Cầu Cơ - Chương 1: Điềm Báo Trong Nhà Cổ

Căn nhà ba gian hai chái của dòng họ Bùi nằm lọt thỏm giữa đoạn đường Trần Nhân Tôn, bao quanh bởi những khối nhà bê tông cao tầng mọc lên như nấm sau…

Nội dung chương

Căn nhà ba gian hai chái của dòng họ Bùi nằm lọt thỏm giữa đoạn đường Trần Nhân Tôn, bao quanh bởi những khối nhà bê tông cao tầng mọc lên như nấm sau hàng chục năm đô thị hóa. Người Sài Gòn đi ngang qua đây vào ban ngày thường chỉ thấy một bức tường rêu phong xám xịt, cánh cổng gỗ lim đóng then cài then chặt khít và rặng ngọc lan già rủ bóng tối sẫm xuống khoảng sân lát gạch tàu bạc phếch. Ban đêm, khi tiếng còi xe ngoài ngã tư thưa thớt dần, nơi đây im ắng đến mức người ta có thể nghe rõ từng tiếng mọt nghiến rào rạo trong những cây cột cái trăm năm tuổi.

Tôi ngồi trên chiếc ghế trường kỷ bằng gỗ cẩm lai đen nhánh, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đùi. Chiếc đồng hồ quả lắc hiệu Odo treo trên vách gỗ gõ lim gõ từng nhịp nặng nề.

Tích. Tắc. Tích. Tắc.

Mỗi nhịp kim dịch chuyển phát ra tiếng khô khốc, dội thẳng vào lồng ngực tôi. Gió đêm lùa qua những chấn song cửa sổ chạm hoa văn chữ thọ, cuốn theo hơi ẩm ngai ngái của lớp vôi vữa bong tróc và mùi nhang bài trầm đục cắm trên bàn thờ tổ tiên. Căn nhà này do ông cố tôi dựng từ thời Pháp thuộc, trải qua bom đạn, biến động và thời cuộc, ba thế hệ họ Bùi sinh ra rồi chết đi ngay dưới mái ngói âm dương này. Ba tôi mất sớm khi tôi vừa tròn năm tuổi. Mẹ tôi vì áp lực gia đình và cảnh mẹ chồng nàng dâu nghiệt ngã cũng đã dọn ra ngoài buôn bán từ lâu, cả cơ ngơi rộng thênh thang này suốt mười mấy năm qua chỉ có tôi sống cùng bà nội - cụ Bùi Thị Sáu.

Sáu tháng trước, bà nội nhắm mắt xuôi tay ở tuổi tám mươi.

Đám tang của bà diễn ra lặng lẽ, không kèn trống rình rang, chỉ có vài ba người họ hàng xa ghé thắp nén nhang rồi vội vã rời đi vì ngột ngạt trước không khí u uẩn của ngôi nhà. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng trên chiếc sập gụ đặt giữa gian chính, bàn tay gầy guộc chằng chịt gân xanh của bà nắm chặt lấy cổ tay tôi. Lực bóp mạnh đến mức để lại những vết bầm tím kéo dài cả tuần lễ. Đôi mắt đục ngầu vì đục thủy tinh thể của bà dán trừng trừng vào mặt tôi, hơi thở đứt quãng khè khè nơi cuống họng.

Bà gằn từng tiếng, dặn đi dặn lại:

- Con Linh... nghe lời nội dặn. Trong nhà này có giấu một thứ hệ trọng lắm, là căn mạng của cái dòng họ này. Đừng có tò mò lục lọi. Cho tới đúng ngày sinh nhật hai mươi ba tuổi của mày... đúng giờ này, mày mới được phép đụng vô. Nếu mày táy máy trước một ngày, một giờ... họa sát thân đổ xuống đầu, không ai gánh nổi đâu con ơi...

Lời trăng trối đó đóng đinh vào tâm khảm tôi suốt nửa năm ròng. Sáu tháng qua, một mình tôi thui thủi trong căn nhà rộng gần ba trăm mét vuông, ngày hai bữa cơm nước thắp nhang cho bà, đêm đến thì chốt chặt cửa phòng ngủ ở chái Tây, không dám bước chân ra gian giữa sau mười giờ tối. Cảm giác có hàng chục đôi mắt vô hình từ những bức di ảnh trên bàn thờ dõi theo từng bước chân khiến sống lưng tôi lúc nào cũng lạnh buốt.

Bây giờ là mười một giờ năm mươi lăm phút đêm.

Trên tờ lịch treo tường lốc bloc dán cạnh chiếc tủ chè khảm xà cừ, con số màu đỏ báo hiệu ngày hôm nay: ngày rằm tháng Bảy. Đúng ngày tôi cất tiếng khóc chào đời cách đây hai mươi ba năm.

Chỉ năm phút nữa thôi, tôi sẽ chính thức bước sang tuổi hai mươi ba, chạm vào giới hạn thời gian mà bà nội đã đặt ra.

Tôi đứng dậy, tiếng khớp xương kêu răng rắc trong không gian tĩnh mịch. Bước chân trần của tôi chạm xuống nền gạch tàu lạnh ngắt, truyền lên một cảm giác tê rần từ gót chân lên tận đỉnh đầu. Tôi đi về phía bàn thờ tổ tiên, nơi đặt bát hương đồng cáu bẩn và dãy di ảnh phủ một lớp bụi mờ.

Bức ảnh thờ của cụ Bùi Thị Sáu đặt ở vị trí mới nhất, bên cạnh bát nhang còn vương tàn tro trắng. Trong ảnh, bà nội mặc chiếc áo bà ba lụa đen, nét mặt nghiêm nghị, khóe môi hơi mím lại và đôi mắt nhìn thẳng tắp về phía trước. Người ta bảo người chết đi rồi thì ánh nhìn trong ảnh thờ vẫn luôn xoay theo hướng người sống bước đi. Tôi né sang bên trái, ánh mắt bà dời sang trái; tôi bước sang bên phải, hai tròng mắt xám tro kia vẫn găm chặt lấy tôi.

Dưới làn khói nhang mỏng manh bay là đà, tôi chắp tay vái ba vái.

- Nội ơi, hôm nay con tròn hai mươi ba tuổi rồi. Lời nội dặn con không dám quên một chữ. Đêm nay con xin phép nội cho con biết thứ mà dòng họ mình đang chôn giấu...

Tiếng tôi vang lên rồi tan biến vào những góc tối trên xà nhà. Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa sổ gỗ mục nát, tạo thành một âm thanh nghe tựa như tiếng thở dài sườn sượt của người già.

Keng... Keng... Keng...

Chiếc đồng hồ Odo bắt đầu điểm mười hai tiếng chuông báo hiệu nửa đêm. Tiếng chuông kim loại trầm đục nện từng nhát nặng nề vào bầu không khí đặc quánh. Một... hai... ba... Mỗi tiếng gõ là một nhịp tim tôi thắt lại. Cho đến tiếng thứ mười hai ngân dài rồi tắt lịm, căn nhà rơi vào trạng thái im lìm đến gai ốc.

Thời khắc đã đến.

Tôi rút từ trong túi áo ra một chiếc chìa khóa bằng đồng thau cũ kỹ, đuôi chìa uốn cong thành hình móc câu. Đây là vật duy nhất bà nội tháo từ cổ tay mình đeo vào cổ tôi trước khi bà nhắm mắt. Chiếc chìa khóa này mở chiếc rương gỗ gõ đỏ bà luôn khóa kín, đặt dưới gầm sập gụ suốt mấy chục năm qua.

Khi bà còn sống, không ai được phép đến gần chiếc rương đó, kể cả mẹ tôi hay những người thợ sửa nhà. Có lần hồi tôi mười tuổi, vì tò mò cúi xuống ngó gầm sập, tôi đã bị bà dùng roi mây quất lằn cả bắp chân, bắt quỳ sám hối trước bàn thờ suốt một đêm mưa gió. Lúc đó tôi giận bà ghê gớm, nhưng nhìn vẻ mặt sợ hãi lẫn hoảng loạn của bà khi nhìn về phía gầm sập, tôi biết dưới đó ẩn chứa một điều gì đó vượt xa sự hiểu biết của một đứa trẻ.

Tôi quỳ sụp xuống nền gạch, vạt áo chạm vào lớp bụi đất ẩm sì dưới gầm sập gụ.

Ánh đèn pin từ chiếc điện thoại tôi kẹp giữa hai hàm răng rọi một luồng sáng vàng vọt vào khoảng tối tăm mịt mù. Chiếc rương nằm sâu bên trong, góc rương bám đầy mạng nhện và bụi đen. Tôi đưa tay nắm lấy quai sắt gỉ sét, gồng sức kéo mạnh. Chiếc rương nặng trịch cọ xát trên nền gạch, phát ra tiếng ken két chói tai như tiếng móng tay cào trên mặt bảng đá.

Kéo được chiếc rương ra giữa gian nhà, tôi ngồi bệt xuống đất, lồng ngực phập phồng vì bụi bặm xộc thẳng vào mũi.

Chiếc rương làm bằng gỗ gõ đỏ nguyên khối, bốn góc bịt đồng chạm trổ hình mây nước theo lối cổ điển Nam Bộ. Ổ khóa sắt to bằng nắm tay trẻ con đã chuyển sang màu nâu sẫm của gỉ sét. Tôi run rẩy đưa chiếc chìa khóa đồng tra vào ổ. Khớp khóa khựng lại một nhịp vì lâu ngày không tra dầu. Tôi cắn răng vặn mạnh theo chiều kim đồng hồ.

Cạch!

Một tiếng kim loại bung ra khô khốc giòn giã. Ổ khóa bật mở.

Bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh. Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, hít sâu một hơi để trấn tĩnh rồi từ từ đẩy nắp rương lên. Bản lề rên rỉ một chuỗi âm thanh kẽo kẹt não nề.

Một mùi hương kỳ lạ bốc lên từ bên trong. Đó không phải mùi ẩm mốc thông thường, mà là sự pha trộn giữa mùi gỗ đàn hương cổ thụ, mùi long não cay nồng và một thứ mùi khen khét là lạ, giống hệt mùi tro tàn bị dầm trong nước mưa lâu ngày.

Bên trong rương không có vàng bạc, châu báu hay giấy tờ nhà đất như tôi từng tưởng tượng.

Nằm ngay ngắn trên lớp vải nhung đỏ đã mủn rách là ba món đồ: một chiếc hộp gỗ hình chữ nhật dài khoảng hai gang tay có chạm hình rồng phượng nhưng đã bị cạo mất mắt rồng, một xấp giấy bồi ố vàng buộc bằng sợi dây gai thô ráp, và một chiếc chén sứ trắng nhỏ xíu úp ngược.

Chiếc chén sứ trông hoàn toàn bình thường, loại chén con dùng để uống trà hay đựng nước chấm thời xưa, nhưng trên phần đáy chén tròn lồi lên lại có một vệt mực tàu màu đỏ tươi vẽ hình mũi tên chỉ về một hướng. Vệt mực đỏ đậm, tươi rói một cách bất thường, giống như người ta vừa mới chấm cọ vẽ lên đó vài phút trước chứ không hề mang dấu vết của nửa thế kỷ nằm kín trong rương.

Tôi không dám chạm vào chiếc chén sứ ấy. Một linh cảm chẳng lành chạy dọc từ sống lưng lên gáy khiến từng chân lông dựng đứng.

Tôi chuyển sự chú ý sang xấp giấy bồi bên cạnh. Bụi bám trên sợi dây gai rơi lả tả khi ngón tay tôi chạm vào. Tôi cẩn thận cởi nút thắt, mở lớp giấy ngoài cùng đã mục giòn ở các mép.

Đó là một cuốn sổ tay nhỏ bọc da thuộc màu nâu thẫm, bên trong là những trang giấy kẻ ô chéo đã ngả sang màu vàng vôi. Nét chữ viết bằng bút máy mực xanh đen hiện ra, ngay ngắn và nắn nót. Tôi nhận ra nét chữ này. Đây là nét chữ của cụ Bùi Văn Phát - ông cố nội của tôi, người từng là một viên chức mẫn cán thời chế độ cũ trước năm 1975.

Trang đầu tiên ghi vỏn vẹn một dòng chữ Hán kèm chú giải chữ Quốc ngữ bên dưới: "Bùi gia ký sự - Huyết mạch chi tồn".

Tôi lật tiếp trang thứ hai. Những dòng nhật ký ghi lại cuộc sống của gia đình họ Bùi trên đường Trần Nhân Tôn từ những năm 1960. Những ghi chép ban đầu chỉ xoay quanh chuyện sinh hoạt thường nhật, giá gạo, tiền thuê đất, những biến động thời cuộc ngoài phố xá Sài Gòn. Nhưng càng lật về những trang sau, nét chữ bắt đầu có sự biến đổi rõ rệt.

Nét chữ nắn nót ban đầu dần trở nên nguệch ngoạc, run rẩy, ngòi bút ấn mạnh xuống mặt giấy làm rách cả những thớ giấy mỏng.

Trang viết đề ngày mười hai tháng Tư năm 1975 có một đoạn văn khiến mắt tôi tối sầm lại:

"Nó lại về. Đêm nào dưới ván sàn cũng có tiếng cào cấu. Thằng Sáu bảo nghe thấy tiếng người thở dốc ngay dưới chân giường. Tôi biết món nợ này không thể trốn tránh được nữa. Năm ấy vì tham lam một mảnh đất hương hỏa, tôi đã rước thứ tà thuật này về nhà để trấn yểm long mạch. Bây giờ vận nước đổi thay, bùa chú mất linh, thứ đó bắt đầu đòi mạng. Người đầu tiên phải thế mạng... chính là tôi."

Tiếng gió ngoài sân bỗng nhiên rít lên một hồi dữ dội. Cánh cửa sổ chữ thọ đập chan chát vào khung gỗ: Rầm! Rầm!

Tôi giật bắn mình, đánh rơi cuốn sổ xuống nền đất.

Ngay lúc đó, dưới chân tôi bỗng truyền lên một rung động nhẹ. Mặt sàn gạch tàu nơi tôi đang quỳ dường như lay chuyển. Không, ngôi nhà này được xây trên nền móng kiên cố bằng đá tảng, làm sao có thể rung rác như có động đất được?

Rột... rột... rột...

Một chuỗi âm thanh ma quái vang lên từ phía dưới những tấm ván sàn lót bên dưới lớp gạch. Âm thanh đó nghe rất rõ, như thể có một người đang nằm sấp dưới lòng đất tối tăm, dùng những đầu ngón tay không còn móng để cào từng vệt dài vào mặt dưới của sàn nhà.

Tôi nín thở, toàn thân đông cứng lại như tượng đá. Tiếng cào cấu di chuyển từ từ, từ góc chái Đông trườn dần về phía gian giữa, dừng lại ngay vị trí tôi đang ngồi và cái sập gụ của bà nội.

Mùi khen khét nồng nặc hơn bao giờ hết, xộc thẳng vào cuống họng làm tôi buồn nôn.

Bất chợt, tiếng chuông điện thoại trong túi quần tôi reo vang, xé toạc bầu không khí ngột ngạt đến phát điên.

Reng! Reng! Reng!

Tôi hét lên một tiếng thất thanh, lùi thụt mạng về phía sau, lưng đập mạnh vào mép chiếc tủ chè. Đồ gốm bên trong tủ rung lên leng keng. Tôi run rẩy móc chiếc điện thoại ra, màn hình hiển thị cuộc gọi đến từ Như Ý.

Tôi bấm nút nghe, giọng tôi méo mó không thành tiếng:

- Ý... Ý hả?

- Linh! Mày làm gì mà gọi mãi mới bắt máy thế? - Giọng Như Ý lanh lảnh, pha lẫn tiếng gió rít và tiếng còi xe máy ồn ào ở đầu dây bên kia - Tao với thằng Hoàng Minh đang chạy xe tới đầu hẻm Trần Nhân Tôn rồi nè. Đường vắng hoe, tối thui à. Tụi tao ghé mua bánh sinh nhật cho mày nên hơi trễ chút xíu. Mày mở sẵn cửa đi nha, năm phút nữa tụi tao tới nơi đó!

- Ý ơi... - Tôi run rẩy thì thào, mắt vẫn không rời khỏi khoảng sàn nhà dưới gầm sập - Tụi bây... tới lẹ đi... Tao sợ quá...

- Sao vậy Linh? Giọng mày sao run dữ vậy? Có chuyện gì trong nhà hả? - Như Ý nhận ra sự bất thường, giọng cô nàng lập tức chùng xuống, đầy vẻ lo lắng.

- Tới đây đi... rồi tao nói... Nhớ gõ cửa ba tiếng... đừng gọi tên tao ngoài cửa...

Tôi cúp máy, ngắt ngang lời gặng hỏi của bạn. Ngực tôi phập phồng dữ dội, mồ hôi túa ra ướt đẫm cả sống lưng áo. Lời dặn không gọi tên người sống ngoài cửa vào ban đêm là một cấm kỵ dân gian mà bà nội đã dạy tôi từ bé, nhất là trong những ngày rằm tháng Bảy này. Người ta bảo ma đói quỷ khát đi lang thang ngoài đường, hễ nghe ai gọi tên nhau là chúng sẽ theo chân người đó bước qua bậu cửa vào nhà.

Tôi nhìn xuống cuốn sổ tay nằm trơ trọi trên nền gạch.

Trang giấy vẫn đang mở toang ở ngày mười hai tháng Tư năm 1975. Bên cạnh đó, chiếc chén sứ trắng úp ngược trong rương gỗ dường như vừa nhích nhẹ một milimet, mũi tên màu đỏ thẫm trên đáy chén giờ đây không còn chỉ vào khoảng không vô định nữa, mà đang quay thẳng tắp về phía tôi.

Dưới nền nhà, tiếng cào cấu đã im bặt. Thay vào đó là một sự im lặng chết chóc, thứ im lặng như đang chực chờ nuốt chửng bất cứ sinh linh nào dám đánh thức những bí mật đã bị chôn vùi nửa thế kỷ.

Tôi biết, cánh cửa dẫn vào quá khứ đẫm máu của dòng họ Bùi đã chính thức mở ra, và đêm nay, ba đứa chúng tôi sẽ không có đường lùi.

Chương khác

Xem thêm