Chung Cư 727 - Chương 2: Xác Ốc 13 Tầng Giữa Lòng Chợ Lớn
Tiếng gõ kim loại truyền từ lõi cột bê tông tắt lịm sau hai nhịp dứt khoát. Bàn tay trần của tôi vẫn áp chặt vào lớp vữa sần sùi bám đầy bụi xám. Hơi…
Nội dung chương
Tiếng gõ kim loại truyền từ lõi cột bê tông tắt lịm sau hai nhịp dứt khoát. Bàn tay trần của tôi vẫn áp chặt vào lớp vữa sần sùi bám đầy bụi xám. Hơi lạnh từ khối đá nhân tạo ngấm buốt qua da thịt, mang theo mùi ẩm mốc đặc trưng của những khối xi măng đã chết lâm sàng qua hơn nửa thế kỷ.
Tôi rút tay lại, chùi lớp bụi xám vào ống quần bảo hộ cáng bạt. Trước mắt tôi, cái xác khổng lồ của Building President vươn cao giữa nền trời Chợ Lớn xám xịt của một buổi chiều muộn cuối năm. Năm trăm ba mươi gian phòng chia đều trên mười ba tầng lầu, từng là niềm kiêu hãnh tột bậc của ông trùm ngân hàng Nguyễn Tấn Đời vào năm 1960. Thời bấy giờ, công trình này đại diện cho sự xa hoa bậc nhất của đô thị miền Nam, một tổ hợp cư xá đồ sộ với hệ thống thang máy Otis hiện đại bậc nhất, mạng lưới cấp thoát nước âm tường bọc đồng và những dải ban công đón gió lộng từ kênh Tàu Hủ.
Hiện thực năm 2016 bày ra trước mắt tôi là một khối kiến trúc mục ruỗng cấp độ D, mức độ nguy hiểm cao nhất theo thang phân loại của Sở Xây dựng. Khối nhà như một chiếc mai ốc khổng lồ bị bỏ quên giữa lòng đô thị, ruột rỗng và rữa nát, chờ đợi nhát búa đầu tiên của đội phá dỡ đập vỡ những mắt xích chịu lực cuối cùng.
Tôi tháo chiếc ba lô vải dù, đặt xuống bậc tam cấp của chiếu nghỉ tầng năm. Bên trong chiếc ống nhựa hình trụ màu đen khóa ren xoay là tập bản vẽ hoàn công bằng giấy can ố vàng mà tôi đã lục lọi suốt hai tuần trong kho lưu trữ kỹ thuật thành phố. Bản thiết kế gốc mang tiêu đề tiếng Pháp và tiếng Việt: "Chung cư cao ốc Nguyễn Tấn Đời - 727 Đại lộ Trần Hưng Đạo", do chính nhóm kiến trúc sư tài danh bậc nhất Sài Gòn thập niên sáu mươi chấp bút tính toán tải trọng.
Tôi không mở bản vẽ ngay. Nhiệm vụ thực địa của buổi chiều nay là kiểm tra độ suy thoái thực tế của các cấu kiện chịu lực chính từ tầng năm lên tới nóc nhà.
Tôi rút chiếc búa thử tải Schmidt từ bao da đeo bên hông. Đây là dụng cụ cơ học dùng để đo độ cứng bề mặt và suy đoán cường độ chịu nén của bê tông. Tôi tiến lại gần cây cột trụ mã hiệu C-14 nằm sát mép giếng trời trung tâm. Lớp vữa trát bên ngoài đã phồng rộp, nứt nẻ như da trăn lột. Tôi dùng mũi đục cạo phẳng một khoảng diện tích bằng bàn tay, để lộ ra bề mặt bê tông nguyên bản màu xám chì.
Tôi ghì chặt đầu búa vào mặt phẳng rồi bóp cò. Lò xo bên trong bật nẩy, thanh kim loại đập mạnh vào khối đá.
*Cạch.*
Kim chỉ số trên thân búa dừng lại ở con số 16. Tôi đo lại ở ba điểm lân cận, các chỉ số dao động từ 14 đến 17. Con số này thấp đến mức báo động. Với công trình cao tầng dùng bê tông cốt thép toàn khối, mác thiết kế ban đầu năm 1960 tối thiểu phải đạt 250 đến 300 kg/cm2, tương đương chỉ số bật nẩy trên 30. Kết quả đo đạc cho thấy bê tông của tòa nhà đã thoái hóa nghiêm trọng. Nước mưa ngấm qua hàng chục năm rò rỉ cùng với khí carbon dioxide trong không khí đô thị đã kiềm hóa hoàn toàn lớp đá bao bọc, làm rỉ sét cốt thép chịu lực bên trong.
Dưới lớp bê tông mủn nát, những thanh thép phi 25 gồ ghề bị oxy hóa nở to gấp đôi kích thước ban đầu, lớp rỉ màu nâu đỏ tách ra từng mảng như vỏ cây khô. Khi cốt thép rỉ sét, thể tích giãn nở của nó tạo ra một áp lực nứt nẻ cực lớn từ trong lòng cột, xé toạc lớp vỏ bảo vệ và tước đi toàn bộ khả năng chịu ứng suất uốn của tòa tháp.
Một khối bê tông rỗng ruột đứng vững suốt bốn mươi năm sau chiến tranh bằng một thứ cân bằng mong manh đến kỳ dị.
Tôi đeo lại búa vào thắt lưng, bước dọc theo hành lang tầng năm. Mặt sàn xi măng mài lồi lõm, ngập ngụa những thứ phế thải của một cuộc tháo chạy vội vã. Những đôi dép nhựa mòn vẹt, vỏ chai thuốc tây vỡ vụn, khung giường sắt rỉ sét gãy gập nằm ngổn ngang trước những ô cửa số 512, 514, 516. Phần lớn các cánh cửa gỗ đã bị tháo dỡ lấy gỗ vụn hoặc mục nát rơi rụng bản lề. Nhìn vào bên trong các căn hộ, diện tích mỗi phòng chưa đầy ba mươi mét vuông, tường ngăn giữa các hộ dân bị đục khoét nham nhở để luồn dây điện chằng chịt như mạng nhện.
Mùi hôi hám của cống rãnh tắc nghẽn bốc lên từ các họng xả rác thẳng đứng. Không có gió luồn qua các tầng trung gian này. Không khí đặc quánh, nóng hầm hập và tanh nồng mùi rỉ sắt.
Tôi tiếp tục leo lên. Tầng sáu, tầng bảy, rồi tầng tám. Càng lên cao, sự hoang phế càng lộ rõ tính chất hủy diệt của thời gian. Từ tầng tám trở lên, hầu hết các hộ dân đã dời đi từ nhiều tháng trước theo thông báo di dời khẩn cấp của chính quyền. Không còn tiếng trẻ con khóc, không còn tiếng xoong chảo va quẹt của những bữa cơm chiều nghèo nàn. Không gian chung cư bao trùm một thứ im lặng nặng nề, thứ im lặng của một nấm mồ tập thể được dựng bằng sắt thép.
Mỗi tầng lầu là một vòng lặp của sự tàn lụi. Tôi liên tục dừng lại ghi chép vào sổ tay: dầm D-08 võng quá giới hạn cho phép bốn mươi lăm milimét; bản sàn khu vực vệ sinh tầng chín bị thủng một mảng lớn trơ khung sắt gãy; cột biên phía đông nứt xiên bốn mươi lăm độ, dấu hiệu điển hình của sự phá hoại do lực cắt quá tải.
Đến tầng mười hai, cầu thang bộ dẫn lên tầng mười ba bị chặn lại bởi một cánh cổng sắt mắt cáo cũ kỹ. Cánh cổng này từng được khóa bằng một sợi xích to bản, nhưng xích đã bị ai đó dùng kìm cộng lực cắt đứt từ lâu, vắt vẻo rỉ sét trên tay nắm.
Tôi dùng vai đẩy cánh cổng sắt. Bản lề khô dầu rít lên một âm thanh chói tai, vọng vang khắp giếng trời hun hút.
Tầng mười ba hiện ra trước mắt tôi.
Không gian ở đây lạnh hơn các tầng dưới một cách rõ rệt. Không phải cái lạnh mát mẻ của gió trời trên cao, mà là thứ khí lạnh ẩm ướt, nhớp nháp bốc lên từ những vũng nước tù đọng trên sàn. Tầng mười ba không chia thành các phòng nhỏ san sát như các tầng dưới. Dãy hành lang ở đây rộng hơn, nhưng các vách tường lại được xây bịt kín nhiều ô cửa sổ nhìn ra ngoài trời bằng những hàng gạch thẻ thô ráp, không hề trát vữa.
Tôi bật đèn pin công suất lớn gắn trên mũ bảo hộ. Luồng sáng trắng cắt đôi bóng tối dày đặc của tầng chót, quét qua những bức tường loang lổ rêu xanh.
Tôi rút thước dây kim loại và máy đo khoảng cách laser ra khỏi túi đồ nghề. Bắt đầu từ trục định vị trung tâm giáp với họng thang máy Otis đã chết đứng, tôi chiếu tia laser đỏ vào tim cột chịu lực đầu tiên của tầng mười ba.
Con số hiển thị trên màn hình kỹ thuật số khiến tôi phải nhíu mày: 4,35 mét.
Tôi quay lại nhìn bản vẽ thiết kế năm 1960 đang kẹp dưới nách. Theo lưới cột kết cấu chuẩn của toàn bộ tòa nhà, khoảng cách tim cột từ tầng trệt đến tầng mười hai luôn cố định ở mức 4,00 mét. Tôi đo tiếp trục dầm ngang tiếp theo. Tia laser báo 3,62 mét.
Sai số lên tới gần bốn mươi phân.
Trong kỹ thuật xây dựng công trình bê tông cốt thép cao tầng, sự sai lệch này là một điều không tưởng. Kết cấu dầm giằng và cột chịu lực của các tầng trên bắt buộc phải nằm thẳng trục theo phương thẳng đứng với các tầng dưới để truyền tải trọng bản thân và hoạt tải xuống hệ móng cọc nhồi. Việc đúc lệch tâm với khoảng cách lớn như thế này sẽ sinh ra một mô men uốn khổng lồ tại các nút khung, có thể bẻ gãy dầm chịu lực bất cứ lúc nào dưới tác động của tải trọng tĩnh.
Không một kỹ sư kết cấu Tây phương nào được đào tạo bài bản lại có thể thiết kế một hệ khung dầm lệch tâm quái gở như thế này.
Tôi bước nhanh lại gần cụm dầm trần nối giữa họng thang máy và dãy hành lang phía tây. Dùng đèn pin soi thẳng lên trần bê tông, tôi thấy rõ vết ghép cốt pha gỗ thông thô sơ. Hệ dầm giằng ở tầng mười ba này không hề ăn khớp với hệ cột bê tông chính chạy suốt mười hai tầng bên dưới. Người ta đã cố tình cấy thêm các dầm phụ chịu lực theo một phương vị xiên xẹo, đâm chéo từ các góc tường vào họng thang máy, tạo thành một mạng lưới dầm hình nan quạt bất đối xứng.
Tôi giơ búa Schmidt gõ thử vào thân dầm giằng bị lệch tâm. Tiếng đập phát ra đanh thép, vang dội hơn hẳn các tầng dưới. Chỉ số bật nẩy vọt lên 38. Bê tông ở tầng mười ba này được đổ bằng một loại xi măng hoàn toàn khác, độ đặc chắc rất cao và dường như được thi công vào một thời điểm khác biệt so với khung sườn tổng thể của tòa nhà năm 1960.
Ai đã can thiệp vào kết cấu của tầng mười ba này? Và họ làm điều đó để làm gì khi việc bẻ cong hệ lưới cột chỉ làm tăng nguy cơ sụp đổ của toàn bộ công trình?
Tôi tìm một chiếc bàn gỗ hỏng nằm chỏng chơ gần buồng thang máy, dùng găng tay quét sạch lớp bụi vôi dày cộp trên mặt bàn rồi trải cuộn bản vẽ hoàn công ra. Tôi lấy bốn viên gạch vỡ đè chặt bốn góc giấy can đã ngả sang màu vàng cháy.
Dưới ánh sáng rực của ngọn đèn pin, những nét mực Tàu vẽ mặt bằng tầng mười ba hiện lên rõ nét. Bản vẽ này được ký duyệt vào tháng Tám năm 1960 bởi kỹ sư trưởng người Pháp gốc Việt làm việc cho Nguyễn Tấn Đời.
Tôi lật giở từng trang hồ sơ kỹ thuật. Mặt bằng móng, mặt bằng tầng hầm, mặt bằng tầng một đến tầng mười hai đều tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn kỹ thuật kiến trúc hiện đại thời bấy giờ. Mọi đường nét thẳng tắp, các trục định vị A, B, C và 1, 2, 3 phân bổ đều đặn theo tỷ lệ vàng.
Nhưng khi lật đến tờ bản vẽ mang số hiệu A-13, tờ cuối cùng của tập hồ sơ, ngón tay tôi khựng lại.
Bề mặt tờ bản vẽ mặt bằng tầng mười ba không còn giữ được sự tinh tươm của những bản vẽ khác. Toàn bộ khu vực mặt bằng tầng chót này đã bị ai đó dùng một cây bút chì mỡ màu đỏ gạch chéo bằng những nét đậm, thô bạo và dứt khoát. Nét chì mỡ màu đỏ sẫm như máu khô hằn sâu vào thớ giấy can mỏng manh, tạo thành hai đường chéo lớn nối từ bốn góc ngoài cùng của tòa nhà đâm thẳng vào tâm điểm.
Tâm điểm của hai đường gạch chéo đỏ rực đó rơi đúng vào buồng kỹ thuật của họng thang máy trung tâm.
Tôi cúi sát mặt xuống mặt bàn, rọi đèn pin vào từng chi tiết nhỏ bị nét chì đỏ đè lên. Bên dưới những nét gạch xóa, người vẽ không ghi chú công năng phòng ốc như các tầng dưới. Không có phòng ngủ, không có khu vệ sinh, không có lối thoát hiểm. Thay vào đó, ngay tại vị trí họng thang máy, một đồ hình kỳ dị được phác họa bằng cùng loại chì mỡ đỏ.
Đó là một hình bát quái.
Nhưng các quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài không được ba trí theo trật tự Tiên thiên hay Hậu thiên bát quái thông thường mà tôi từng thấy trong các tài liệu phong thủy cổ truyền. Đồ hình này bị đảo ngược hoàn toàn. Quẻ Khảm đại diện cho nước lại nằm ở phương chính Nam, quẻ Ly đại diện cho lửa bị dìm xuống đáy chính Bắc. Toàn bộ tám quái vị bị bóp méo, xoay ngược chiều kim đồng hồ một góc bốn mươi lăm độ, khớp nối chuẩn xác đến từng milimét với các dầm bê tông lệch tâm mà tôi vừa đo đạc thực tế trên trần nhà.
Một mạng lưới phong tỏa bằng bê tông cốt thép.
Bên cạnh đồ hình bát quái ngược, có một dòng chữ viết tay vội vã bằng mực sắt màu nâu đen, thứ mực thường được quân đội Mỹ sử dụng trong các tài liệu tác chiến thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Chữ viết bằng tiếng Anh pha lẫn thuật ngữ quân sự, nét chữ cứng và sắc:
*"MACV Support Activity Saigon - Structural reinforcement approved. Sector 13 sealed under Operation Arcane Grid. April 1972. Do not breach the foundation core."*
Nội dung ghi chép ngắn gọn: *Cơ quan Hỗ trợ Quân sự Mỹ tại Sài Gòn - Đã phê duyệt gia cố kết cấu. Khu vực 13 được niêm phong theo Chiến dịch Arcane Grid. Tháng Tư năm 1972. Tuyệt đối không xâm phạm lõi móng.*
Tháng Tư năm 1972.
Đúng vào khoảng thời gian ông nội tôi, Richard Miller, đóng quân tại Building President trước khi toàn bộ lực lượng hậu cần của quân đội Mỹ hoàn tất việc rút quân khỏi miền Nam theo hiệp định Paris. Những mảnh ghép rời rạc trong lời kể lẩm cẩm của ông những năm tháng cuối đời bên bờ biển Oregon bỗng nhiên dội về trong tâm trí tôi rõ mồn một. Ông từng nói về những kỹ sư công binh công binh lục quân được điều đến tòa nhà vào những đêm giới nghiêm, về những khối xi măng mác cao được bí mật trộn bằng nước giếng khoan lấy từ chân móng, và về người đàn bà Việt Nam mặc áo lụa trắng đã gieo mình từ tầng mười ba xuống khoảng giếng trời đúng vào đêm cánh cửa sắt tầng này bị hàn kín.
Những dầm bê tông đúc lệch tâm kia không phải là lỗi thi công của thợ hồ năm 1960. Chúng là những thanh giằng cơ học được cố tình cấy thêm vào năm 1972 để phục vụ cho đồ hình bát quái ngược này. Người ta đã dùng hàng chục tấn bê tông đặc chủng để khóa chặt một thứ gì đó ngay tại họng thang máy của tầng chót, biến tầng mười ba thành một cái nắp đậy khổng lồ đè nặng lên toàn bộ mười hai tầng bên dưới.
Một cơn gió mạnh bất ngờ thốc qua ô cửa thông gió không chấn song phía cuối hành lang. Ngọn gió cuốn theo bụi xi măng mù mịt, làm góc tờ bản vẽ ố vàng đập phần phật vào mặt bàn gỗ.
*Xoẹt.*
Tiếng giấy xé vang lên khô khốc trong không gian vắng lặng. Tôi vội đè tay giữ chặt mép bản vẽ.
Từ sâu bên trong họng thang máy Otis bỏ hoang nằm cách tôi chưa đầy mười bước chân, một âm thanh lạ lùng vọng ra.
Đó là tiếng dây cáp thép cọ xát vào ròng rọc gang. Một tiếng rít rỉ sét, chậm rãi và nặng nề, như thể có một vật nặng hàng trăm cân đang treo lơ lửng dưới đáy hầm sâu và khẽ đung đưa qua lại theo từng nhịp thở của tòa nhà.
Họng thang máy này đã bị cắt điện từ hơn mười năm trước, cabin thang máy theo biên bản bàn giao của ban quản lý chung cư thì đã bị hạ chốt cố định nằm chết dưới tầng hầm từ lâu. Không thể có bất kỳ sợi cáp nào còn chuyển động tự do trên đỉnh tháp.
Tôi đứng thẳng người, tắt chiếc máy đo laser và nắm chặt chiếc búa Schmidt trong tay. Ánh đèn pin quét qua cánh cửa thang máy tầng mười ba. Hai cánh cửa sắt trượt sơn màu xanh quân đội đã bị gỉ sét ăn rỗ mặt, mép cửa bị hàn chết bằng sáu mối hàn điện to bằng ngón chân cái. Nhưng ngay trên khe hở hẹp ở giữa hai cánh cửa, nơi những mối hàn đã rạn nứt vì thời gian, một vệt chất lỏng sẫm màu đang rỉ ra, chảy dài xuống sàn bê tông xám xịt.
Chất lỏng đó có mùi hôi nồng của mỡ bò công nghiệp trộn lẫn với mùi tanh của bùn đáy cống.
Để hiểu được điều gì thực sự đã diễn ra trên tầng mười ba này vào cái đêm tháng Tư năm 1972, tôi không thể chỉ dựa vào một tờ bản vẽ bị gạch nát hay những cấu kiện bê tông đã mất tiếng nói. Lịch sử của một tòa nhà suy tàn luôn được ghi nhớ chuẩn xác nhất bởi chính những con người đã bám rễ cùng sự mục ruỗng của nó qua hàng thập kỷ.
Những cư dân cuối cùng của chung cư 727 vẫn đang sống ở những tầng thấp bên dưới. Họ là những người đã chứng kiến tòa nhà chuyển mình từ một khách sạn quân đội sang một khu ổ chuột cao tầng, chứng kiến những vết nứt đầu tiên xuất hiện trên thân bê tông, và có lẽ, đã nghe thấy những âm thanh mà người ngoài không bao giờ nghe được.
Tôi cuộn tròn bản vẽ cẩn thận, nhét lại vào ống nhựa bảo vệ rồi siết chặt nắp ren. Tiếng cáp thép trong họng thang máy vẫn rít lên từng hồi chậm rãi sau lưng tôi.
Tôi quay lưng bước nhanh về phía cầu thang bộ, hướng thẳng xuống những tầng lầu phía dưới, nơi những đốm đèn dầu leo lét của những hộ dân chưa chịu di dời vẫn đang cố chống cự lại bóng tối đặc quánh của Chợ Lớn khi màn đêm chính thức buông xuống.