua trước mắt.

Xe cộ qua lại trên đường Hàng Trống đông đúc hơn xưa rất nhiều. Tiếng chuông xe máy rộn rã, tiếng cười nói của từng tốp học sinh tan trường, tiếng rao ngọt ngào của những gánh cốm làng Vòng gói trong lá sen thơm ngát. Mọi thanh âm sống động của cuộc đời trần thế đang cuộn chảy mạnh mẽ, xua tan hoàn toàn những tàn tích u tối của quá khứ.

Sau cuộc gặp gỡ tình cờ ấy, những năm tiếp theo tôi vẫn thỉnh thoảng ghé lại quán trà đá của bà cụ bên rào tôn số 138.

Thế giới bên ngoài thay đổi từng ngày. Mạng internet phát triển chóng mặt với sự xuất hiện của các trang mạng xã hội và những diễn đàn trực tuyến lớn. Thỉnh thoảng, khi lướt web trên máy tính ở nhà sách, tôi vẫn bắt gặp những chủ đề bàn luận về "ngôi nhà ma 138 Hàng Trống" trên các diễn đàn như TTVNOL hay VOZ.

Người ta vẫn sao chép lại những mẩu chuyện rùng rợn: chuyện người phụ nữ phụ tình thắt cổ trên cây đa non, chuyện người vợ trẻ bị sát hại trong đêm mưa gió năm 1990, chuyện chiếc xe xích lô chở bóng ma trả bằng lá đa khô. Nhưng dưới con mắt của thế hệ trẻ thập niên 2010, những câu chuyện ấy dần biến thành một truyền thuyết đô thị xa xôi, một thứ gia vị ly kỳ được kể lại cho nhau nghe vào những đêm đông rỗi việc bên màn hình vi tính.

Chỉ có tôi hiểu rằng, đằng sau lớp sương mù của những lời thêu dệt huyễn hoặc ấy là những giọt nước mắt có thật, những nỗi đau u uất đến tột cùng của hai kiếp người phụ nữ từng sống và chết trong căn nhà ấy suốt nửa thế kỷ.

Mỗi lần đọc lại những dòng thảo luận trên mạng, tôi lại mở ngăn kéo tủ riêng ở góc phòng trọ, lôi cuốn nhật ký trực đêm bọc bìa da cũ kỹ năm 2006 ra xem.

Từng trang giấy kẻ ngang nay đã ngả sang màu vàng vôi, mép sổ quăn góc vì thời gian. Nét mực xanh học trò tôi nắn nót ghi lại từng hiện tượng lạ lùng qua ba mươi đêm trực - từ tiếng chải tóc trong gió khuya, chiếc bóng in trên tường vôi nứt do ảo giác Pareidolia, cho đến thời điểm tìm thấy chiếc kẹp tóc đồi mồi và then cài cửa rỉ sét - tất cả vẫn nằm nguyên vẹn ở đó. Cuốn sổ như một chứng nhân câm lặng ghi dấu lại giai đoạn chuyển giao đầy biến động của mảnh đất thiêng bên bờ hồ.

Năm 2012 rồi năm 2013 trôi qua trong sự bình lặng của phố phường.

Bức tường tôn số 138 Hàng Trống vẫn đứng đó như một khoảng lặng kỳ lạ giữa trung tâm thủ đô hoa lệ. Sự đình trệ của dự án xây dựng đôi khi khiến người dân xung quanh thở phào nhẹ nhõm, bởi không gian quanh hồ Gươm vẫn giữ được sự thoáng đãng, không bị bóp nghẹt bởi những khối bê tông đồ sộ. Nhưng ai cũng hiểu, một mảnh đất vàng nằm ở vị trí đắc địa bậc nhất Hà Nội không thể mãi mãi là một bãi đất trống quây tôn để cỏ dại mọc um tùm.

Rồi điều gì phải đến cũng đã đến vào những tháng đầu năm 2014.

Đó là một buổi sáng cuối xuân, tiết trời Hà Nội lất phất những hạt mưa phùn ẩm ướt. Khi tôi đi ngang qua đường Hàng Trống để đến hiệu sách làm việc, một cảnh tượng nhộn nhịp khác thường đập vào mắt tôi.

Những chiếc xe tải chuyên dụng của ngành xây dựng đang đậu nối đuôi nhau dọc vỉa hè. Hàng rào tôn màu xanh rỉ sét, cũ kỹ từng che chắn khu đất suốt tám năm qua đang được một toán công nhân dùng máy cắt kim loại tháo dỡ từng mảng. Tiếng máy cắt kêu ken két, những tia lửa hoa cà bắn tung tóe xuống nền gạch vỉa hè ướt nước mưa.

Phía bên trong, chiếc máy ủi nhỏ đang san gạt lại toàn bộ lớp cỏ dại và cây dại mọc um tùm suốt gần một thập kỷ. Những gốc tầm ma, những bụi ngũ sắc bị bật rễ, phơi bày nền đất thịt màu nâu sẫm, sạch sẽ và phẳng phiu.

Bên ngoài mép vỉa hè, một hàng rào pa-nô dự án mới tinh, hiện đại bằng khung thép vững chãi bắt đầu được dựng lên thay thế cho bức tường tôn tạm bợ năm xưa. Trên tấm bạt lớn in hình phối cảnh dự án, dòng chữ in đậm nổi bật thông báo việc khởi công xây dựng một công trình kiến trúc nghệ thuật và khách sạn cao cấp mang tên Apricot, trải dài trên toàn bộ khuôn viên số 136 và 138 Hàng Trống. Bản vẽ thiết kế thể hiện một tòa nhà mang phong cách tân cổ điển trang nhã, với chiều cao và mật độ xây dựng đã được điều chỉnh hoàn toàn phù hợp với cảnh quan di sản thiêng liêng của hồ Hoàn Kiếm.

Tôi dừng chân bên gốc cây xà cừ cổ thụ đối diện bên kia đường, kéo cao cổ áo khoác để ngăn những cơn gió lạnh cuối mùa.

Tám năm đất trống đợi chờ thời gian đã chính thức khép lại. Mảnh đất từng chôn giấu bao nhiêu u uất, đau thương của những kiếp người trong căn nhà cổ đổ nát, từng trải qua những năm tháng quây tôn cô quạnh giữa lòng phố thị, nay đã chuẩn bị bước vào một cuộc tái sinh hoàn toàn mới.

Gió từ mặt hồ Hoàn Kiếm thổi qua mang theo hơi nước mát lành, phả vào gương mặt tôi. Nhìn những tấm tôn rỉ sét cuối cùng được nhấc bổng lên thùng xe tải chở đi, tôi cảm nhận rõ ràng rằng quá khứ bi thương đã thực sự lùi sâu vào lòng đất mẹ, nhường chỗ cho ánh sáng của một thời đại mới rực rỡ sắp sửa vươn lên.

Chương khác

Xem thêm