Chung Cư 727 - Chương 1: Đỉnh Tháp Bê Tông Và Ký Ức Đóng Đinh
Buổi chiều muộn ở góc đường Trần Hưng Đạo cắt ngõ cụt dẫn vào khu Chợ Lớn đặc quánh khói xe và bụi đường. Tôi dừng chiếc xe gắn máy cà tàng bên lề, tháo…
Nội dung chương
Buổi chiều muộn ở góc đường Trần Hưng Đạo cắt ngõ cụt dẫn vào khu Chợ Lớn đặc quánh khói xe và bụi đường. Tôi dừng chiếc xe gắn máy cà tàng bên lề, tháo nón bảo hiểm, ngước mắt nhìn lên bức tường bê tông xám xịt đang chắn ngang tầm mắt. Tòa nhà số 727 sừng sững như một khối đá tảng khổng lồ mọc ngược giữa khu phố sầm uất của Quận 5. Nó đứng đó suốt hơn nửa thế kỷ, nuốt trọn ánh sáng của cả một góc đường, phơi ra những mảng tường loang lổ vết nước mưa rỉ sét và rêu mốc đen sì.
Gió từ phía kênh Tàu Hủ thổi thốc qua những ô văng nứt toác, mang theo mùi hôi tanh nồng nặc của rác thải lâu ngày đọng lại trong các ống kỹ thuật. Bản thông báo bằng kim loại treo nghiêng ngả ở lối vào chính đập vào mắt tôi với dòng chữ in hoa màu đỏ đã bạc màu vì nắng mưa: "CÔNG TRÌNH NGUY HIỂM CẤP ĐỘ D - YÊU CẦU DI DỜI KHẨN CẤP". Con dấu tròn của Ủy ban nhân dân thành phố mờ nhạt dưới lớp bụi than dính chặt.
Tôi mở cặp da chuyên dụng, lấy ra tập hồ sơ thẩm định kỹ thuật được Công ty Quản lý Phát triển Đô thị giao phó sáng nay. Trên trang bìa đóng khung tên gọi nguyên thủy của công trình từ trước năm 1975: Building President. Mười ba tầng, năm trăm ba mươi gian phòng, xây dựng hoàn tất vào đầu thập niên sáu mươi dưới bàn tay của nhà thầu và tài phiệt Nguyễn Tấn Đời. Tôi lật giở từng trang kết quả khoan lõi bê tông. Cường độ nén của các trụ đỡ tầng trệt đã tụt xuống dưới mức an toàn cơ bản từ mười năm trước. Các thanh cốt thép phi hai mươi lăm bên trong trụ chịu lực chính đã bị oxy hóa nặng, trương nở lớp gỉ sét làm nứt toác lớp bê tông bảo vệ bên ngoài, biến khối kiến trúc đồ sộ này thành một cái bẫy chết người sẵn sàng sụp đổ bất cứ lúc nào.
Nhưng tôi đến đây không đơn thuần để đọc những chỉ số đo đạc cơ học khô khốc đó. Tôi nhận vị trí giám sát trưởng đội phá dỡ công trình này vì một món nợ vô hình kéo dài qua hai thế hệ.
Bên trong túi áo khoác bảo hộ của tôi có một chiếc hộp thiếc mỏng đựng thuốc lá bằng kim loại cũ. Bên trong chứa chiếc thẻ bài quân nhân Mỹ trầy xước mang tên William Miller, cùng một tấm ảnh đen trắng chụp vào mùa hè năm 1972. Người đàn ông trong ảnh có sống mũi cao gãy đoạn và đôi mắt sâu hoắm, đứng tựa lưng vào lan can ban công bê tông tầng mười ba của chính tòa nhà này. Đó là ông nội tôi.
Trước khi nhắm mắt tại bệnh viện cựu chiến binh ở bang Oregon bốn năm trước, ông cụ nắm chặt lấy cổ tay tôi, bàn tay run rẩy vì chứng run giật tuổi già. Ông không trăn trối về đất đai hay những món tiền trợ cấp. Ông nhắc đi nhắc lại về tiếng gõ cửa khô khốc vang lên từ những bức tường tầng hầm bị bít kín bằng vữa xi măng trong những đêm giới nghiêm năm 1972. Ông kể về người phụ nữ Việt Nam sống ở gian phòng tận cùng của tầng mười ba, người đã bước qua gờ ban công lao mình xuống khoảng không sâu hun hút trong cái đêm đơn vị của ông nhận lệnh triệt thoái khỏi Sài Gòn.
"Tòa nhà đó không chịu chết, Hải à," ông cụ thì thào bằng thứ tiếng Anh khàn đặc, đôi mắt đục ngầu nhìn chăm chăm lên trần phòng bệnh viện. "Bọn tao đã đóng đinh nó xuống lòng đất bằng những thứ dơ bẩn nhất để giữ cho nó đứng vững. Mày đừng bao giờ bước chân vào đó."
Lời cảnh báo muộn màng của một người lính già nửa tỉnh nửa mê không ngăn được bước chân tôi. Máu lai trong người tôi mang theo sự tò mò cay nghiệt của một kẻ làm nghề đập bỏ những thứ mục ruỗng. Tôi muốn tận mắt nhìn thấy những vết tích mà ông nội tôi từng kinh hãi.
Tôi kéo khóa áo bảo hộ, đội chiếc nón nhựa chuyên dụng màu trắng có gắn đèn pin định vị, rồi bước qua hàng rào dây kẽm gai rỉ sét tạm bợ bao quanh sảnh đón khách.
Tiếng còi xe ngoài đường Trần Hưng Đạo đột ngột tắt lịm ngay khi tôi bước qua ngạch cửa chính. Khối bê tông dày nửa mét của sảnh tầng trệt nuốt chửng toàn bộ âm thanh đô thị, ném tôi vào một bầu không khí ngột ngạt, ẩm ướt và lạnh buốt đến kỳ lạ. Sàn nhà lát gạch bông hoa văn cổ điển thời Pháp thuộc đã vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ, lạo xạo dưới đế giày bảo hộ. Nước thải từ các tầng trên rò rỉ qua các khe nứt của trần nhà, nhỏ giọt tí tách xuống những vũng nước đen ngòm bốc mùi xà phòng cũ và dầu mỡ thối rữa.
Bên góc hành lang tối tăm, một người đàn ông trung niên mặc áo dân phòng ngồi trên chiếc ghế xếp bằng vải dù rách nát. Trước mặt ông ta là một chiếc bàn gỗ con kê tạm bợ, bên trên đặt ấm trà nguội ngắt và cuốn sổ trực màu xanh đã quăn queo bốn góc. Nghe tiếng bước chân của tôi, ông ta giật mình ngẩng lên, bàn tay vội vàng nắm lấy cây đèn pin bằng nhôm đặt cạnh đĩa tàn thuốc lá.
"Cậu bên đội khảo sát tháo dỡ phải không?" Người đàn ông cất giọng rè rè, mắt nheo lại nhìn chiếc thẻ công tác đeo trước ngực tôi. "Trần Quang Hải... kỹ sư trưởng?"
"Vâng, tôi là Hải. Tôi đến nhận bàn giao mặt bằng kỹ thuật trước khi máy móc hạng nặng vào tuyến ngoài vào tuần sau." Tôi rút bao thuốc lá trong túi ra, mời ông ta một điếu.
Người đàn ông nhận điếu thuốc, quẹt que diêm đỏ rực. Ánh lửa bập bùng soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm trên gương mặt sạm đen vì nắng gió. Ông ta thở ra một làn khói trắng đục, nhìn tôi bằng ánh mắt ái ngại.
"Tôi tên Thắng, bảo vệ dân phố trực chốt ở đây từ đợt di dời đầu năm. Cậu vào một mình à? Mấy ông bên thanh tra xây dựng tuần trước đi cả đoàn bốn người mà mới lên tới tầng bảy đã vội vã rút xuống, bảo không khí trên đó ngột ngạt quá không thở nổi."
"Tôi cần kiểm tra lại độ võng của các dầm chính từ tầng thượng xuống móng trước khi lên phương án nổ mìn cục bộ hoặc dùng búa thủy lực," tôi đáp, ngón tay chỉ về phía giếng thang máy ở trung tâm tiền sảnh. "Hiện tại còn bao nhiêu hộ chưa chịu di dời?"
Ông Thắng rít một hơi thuốc dài, lắc đầu ngao ngán:
"Chính thức thì chính quyền đã cưỡng chế di dời gần hết từ tháng trước. Năm trăm ba mươi phòng mà giờ chỉ còn lại chừng chục hộ già cả, neo đơn bám trụ ở mấy tầng dưới vì chưa tìm được chỗ tái định cư vừa ý. Ban ngày họ đi làm mướn, làm thuê kiếm sống, tối mịt mới mò về ngủ tạm. Nhưng từ tầng sáu trở lên thì tuyệt đối không có bóng người nào ở đâu. Toàn bộ đường dây điện sinh hoạt trên đó đã bị cắt hẳn từ ba tháng trước để tránh chập cháy."
"Còn tầng hầm thì sao?" Tôi hạ giọng hỏi, mắt quét về phía cánh cửa sắt kéo bị khóa bằng ba ổ khóa xích rỉ sét nằm khuất sau chân cầu thang bộ.
Bàn tay cầm điếu thuốc của ông Thắng khẽ run lên. Ông ta liếc nhanh về phía cánh cửa sắt đó, rồi nhìn chằm chằm vào tôi với vẻ dò xét:
"Cậu hỏi tầng hầm làm cái gì? Chỗ đó nước ngập ngang bụng chân quanh năm suốt tháng, rác rưởi trôi lềnh bềnh. Hồi tiếp quản năm bảy lăm, người ta đã hàn kín cửa ngách dẫn xuống kho kỹ thuật sâu bên dưới rồi. Mấy chục năm nay không ai dại dột mò xuống đó. Thỉnh thoảng cống nghẹt, mùi xú uế bốc lên nồng nặc, mấy tay thợ thông cống mở khóa ra dòm một cái là quay đầu chạy có cờ."
"Tôi cần kiểm tra móng cọc," tôi giải thích ngắn gọn, tránh để lộ mục đích cá nhân. "Tòa nhà này xây theo công nghệ móng bè kết hợp cọc nhồi thời kỳ đầu. Nếu tầng hầm bị ngập úng và xói mòn chân móng, khi chúng tôi hạ tải các tầng trên, nguy cơ lún lệch làm sụp nghiêng công trình sang các nhà dân bên cạnh là rất lớn."
Ông Thắng im lặng một lúc lâu, ánh mắt lảng tránh ánh đèn pin của tôi. Ông ta dí đầu mẩu thuốc lá vào chiếc nắp hộp sữa đặc đã biến thành gạt tàn, thở dài một tiếng:
"Cậu muốn làm gì thì làm, đó là phận sự của mấy người chuyên môn. Nhưng tôi dặn trước, sập hay không sập tôi chưa biết, chứ cái chung cư này có dớp nặng lắm. Tối nào ngồi trực ở đây, tôi cũng nghe thấy tiếng bước chân nện uỳnh uỵch trên trần tầng hai, tầng ba, dù trên đó người ta đã dọn sạch đồ đạc, cửa nẻo niêm phong kín mít. Đêm hôm kia, khoảng hai giờ sáng, tôi còn nghe thấy tiếng con nít khóc văng vẳng trong họng rác thông tầng."
Tôi gật đầu ghi nhận lời ông ta, nhưng không bình luận gì thêm. Đối với một người làm nghề phá dỡ công trình hơn mười năm như tôi, những câu chuyện ma mị ở các khu nhà cũ nát sắp bị giải tỏa luôn xuất hiện nhan nhản. Sự sợ hãi của con người thường bắt nguồn từ bóng tối và sự hoang tàn của chính những không gian bị bỏ rơi.
Tôi cầm chiếc đèn pin công suất lớn, bật công tắc. Luồng ánh sáng trắng lạnh cắt ngang bóng tối đặc quánh của sảnh thang máy, rọi thẳng vào những vách tường tróc lở từng mảng vôi lớn. Tôi bước lại gần họng thang máy trung tâm.
Hai cánh cửa sắt của thang máy đã bị cạy bung từ lâu, để lộ ra khoảng giếng trời sâu hoắm, đen ngòm như miệng một con quái vật đang há hốc. Hệ thống cáp tải đã bị tháo dỡ bán phế liệu, chỉ còn lại những thanh ray dẫn hướng bằng thép chữ T rỉ sét chạy dọc từ đáy sâu lên tận đỉnh tòa nhà. Tôi ghé sát đầu nhìn xuống đáy giếng thang. Dưới đó ngập một lớp nước đen kịt, bên trên phủ đầy những mảnh ván ép mục nát, bao nilon và xác chuột chết trôi lềnh bềnh.
Mùi xú uế xộc thẳng vào mũi, mang theo vị tanh của sắt rỉ và một thứ mùi ngai ngái khó tả, tựa như mùi thịt cá ươn thối bị vùi lấp dưới lớp bùn lầy lâu ngày. Tôi lấy khăn tay che mũi, lùi lại hai bước.
Cầu thang bộ chính nằm ngay bên cạnh giếng thang máy. Bậc thang bằng đá mài màu xám đã mòn vẹt ở phần mép do hàng triệu lượt người giẫm đạp qua hơn nửa thế kỷ. Lan can sắt uốn lượn theo phong cách kiến trúc hiện đại của thập niên sáu mươi bị rỉ ăn cụt từng đoạn, nhiều chỗ trơ ra những mấu sắt nhọn hoắt nguy hiểm.
Tôi bắt đầu bước lên những bậc thang đầu tiên. Tiếng đế giày cao su của tôi dội vào những bức tường bê tông vang lên những âm thanh khô khốc, cô độc. Càng lên cao, ánh sáng tự nhiên hắt vào từ các ô thông gió ngoài hành lang càng yếu dần. Những ô văng chắn nắng bên ngoài đã bị người dân trước đây dùng tôn cũ, ván ép và lưới bạt che chắn chằng chịt để cơi nới không gian sinh hoạt, biến toàn bộ hành lang dài hàng trăm mét thành những đường hầm nhân tạo ngột ngạt.
Đến chiếu nghỉ tầng hai, tôi dừng lại để kiểm tra một vết nứt lớn xé toạc góc tường giao nhau giữa dầm chịu lực và cột bê tông. Tôi lấy thước kẹp kim loại ra đo. Khe nứt rộng gần ba phân, sâu hoắm vào tận lõi cốt thép. Vữa trát xung quanh vết nứt đã mủn ra như bột cát khi tôi dùng đầu ngón tay ấn nhẹ. Bê tông của công trình này đã mất hoàn toàn tính liên kết hóa học. Hiện tượng cacbonat hóa đã ăn sâu vào lớp bảo vệ, biến khối đá nhân tạo vững chãi năm xưa thành một cấu trúc xốp giòn nguy hiểm.
Tôi ghi chép các thông số kỹ thuật vào cuốn sổ tay công tác. Khi ngòi bút bi vừa vạch xong con số cuối cùng, một luồng gió lạnh buốt từ phía cuối hành lang tầng hai bất ngờ thổi ngược về phía tôi.
Cơn gió mang theo một thứ âm thanh rất khẽ. Đó là tiếng kim loại cào vào nhau sột soạt, phát ra từ ống xả rác bằng bê tông đúc sẵn đặt ở góc khuất hành lang.
Tôi đứng bất động, nín thở lắng nghe.
Tiếng động không giống như chuột bọ hay mèo hoang chạy qua. Nó đều đặn, nhịp nhàng và kéo dài, như thể có ai đó đang cầm một chiếc đinh gỉ cạo từng vệt dài vào lòng ống dẫn rác từ trên các tầng cao xuống. Âm thanh kim loại ma sát với thành ống bê tông dội qua các tầng lầu rỗng tuếch, nghe rợn cả người.
"Ai đó?" Tôi cất tiếng hỏi lớn.
Giọng nói của tôi dội ngược lại từ những cánh cửa căn hộ đóng kín, trơ trọi và lạc lõng. Tiếng cào kim loại lập tức ngưng bặt.
Chung cư lại chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối của một bãi tha ma bê tông.
Tôi siết chặt chiếc đèn pin trong tay, rọi thẳng luồng sáng vào sâu trong hành lang tầng hai. Dãy hành lang sâu hun hút, hai bên là hàng chục cánh cửa gỗ màu nâu xám đã mục ruỗng. Nhiều cánh cửa treo lủng lẳng trên một chiếc bản lề rỉ sét, để lộ ra những gian phòng tối om, trống rỗng bên trong, nơi chỉ còn lại những đống giẻ lau rách rưới, mảnh báo cũ và những mảnh gương vỡ nằm rải rác trên sàn nhà bám đầy bụi bặm.
Tôi không bước vào hành lang tầng hai mà tiếp tục bước lên cầu thang bộ. Mục tiêu của tôi hôm nay không phải là những tầng dưới này. Mục tiêu thực sự của tôi nằm ở tầng cao nhất của tòa nhà.
Tầng mười ba. Nơi căn phòng cuối cùng trong bức ảnh của ông nội tôi từng tồn tại. Nơi mà theo lời kể của ông, vào cái đêm tháng Tư năm 1972, một nghi lễ trấn yểm kỳ quái đã được thực hiện vội vã trước khi người lính Mỹ cuối cùng rời bỏ Building President.
Bậc thang dẫn lên các tầng trên ngày càng dốc đứng và hẹp lại. Mỗi bước chân của tôi dường như đang kéo tôi rời xa thế giới ồn ào, náo nhiệt của Sài Gòn bên ngoài, đẩy tôi chìm sâu vào một khoảng chân không ngột ngạt của quá khứ. Không khí trên các tầng cao loãng dần, nặng trĩu mùi ẩm mốc và mùi vôi vữa phân hủy.
Khi tôi bước lên đến chiếu nghỉ của tầng năm, một cảm giác kỳ lạ chạy dọc sống lưng. Dưới lòng bàn chân tôi, qua lớp đế giày bảo hộ dày cộm, sàn bê tông dường như khẽ rung lên một nhịp rất nhẹ. Đó không phải là độ rung do xe tải hạng nặng chạy qua đường Trần Hưng Đạo bên dưới gây ra. Dao động này có tần số rất thấp, truyền thẳng từ hệ thống móng cọc sâu dưới lòng đất lên theo phương thẳng đứng, làm các hạt bụi vôi trên trần nhà rơi lả tả xuống vai áo tôi.
Tôi dừng bước, đặt bàn tay trần áp chặt vào bề mặt nham nhở của cột bê tông chịu lực bên cạnh.
Một luồng hơi lạnh buốt từ sâu trong lõi thép truyền qua lòng bàn tay tôi. Và sâu bên trong lòng khối bê tông dày đặc đó, tôi nghe thấy một tiếng gõ khô khốc vang lên.
*Cộc. Cộc.*
Hai tiếng gõ dứt khoát, âm vang như tiếng búa gõ vào một tấm thép bị chôn vùi dưới lớp đất sâu, vọng lên từ đáy tầng hầm bị niêm phong.