Cầu Cơ - Chương 4: Chuẩn Bị Bàn Cơ Trên Giấy Trắng Khổ Lớn
Bóng tối sau tiếng nổ lách tách của bóng đèn quả nhót chụp xuống gian sau một cách tàn nhẫn. Hương án tổ tiên chìm ngập trong màn đen quánh đặc, chỉ sót…
Nội dung chương
Bóng tối sau tiếng nổ lách tách của bóng đèn quả nhót chụp xuống gian sau một cách tàn nhẫn. Hương án tổ tiên chìm ngập trong màn đen quánh đặc, chỉ sót lại chút ánh sáng vàng đục từ ngọn nến duy nhất đặt giữa bàn cẩm thạch hắt lên vách gỗ mun. Bức di ảnh của cụ Bùi Thị Sáu lệch hẳn sang một bên, vệt kính phản chiếu lập lòe như một ánh mắt lạnh lẽo đang dõi theo từng cử động của ba đứa trẻ.
Tiếng thở dốc của Như Ý đập vào tai tôi từng nhịp dồn dập. Cô bạn níu chặt lấy vạt áo thun của tôi, những ngón tay gầy guộc run rẩy bấu sâu qua lớp vải mỏng làm da thịt tôi nhức buốt. Căn nhà cổ giữa lòng Sài Gòn lúc này hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài. Tiếng xe cộ thưa thớt ngoài đường Trần Nhân Tôn đã tắt hẳn từ lâu, nhường chỗ cho tiếng gió rít qua những chấn song gỗ hình chữ thọ và tiếng mọt gặm rui mè trên mái ngói âm dương.
- Đừng nhìn ra sau nữa. - Giọng Hoàng Minh trầm thấp, kéo tôi thoát khỏi cơn chết lặng - Mở chiếc rương gỗ ra lần nữa đi Linh. Lấy tờ giấy trắng ra đây. Tụi mình không có nhiều thời gian đâu, sắp điểm canh ba rồi.
Tôi gượng gạo nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, gật đầu. Hai chân tôi nặng như chì khi bước từng bước chậm chạp về phía chiếc đôn gỗ cạnh sập gụ, nơi chiếc rương gỗ thị cổ của bà nội vẫn mở toang nắp. Mùi gỗ mục, mùi long não cũ kỹ quyện với mùi giấy ẩm bốc lên ngai ngái. Dưới đáy rương, bên cạnh cuốn nhật ký bìa da của ông cố nội năm 1975, là một cuộn giấy trắng khổ lớn được buộc cẩn thận bằng sợi dây chỉ đỏ bện ba tao.
Tôi cúi người nhặt cuộn giấy lên. Mặt giấy ráp mịn, dày dặn khác thường, loại giấy vẽ kỹ thuật chuyên dụng bản rộng cả mét mà bà nội đã cất công mua về từ lúc nào không rõ. Cùng với cuộn giấy là một hộp gỗ nhỏ đựng thỏi mực tàu, một lọ mực son chu sa màu đỏ tươi đã khô một nửa và hai cây bút lông cỡ vừa còn nguyên bọc lông thỏ mềm mại. Bà nội đã sắp xếp tất cả những thứ này chung một chỗ, ngay ngắn và chủ đích đến mức rợn người, tựa hồ cụ biết chắc chắn rằng sẽ có một ngày tôi phải dùng đến chúng.
- Cụ Sáu chu đáo thật... - Minh bước tới đỡ lấy cuộn giấy trên tay tôi, ngón tay cậu ta lướt qua lớp vỏ bọc - Giấy dày thế này chén trượt sẽ êm, không sợ bị rách giữa chừng. Mau dọn sạch mặt bàn cẩm thạch đi Ý.
Như Ý giật mình, vội vàng buông áo tôi ra rồi cuống cuồng thu dọn những tách trà nguội ngắt và chiếc đĩa gốm đựng bánh sinh nhật dở dang sang một bên chiếc sập gụ. Bàn tay Ý run rẩy đến nỗi chiếc tách sứ va vào mép bàn kêu lanh canh liên hồi.
- Tao... tao sợ quá Minh ơi. - Ý lắp bắp, hai mắt đỏ hoe - Hay là thôi đi? Đèn bàn thờ tự tắt, ảnh cụ Sáu tự nghiêng thế kia là điềm dữ đó tụi bây. Cụ không muốn tụi mình quấy rầy đâu!
- Đèn tắt là do dây tóc cũ quá rồi đứt bóng thôi, có gì mà làm quá lên. - Minh lạnh lùng gạt đi, trải rộng tờ giấy trắng lên mặt bàn tròn bằng đá cẩm thạch - Còn bức ảnh bị lệch là do lúc nãy gió lùa mạnh qua khe cửa sổ. Đã quyết định làm thì không được thối lui. Nếu bây giờ dừng lại, Linh sẽ phải sống trong sợ hãi với thứ nằm dưới sàn nhà suốt phần đời còn lại. Mày muốn bạn mày phát điên trong căn nhà này hả Ý?
Câu nói của Minh khiến Như Ý im bặt. Cô bạn cắn chặt môi dưới, lẳng lặng dùng bốn chiếc chặn giấy bằng đồng thau hình lân cổ đè chặt bốn góc của tờ giấy trắng để giữ cho mặt phẳng căng mịn, không bị gió thổi phập phồng. Tờ giấy trắng tinh chiếm trọn vẹn đường kính của mặt bàn tròn, trắng lóa dưới ánh nến leo lét, như một khoảng trống câm lặng đang há miệng chờ đợi những ký tự dẫn đường cho cõi âm.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ lim đối diện với Minh. Hơi lạnh từ mặt đá cẩm thạch xuyên qua lớp giấy trắng phả vào lòng bàn tay tôi. Tôi mở nắp nghiên mực đá hoa cương đặt trên góc bàn, đổ vào vài giọt nước lọc rồi bắt đầu mài thỏi mực tàu đen nhánh. Tiếng đáy mực cọ xát trên mặt đá nhám phát ra âm thanh sột soạt đều đặn, khô khốc giữa không gian tịch mịch.
- Bảng cơ gọi hồn theo lối Nam Bộ cần những gì, mày nhớ rõ không Minh? - Tôi hỏi, cố giữ cho giọng mình không run rẩy.
Minh kéo cây nến lại gần mép giấy, ánh lửa hắt lên khuôn mặt góc cạnh đầy nghiêm nghị của cậu ta:
- Tao đã đọc rất kỹ các tài liệu điền dã dân gian của vùng đất này. Một bàn Cầu Cơ tiêu chuẩn bắt buộc phải có đủ hệ thống chữ cái Quốc ngữ, hàng chữ số thập phân, các cung định hướng nhị phân và chữ giải thoát ở vị trí cao nhất. Tất cả phải được ba trí theo đúng trật tự không gian cân đối, không được thiếu sót bất kỳ ký tự nào, vì chỉ cần khuyết một chữ, vong hồn sẽ không thể ghép đủ câu trả lời hoặc bị tắc nghẽn ngôn từ mà phát cuồng.
Tôi cầm cây bút lông đầu tiên lên, nhúng đẫm vào nghiên mực đen vừa mài đặc sánh. Bàn tay tôi run lên bần bật. Ngọn bút lơ lửng trên nền giấy trắng vài tấc, từng giọt mực nặng trĩu chực chờ rơi xuống. Tôi chưa từng nghĩ có một ngày chính tay mình lại đi vẽ nên chiếc cầu nối giữa trần gian và cõi chết ngay trong chính ngôi nhà nơi tôi đã lớn lên suốt hai mươi ba năm qua.
- Hít thở sâu vào Linh. - Minh đặt bàn tay ấm áp của cậu ta lên mu bàn tay tôi, giữ chặt - Nét bút phải dứt khoát, rõ ràng. Chữ viết nguệch ngoạc chén sẽ chạy trật hướng. Bắt đầu từ hàng chữ cái Quốc ngữ trước đi.
Tôi nhắm mắt lại trong ba giây, hít một hơi dài căng tràn lồng ngực mùi ẩm mốc của căn nhà cổ, rồi đặt ngòi bút lông xuống mặt giấy.
Nét mực đen đầu tiên hằn sâu lên nền trắng muốt. Tôi bắt đầu nắn nót viết từng chữ cái theo hình vòng cung uốn lượn ở nửa trên của tờ giấy:
A... Ă... Â... B... C... D... Đ... E... Ê...
Mỗi chữ cái hiện ra dưới ngọn nến đều mang theo một vẻ thâm nghiêm kỳ lạ. Tôi cẩn thận căn chỉnh khoảng cách giữa các chữ sao cho thật đều đặn, khoảng cách chừng hai lóng tay để vành chén sứ có thể dừng lại rõ ràng mà không bị giẫm chân lên ký tự bên cạnh. Tiếng lông thỏ miết trên mặt giấy xào xạc hòa lẫn với tiếng thở dồn của Như Ý bên cạnh. Ý cầm chiếc đèn pin nhỏ soi từng vệt mực cho tôi, ánh đèn pin màu trắng lạnh cắt ngang qua ánh nến vàng quạch, tạo nên những mảng sáng tối chập chờn trên từng con chữ.
G... H... I... K... L... M... N... O... Ô... Ơ...
Khi viết đến chữ "M", cánh tay tôi bỗng nhiên trĩu nặng xuống. Một luồng khí lạnh ngắt vô hình từ đâu ập tới, bọc lấy các khớp ngón tay tôi khiến đầu bút lông khựng lại, run rẩy làm vấy ra một đốm mực tròn nhỏ bên cạnh chữ "N".
- Cẩn thận, đừng để lem mực! - Như Ý giật thót, thì thầm qua kẽ răng.
- Không sao, chỉ là đốm mực nhỏ thôi, giữ nguyên vị trí chữ. - Minh nhắc nhở, mắt không rời khỏi đường vòng cung - Viết tiếp đi Linh, đừng dừng lại giữa chừng. Dừng bút lúc đang định hình bàn cơ là điều tối kỵ, khí vận sẽ bị đứt đoạn.
Tôi cắn răng, dồn hết sức lực nơi cổ tay để tiếp tục hoàn thành những ký tự còn lại:
P... Q... R... S... T... U... Ư... V... X... Y...
Đủ hai mươi chín chữ cái Quốc ngữ xếp thành một vòng bán nguyệt hoàn chỉnh, ôm trọn lấy tâm của tờ giấy. Mực tàu đen bóng phản chiếu ánh lửa lập lòe, trông như một chuỗi xích quấn quanh một ranh giới vô hình. Tôi thở hắt ra một hơi, trán đã lấm tấm mồ hôi hột dù nhiệt độ trong phòng khách lúc này đang hạ thấp xuống rõ rệt.
- Tốt lắm. - Minh khẽ gật đầu - Bây giờ đến hàng chữ số. Xếp thẳng một hàng ngang ngay phía dưới chân vòng cung chữ cái, từ số 0 đến số 9.
Tôi lại chấm thêm mực, nắn nót vạch từng con số:
0... 1... 2... 3... 4... 5... 6... 7... 8... 9...
Những con số này dùng để hỏi tuổi tác, ngày tháng năm sinh, hoặc thời điểm xảy ra những biến cố trong quá khứ. Khi viết đến con số 7 và số 5, ngón tay tôi bỗng run bắn lên khi liên tưởng đến cột mốc năm 1975 ghi trong cuốn nhật ký của ông cố nội. Con số của sự chia cắt, của cái chết bí ẩn và bản giao kèo ma quái với vong hồn trấn giữ long mạch dưới nền đất căn nhà này. Từng nét mực đen như đang khắc sâu thêm mối liên kết giữa ba đứa chúng tôi với những thực thể khuất mặt khuất mày đang ẩn nấp trong bóng tối.
- Tiếp theo là bốn góc và hai bên sườn. - Minh chỉ tay vào các khoảng trống còn lại trên tờ giấy - Đây là các cung phán quyết nhị phân. Góc trên bên trái viết CÓ, góc trên bên phải viết KHÔNG. Phía dưới bên trái viết NAM, phía dưới bên phải viết NỮ. Còn hai bên hông của vòng cung chữ cái, viết chữ ĐÚNG ở mạn tả và chữ SAI ở mạn hữu.
Tôi làm theo lời Minh, điều chỉnh ngòi bút lông to hơn để viết những chữ phán quyết bằng nét chữ in hoa đậm nét:
CÓ - KHÔNG. NAM - NỮ. ĐÚNG - SAI.
Khi sáu chữ phán quyết hoàn tất, ba cục của bàn cơ bỗng nhiên toát lên một vẻ đối xứng hoàn hảo đến lạnh người. Nó giống như một chiếc la bàn định vị cõi âm, nơi mọi nghi vấn của nhân gian đều có thể quy về những câu trả lời dứt khoát nhất. Từng chữ cái, từng con số như đang sống dậy dưới ánh sáng bập bùng của ngọn nến.
- Còn chữ quan trọng nhất... - Tôi ngẩng đầu nhìn Minh, bàn tay cầm bút lông khẽ run - Chữ THĂNG.
- Đúng, chữ THĂNG. - Ánh mắt Minh đanh lại, nét mặt trở nên vô cùng nghiêm trọng - Chữ này bắt buộc phải viết bằng mực đỏ chu sa, đặt ở vị trí cao nhất trên đỉnh đầu của toàn bộ bàn cơ, chính giữa khoảng trống phía trên vòng cung chữ cái. Đó là cửa sinh, là lối thoát duy nhất để tiễn vong linh quay trở về thế giới bên kia khi kết thúc buổi cầu. Tuyệt đối không được viết lệch, không được viết cẩu thả.
Tôi đặt cây bút lông mực đen xuống chiếc gác bút bằng sứ, rồi với tay lấy lọ mực son chu sa. Nắp lọ bằng sáp ong đã nứt nẻ qua nhiều năm tháng, tôi phải dùng hết sức mới vặn mở được ra. Một mùi nồng hắc pha lẫn vị tanh nhẹ của bột chu sa xộc thẳng vào mũi. Thứ chất lỏng màu đỏ thẫm quánh đặc bên trong phản chiếu ánh nến hệt như máu tươi đựng trong lọ thủy tinh.
Tôi cầm cây bút lông thứ hai, chấm thật sâu vào lọ mực đỏ. Đầu lông thỏ trắng muốt lập tức bị nhuộm thành một màu đỏ thẫm rợn người.
Tôi nín thở, hướng ngòi bút về phía đỉnh cao nhất của tờ giấy trắng khổ lớn, ngay chính giữa khoảng trống phía trên chữ "A" và "Ă".
Từng nét của chữ THĂNG bằng chữ Quốc ngữ in hoa hiện ra:
T... H... Ă... N... G...
Nét mực chu sa đỏ rực nổi bật trên nền giấy trắng muốt, đối lập hoàn toàn với màu mực đen tang tóc của toàn bộ bảng chữ cái và con số bên dưới. Chữ THĂNG sừng sững ngự trị ở ngôi vị tối cao, như một ngọn hải đăng cô độc giữa biển sương mù, biểu trưng cho sự thăng thiên, cho sự giải thoát và ranh giới sinh tử cuối cùng của trò chơi gọi hồn.
Viết xong nét gạch ngang của chữ T và dấu mũ của chữ Ă, tôi buông bút lông xuống, ngả người ra sau thở dốc. Toàn bộ cơ thể tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh.
- Xong rồi... Toàn bộ bàn cơ đã hoàn tất. - Tôi thều thào nói.
Như Ý nhìn chằm chằm vào tờ giấy trắng vừa được lấp đầy bởi các ký tự, hai tay cô bạn ôm chặt lấy ngực:
- Nhìn... nhìn nó ghê quá tụi bây ơi. Giống y hệt cái bàn cơ mà hồi nhỏ tao thấy mấy người lớn trong xóm trốn ra bãi tha ma chơi lúc nửa đêm... Nhìn vô là thấy lạnh buốt cả sống lưng rồi.
- Đó là vì nó mang tính trật tự của cõi vô hình. - Minh trầm giọng nói, với tay cầm chiếc chén sứ men lam cổ đặt trên sập gụ lại gần - Bây giờ chỉ còn một bước cuối cùng để kích hoạt công cụ dẫn truyền.
Chiếc chén sứ nhỏ bằng nắm tay người lớn, men lam cổ ngả màu lam xám với những đường vân rạn tự nhiên của dòng gốm Lái Thiêu xưa. Minh lật úp chiếc chén xuống mặt bàn, để lộ phần đáy chén hình tròn nhô cao, mộc mạc và không tráng men bóng.
- Linh, dùng mực son vẽ một mũi tên chỉ hướng lên đáy chén này đi. - Minh đẩy chiếc chén về phía tôi - Mũi tên phải thật sắc nét, đầu nhọn hướng thẳng ra mép chén. Khi cơ chạy, đầu mũi tên này chỉ vào chữ nào, số nào, đó chính là câu trả lời của cõi âm.
Tôi cầm lại cây bút lông dính mực chu sa đỏ thẫm. Bàn tay tôi lúc này đã bớt run hơn một chút, nhưng nỗi âu lo trong lòng lại dâng lên ngùn ngụt. Tôi giữ chặt thân chén bằng ba ngón tay trái, tay phải cẩn thận đặt ngòi bút lông lên phần đáy chén gốm thô ráp.
Xoẹt...
Một vệt mực đỏ tươi kéo dài từ tâm đáy chén ra đến sát mép vành. Tôi tiếp tục tô thêm hai nhánh phụ để tạo thành một hình mũi tên hoàn chỉnh, sắc nhọn như một mũi giáo chỉ đường.
- Được rồi. - Tôi đặt bút xuống, ngắm nhìn tác phẩm của mình - Đợi vài phút cho mực son trên đáy chén khô hẳn là tụi mình có thể bắt đầu.
Ba đứa chúng tôi ngồi im lặng quanh chiếc bàn cẩm thạch. Không ai nói với ai câu nào. Tiếng chiếc đồng hồ quả lắc treo ở góc tường phòng khách gõ từng nhịp nặng nề:
Coong... Coong...
Đồng hồ điểm đúng mười một giờ khuya. Canh ba đã thực sự bắt đầu.
Không khí trong căn nhà cổ mỗi lúc một đặc quánh lại. Mùi ẩm mốc từ các vách gỗ mun dường như bị đè bẹp bởi một mùi hương trầm thoang thoảng nhưng lại lạnh lẽo như hơi thở của người chết. Dưới chân chúng tôi, lớp ván sàn thỉnh thoảng lại phát ra những tiếng cọt kẹt nho nhỏ, như thể có một sức nặng vô hình đang chậm rãi di chuyển qua lại bên dưới những phiến đá hoa cương.
Minh cúi sát mặt xuống chiếc chén sứ, chăm chú quan sát vệt mực chu sa:
- Mực khô rồi đó. Men sứ hút mực khá nhanh...
Cậu ta chưa kịp dứt lời, mắt tôi bỗng trừng lớn nhìn trừng trừng vào đáy chiếc chén sứ.
Vệt mực son hình mũi tên màu đỏ tươi vừa mới ráo mặt cách đây vài giây, bỗng nhiên có một sự biến đổi kỳ quái. Bề mặt nét vẽ bắt đầu phồng rộp lên, các hạt màu chu sa tự động co cụm lại với nhau. Màu đỏ tươi ban đầu nhanh chóng sẫm lại, chuyển dần sang một màu nâu đen quánh đặc, hệt như màu của máu đọng lâu ngày trong bóng tối.
- Tụi bây... nhìn kìa! - Như Ý thét lên một tiếng nghẹn ngào, chỉ ngón tay run lẩy bẩy vào chiếc chén.
Ngay tại chóp nhọn của mũi tên hướng ra mép chén, lớp mực nâu sẫm bỗng nhiên đọng lại thành một giọt lỏng tròn trịa, căng mọng. Giọt chất lỏng đó không hề khô đi mà run rẩy phập phồng trên nền sứ trắng đục, như một giọt máu tươi vừa mới rỉ ra từ vết cắt da thịt.
Rồi trước sự kinh hoàng tột độ của cả ba đứa, giọt máu nâu sẫm đó khẽ rùng mình một cái, trượt dài từ đáy chén chảy rỉ xuống thành men lam cổ, để lại một vệt đỏ thẫm kéo dài như một dòng lệ máu rớt xuống ngay mép tờ giấy trắng khổ lớn.