Cầu Cơ - Chương 2: Di Ngôn Sáu Tháng Và Cái Chết Năm 1975

Tiếng chuông điện thoại vừa tắt, gian nhà ba gian lại chìm vào khoảng im lìm nặng nề đến nghẹt thở. Tôi ngồi bệt dưới nền gạch tàu, hai đầu gối run rẩy…

Nội dung chương

Tiếng chuông điện thoại vừa tắt, gian nhà ba gian lại chìm vào khoảng im lìm nặng nề đến nghẹt thở. Tôi ngồi bệt dưới nền gạch tàu, hai đầu gối run rẩy va vào nhau thành từng nhịp cồm cộp. Ngọn nến leo lét trên chiếc đôn gỗ cạnh sập gụ chao đảo liên hồi, hắt bóng tôi lên vách tường vôi bong tróc thành một hình thù dị dạng, dài ngoẵng và gầy guộc.

Dưới gầm sàn, tiếng cào cấu đã tắt hẳn, nhưng cái lạnh ẩm mục từ lòng đất vẫn bốc lên qua từng kẽ ván hở. Mùi khen khét ngai ngái lơ lửng giữa không trung, bám chặt vào cổ họng làm tôi ho sặc sụa. Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt cay xè, run rẩy vươn tay nhặt cuốn sổ bìa da ố vàng vừa đánh rơi ban nãy.

Mặt bìa phủ một lớp bụi mịn xám xịt. Cuốn sổ này nằm im lìm trong đáy rương gỗ hương suốt nửa thế kỷ qua, cùng với chiếc chén sứ vẽ mũi tên đỏ và xấp giấy dó đã mủn mép. Sáu tháng trước, khi cụ Bùi Thị Sáu trút hơi thở cuối cùng trên chiếc giường bệnh ở Bệnh viện Chợ Rẫy, bàn tay khẳng khiu đầy đốm đồi mồi của bà đã nắm chặt lấy cổ tay tôi đến mức hằn lên những vết bầm tím tái.

Đôi mắt đục ngầu của bà nhìn trừng trừng lên trần nhà trắng toát nồng nặc mùi thuốc sát trùng. Giọng bà đứt quãng, thều thào qua chiếc ống thở oxy:

- Căn nhà... căn nhà của tổ phụ... Đợi tới ngày sinh nhật hai mươi ba tuổi của mày... mới được mở chiếc rương gỗ dưới chân sập gụ ra... Nhớ kỹ lời tao, Linh ơi... Dưới ván sàn có thứ... có thứ không được để nó thoát ra ngoài...

Lời dặn dò cuối cùng ấy biến thành một nỗi ám ảnh gặm nhấm tâm can tôi suốt nửa năm ròng rã. Mẹ tôi sợ căn nhà cổ u ám này nên sau tang lễ đã dọn về quê ngoại ở Tiền Giang sinh sống, bỏ lại tôi một mình giữa gian nhà ba gian rộng thênh thang trên đường Trần Nhân Tôn. Đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy bóng bà nội đứng tựa cửa nhìn ra ngõ, mái tóc bạc phơ bay xơ xác trong gió đêm, còn dưới chân giường luôn vang lên những tiếng rột roạt rợn người.

Tôi mở lại trang giấy ghi ngày mười hai tháng Tư năm 1975.

Ánh nến vàng vọt chiếu rọi lên những dòng chữ nghiêng nghiêng của ông cố nội tôi - cụ Bùi Văn Phán. Nét chữ từ chỗ cứng cỏi, rành mạch của một người từng làm thư ký tòa án thời trước dần chuyển sang méo mó, xiêu vẹo. Tôi đưa ngón tay lần theo từng vết mực đã ngả sang màu tím than, cảm nhận rõ rệt sự hoảng loạn tột cùng in sâu vào từng đường bút ấn mạnh rách cả mặt giấy mỏng.

"Ngày mười lăm tháng Tư năm 1975. Tiếng súng pháo dội về từ mạn Long Khánh mỗi lúc một gần. Cả góc phố xôn xao chạy loạn, người ta bán tống bán tháo đồ đạc để gom vàng lá tìm đường di tản. Nhưng nhà họ Bùi không đi được. Mảnh đất này đã bị trói bằng huyết thệ. Thằng Sáu trưa nay sốt li bì, miệng liên tục lảm nhảm đòi uống máu gà sống. Tôi biết hạn kỳ ba mươi năm sắp cạn. Năm 1945, thầy Tư chùa Cây Bàng đã cảnh báo tôi về hậu quả của việc mượn vong giữ của, vậy mà lòng tham làm mờ mắt. Thứ bị chôn sống dưới móng nhà năm đó... nó đang thức giấc."

Tôi rùng mình, lật vội sang trang tiếp theo.

"Ngày hai mươi tháng Tư năm 1975. Nước giếng sau nhà chuyển sang màu đỏ quạch như nước luộc thịt, múc lên bốc mùi tanh tưởi không thể ngửi nổi. Đêm qua, tôi thấy bóng một người đàn bà không đầu ngồi chải tóc ngay trên bậu cửa sổ chái Đông. Tôi gõ mõ tụng kinh suốt ba canh giờ nhưng pho tượng Quan Âm bằng đồng trên bàn thờ bỗng dưng nứt đôi từ đỉnh đầu xuống chân đế. Vong quỷ đã xé rách đạo bùa trấn yểm. Nó đòi một mạng người đàn ông họ Bùi để đền nợ máu."

Những câu chữ sắc lạnh nhảy múa trước mắt tôi. Tim tôi đập thình thịch liên hồi, từng giọt mồ hôi lạnh túa ra trên trán rồi lăn dài xuống gò má, rơi lộp bộp trên mặt giấy ố vàng.

Trước giờ tôi chỉ nghe họ hàng xa kể lại rằng ông cố nội qua đời vì trúng đạn lạc trong những ngày biến động cuối tháng Tư năm 1975. Bà nội tôi chưa từng một lần nhắc về cái chết của chồng mình trước mặt con cháu. Mỗi khi có ai hỏi đến, bà chỉ im lặng thắp một nén nhang lên bàn thờ rồi ngồi nhìn xa xăm ra khoảng sân rêu phong trước cửa.

Thì ra sự thật hoàn toàn khác xa với những gì tôi hằng tưởng tượng.

Tôi nín thở, ngón tay run rẩy lật đến trang cuối cùng của cuốn sổ.

Trang viết đề ngày hăm chín tháng Tư năm 1975.

Nhưng đập vào mắt tôi là một cảnh tượng kinh hoàng. Toàn bộ phần ghi chép về đêm định mệnh đó đã bị ai đó dùng mực tàu đen đặc gạch xóa một cách điên loạn. Những vệt mực đen sì cào xé nát tươm mặt giấy, tạo thành những lỗ thủng nham nhở như bị móng vuốt cắn xé. Vết cào rách toạc kéo dài từ góc trên bên phải xuống tận đáy trang giấy, sâu đến mức làm thủng cả lớp bìa da phía sau.

Dưới mớ mực đen nham nhở ấy, ở góc dưới cùng sát mép giấy rách tả tơi, chỉ sót lại một dòng chữ duy nhất được viết vội bằng nét bút run rẩy, run đến mức các nét chữ dính chặt vào nhau:

"Nó vẫn nằm dưới ván sàn."

Cơn ớn lạnh dọc sống lưng bỗng ập đến làm tôi tê dại cả nửa người.

Nó vẫn nằm dưới ván sàn.

Thứ gì vẫn nằm dưới ván sàn? Xác của ông cố nội? Đạo bùa tà thuật trấn yểm năm xưa? Hay chính là thứ oán linh đòi nợ máu đã cướp đi sinh mạng của cụ Bùi Văn Phán nửa thế kỷ trước?

Gió ngoài trời bỗng nổi lên ào ào. Cây hoàng lan già cỗi ngoài sân va quẹt những cành khẳng khiu vào mái ngói âm dương, tạo ra chuỗi âm thanh xào xạc tựa như tiếng bước chân của ai đó đang rón rén đi lại trên nóc nhà.

Cộc... cộc... cộc...

Ba tiếng gõ cửa vang lên khô khốc, đanh gọn giữa màn đêm.

Tôi giật bắn mình, suýt nữa đánh rơi cuốn sổ lần thứ hai. Cả cơ thể tôi co cứng lại, ánh mắt dán chặt vào cánh cửa gỗ lim hai cánh dày cộp ngăn cách gian nhà chính với khoảng sân phía trước.

Tiếng gõ dừng lại một chút, rồi lại tiếp tục:

Cộc... cộc... cộc...

Đúng ba tiếng gõ, dứt khoát và đều đặn theo đúng lời tôi dặn dò qua điện thoại ban nãy.

Tôi thở phào một hơi dài, đặt cuốn sổ tay trở lại mép chiếc rương gỗ hương bên cạnh chiếc chén sứ úp ngược. Tôi chống tay xuống nền gạch, chật vật đứng dậy. Đôi chân quỳ lâu trên nền đất lạnh đã tê rần, khiến tôi phải vịn vào cột nhà bằng gỗ mun một lúc lâu mới có thể bước từng bước khập khiễng về phía cửa chính.

- Ai đó? - Tôi cất giọng hỏi khẽ qua khe cửa, lòng vẫn chưa hết thảng thốt.

- Tao nè Linh! Ý với Minh đây! - Tiếng thì thầm của Như Ý lọt qua khe gỗ, giọng nhỏ xíu nhưng đầy vẻ sốt ruột - Mở cửa lẹ đi mày, ngoài này lạnh ngắt hà, gió thổi bay cả tóc tai!

Tôi tháo chốt then cài bằng sắt hoen gỉ. Chiếc chốt kêu lên một tiếng ken két chói tai, rỉ sét bám đầy vào lòng bàn tay tôi ươn ướt. Tôi kéo mạnh hai cánh cửa gỗ nặng trịch sang hai bên.

Gió đêm lập tức ùa vào gian nhà, mang theo hơi ẩm của cơn mưa rào vừa tạnh ngoài phố và mùi khói xe lẫn mùi bùn đất tanh nồng.

Như Ý đứng ngay bậu cửa, trên đầu vẫn đội chiếc nón bảo hiểm nửa đầu màu hồng phấn, hai tay ôm khư khư chiếc hộp bánh kem hình vuông cột nơ đỏ. Đứng ngay phía sau cô nàng là Hoàng Minh. Cậu ta mặc chiếc áo khoác gió màu đen, vai đeo chiếc ba lô vải dù sờn mép, tay xách theo một chiếc túi ni lông màu đen phồng to.

- Trời đất ơi, sao nhà mày tối thui vậy Linh? - Như Ý bước vội qua bậu cửa, mắt dáo dác nhìn quanh - Đèn đuốc đâu hết trơn rồi? Sinh nhật gì mà thắp có mỗi cây nến le lói giữa nhà vậy má? Làm tao với thằng Minh ngoài đường nhìn vô tưởng nhà hoang không đó!

Như Ý nói liến thoắng như để xua tan bầu không khí quánh đặc của căn nhà, nhưng bước chân cô nàng bỗng khựng lại ngay khi vừa đặt chân lên lớp gạch tàu gian giữa. Cô nàng hít hít mũi, mặt hơi nhăn lại:

- Mùi gì khét vậy mày? Mày đốt vàng mã trong nhà hả?

- Không có... Tao đâu có đốt gì đâu... - Tôi lí nhí đáp, vội vàng quay người đẩy hai cánh cửa gỗ khép lại rồi cài chặt then sắt.

Tiếng then cài cạch một tiếng khô khốc vang vọng khắp gian nhà ba gian.

Hoàng Minh không nói gì từ lúc bước vào. Cậu ta dựng chiếc ba lô xuống cạnh chân cột gỗ, ánh mắt thâm trầm đảo một vòng từ xà gồ chạm trổ hình hoa sen trên trần nhà xuống tận các bức vách vôi loang lổ. Minh lớn hơn chúng tôi hai tuổi, đang học năm cuối ngành khảo cổ và bảo tồn di sản, tính tình vốn điềm đạm và thích tìm hiểu những thứ phong tục tập quán cổ xưa.

Khi Minh nhìn về phía chiếc sập gụ và rương gỗ mở toang, ánh mắt cậu ta dừng lại rất lâu.

- Tay mày sao lạnh ngắt vậy Linh? - Như Ý nắm lấy tay tôi, giật mình thốt lên - Mặt mày cắt không còn hột máu nữa kìa. Có chuyện gì xảy ra lúc nãy hả? Mày nói tao nghe coi!

Sự ấm áp từ bàn tay bạn thân chạm vào da thịt làm phòng tuyến tinh thần của tôi sụp đổ một nửa. Tôi thấy khóe mắt mình cay xè, bao nhiêu nỗi sợ hãi dồn nén suốt nửa năm qua bỗng chốc dâng lên nghẹn ứ ở cổ họng. Tôi chỉ tay về phía chiếc rương gỗ hương vẫn đang mở nắp dưới chân sập gụ.

- Tụi bây... lại đây coi cái này đi... - Giọng tôi run bần bật.

Như Ý nhìn tôi đầy lo lắng, rồi cẩn thận đặt hộp bánh kem lên chiếc bàn tròn bằng đá cẩm thạch kê ở góc nhà. Hoàng Minh cũng bước lại gần, bước chân cậu ta dẫm lên những phiến gạch tàu phát ra những tiếng cộc cộc vang đều.

Ba đứa chúng tôi vây quanh chiếc đôn gỗ cạnh sập gụ. Ánh nến vàng hắt lên ba gương mặt trẻ tuổi, in bóng ba chiếc bóng đen kịt lên bức hoành phi cổ treo ở gian thờ phía sau.

Tôi run rẩy nhặt cuốn sổ bìa da lên, lật đến trang cuối cùng rồi đưa cho Hoàng Minh:

- Đây là nhật ký của ông cố nội tao... Cụ Sáu trước khi mất dặn tao đúng ngày sinh nhật hai mươi ba tuổi mới được mở rương ra xem. Tao vừa đọc xong trang này... thì dưới ván sàn có tiếng cào cấu. Nó cào rột roạt ngay dưới chân tao nè Ý...

Như Ý ghé đầu vào vai Minh, chăm chú nhìn vào trang giấy ố vàng rách nát. Ngón tay Minh lướt nhẹ trên những vệt mực đen đặc quánh như máu khô đang cào xé từng thớ giấy mỏng.

- Chữ này... - Minh nheo mắt đọc thì thầm từng chữ - "Nó vẫn nằm dưới ván sàn"...

- Ý nghĩa là sao Minh? - Như Ý rụt cổ lại, nắm chặt lấy bắp tay tôi - Ai nằm dưới ván sàn? Đừng nói với tao là nhà này có... có người chết chôn dưới đất nha?

- Ông cố nội tao mất vào cuối tháng Tư năm 1975 - Tôi nuốt nghẹn, tiếp lời bạn - Cả họ ai cũng nói ông mất vì bom đạn thời cuộc. Nhưng trong cuốn sổ này, ông viết là ông đã mượn vong giữ của để trấn đất từ năm 1945. Đến năm 1975 thì bùa hết linh, thứ đó trồi lên đòi một mạng người đàn ông họ Bùi để đền nợ. Trang cuối cùng ghi về đêm ông mất bị người ta cào nát bét thế này đây...

Hoàng Minh lật giở lại những trang trước, chăm chú đọc lướt qua những đoạn văn miêu tả về tiếng bước chân, về giếng nước đổi màu và tượng đồng nứt đôi. Gương mặt góc cạnh của cậu ta mỗi lúc một đanh lại dưới ánh nến chập chờn.

- Cuốn sổ này dừng lại đúng ngày hăm chín tháng Tư - Minh trầm ngâm cất tiếng, giọng trầm và đặc - Nét chữ bị gạch xóa này không phải do cụ Phán viết đâu. Nét bút cào rất sâu, mực tàu loại này người xưa hay dùng để vẽ bùa trấn trạch. Nhìn hướng rách của mép giấy thì giống như bị một bàn tay đầy móng vuốt cào từ trong cào ra hơn là người ta dùng bút gạch đi.

Nghe Minh phân tích, sống lưng tôi lạnh toát. Như Ý rùng mình một cái, vội vàng buông tay tôi ra rồi nhìn trừng trừng xuống những tấm ván sàn lót dưới lớp gạch.

- Thôi ghê quá tụi bây ơi! - Ý lắc đầu lia lịa, giọng méo xệch - Hay là đêm nay dẹp sinh nhật đi, ba đứa mình ra khách sạn ngoài đầu đường ngủ một đêm đi Linh! Nhà mày kỳ dị quá hà, tao đứng đây có một lát mà thấy lạnh buốt từ gót chân lên tới ót rồi nè!

- Đi đâu được mà đi? - Minh ngẩng đầu lên, ánh mắt cậu ta chiếu thẳng vào tôi, kiên định và sắc lẹm - Linh đã ở đây suốt sáu tháng qua rồi. Nếu thứ dưới sàn nhà thực sự muốn làm hại Linh, nó đã làm từ lâu rồi. Cụ Sáu dặn Linh đợi đến đúng ngày hôm nay mới được mở rương, chắc chắn phải có lý do của cụ.

Minh vừa nói vừa đưa tay chạm vào chiếc chén sứ trắng úp ngược nằm trong góc rương gỗ. Chiếc chén nhỏ bằng nắm tay, men sứ trắng đục đã ngả màu ngà voi theo năm tháng, trên phần đáy nhô lên có vẽ một mũi tên màu đỏ thẫm bằng chu sa.

- Chiếc chén này... và xấp giấy dó này... - Minh thì thầm, ngón tay miết nhẹ lên viền miệng chén - Bà nội mày chuẩn bị sẵn những thứ này trong rương từ trước khi mất sao Linh?

Tôi gật đầu, cổ họng nghẹn đắng:

- Tao không biết. Mở rương ra là đã thấy nó nằm chung với cuốn sổ rồi. Lúc nãy... lúc nãy tao thấy mũi tên trên đáy chén tự xoay về phía tao đó Minh...

Như Ý thét lên một tiếng nhỏ rồi vội lấy tay bịt chặt miệng lại. Căn nhà lại rơi vào sự im lặng ghê rợn. Tiếng gió bên ngoài vẫn rít từng cơn qua khe cửa gỗ, còn dưới chân chúng tôi, lớp ván sàn dường như đang truyền lên một luồng khí lạnh ngắt như băng tuyết.

Hoàng Minh nhìn chiếc chén sứ, rồi lại nhìn bức di ảnh của cụ Bùi Thị Sáu đặt trang trọng trên bàn thờ gia tiên ở gian giữa. Khói hương trầm từ chiều đã tàn hết, chỉ còn lại những tàn nhang uốn cong hình trôn ốc nằm trơ trọi trên bát hương đồng hoen gỉ.

Ánh mắt Minh lóe lên một vẻ kiên quyết lạ lùng, thứ ánh mắt của một kẻ đam mê khám phá những bí ẩn vượt ngoài tầm hiểu biết của người phàm. Cậu ta từ từ đặt chiếc chén sứ lên mặt bàn cẩm thạch, rồi quay sang nhìn thẳng vào mắt tôi.

Chương khác

Xem thêm