Chung Cư 727 - Chương 4: Cầu Thang Bộ Dẫn Vào Bóng Tối
Chiếc máy nổ hai thì đặt ngoài sân bê tông rung bần bật, nhả ra từng cụm khói xám nồng mùi dầu diesel chưa cháy hết. Tiếng pít-tông gõ chan chát vào lòng…
Nội dung chương
Chiếc máy nổ hai thì đặt ngoài sân bê tông rung bần bật, nhả ra từng cụm khói xám nồng mùi dầu diesel chưa cháy hết. Tiếng pít-tông gõ chan chát vào lòng xilanh khuấy động bầu không khí đặc quánh của khu phố Chợ Lớn lúc nửa đêm. Tôi cúi xuống siết chặt lại quai chiếc ba lô chuyên dụng đựng máy thủy bình điện tử, kiểm tra chốt khóa hai chân đế tripod bằng hợp kim nhôm rồi ngẩng đầu nhìn lên họng cầu thang bộ tối om trước mặt.
Lối dẫn lên các tầng trên là một vòm bê tông xám xịt hình móng ngựa, mép tường bong tróc từng mảng vôi vữa lớn để lộ ra những viên gạch thẻ màu đỏ thẫm đã mục ải theo thời gian. Mùi ẩm mốc bốc lên từ lòng cầu thang, thứ mùi pha trộn giữa rêu xanh ngâm nước lâu ngày, nước tiểu chuột cống đọng trong các khe nứt và lớp gỉ sét dày cộp của những tay vịn sắt tráng kẽm sản xuất từ thập niên sáu mươi.
"Dây cáp ba pha đã nối xong vào tủ nguồn dã chiến ngoài xe tải, anh Hải." Văn vừa thở dốc vừa bước lại gần, hai bàn tay phủ kín lớp muội than đen nhẻm từ ống xả máy nổ. Cậu ta dùng vạt áo bảo hộ quệt mồ hôi trán, để lại một vệt lem luốc kéo dài từ chân mày xuống thái dương. "Cuộn dây này dài một trăm năm mươi mét. Em với thằng Bình, thằng Dũng chịu trách nhiệm tời dây lên sàn mái. Ba người còn lại vác máy quan trắc và đèn pha rọi đường."
Tôi quay sang nhìn sáu người thợ trong tổ tiền trạm. Dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ bóng đèn tròn treo tạm ở đầu xe ép rác, mặt người nào cũng căng ra. Thợ phá dỡ công trình không lạ gì những khối nhà nát, những mảng sàn bê tông sẵn sàng sụp đổ dưới gót chân hay những thanh dầm rạn nứt chực chờ bung cốt thép. Nhưng tòa nhà mười ba tầng này mang một trạng thái khác hẳn. Nó trơ trọi, đen ngòm, sừng sững nuốt trọn bóng tối của cả khuông đất rộng hàng ngàn mét vuông, toát ra sự câm lặng gớm ghiếc của một xác chết bê tông khổng lồ vừa bị rút hết hơi ấm con người.
"Mỗi người đeo găng tay sợi thủy tinh vào, kiểm tra kỹ đèn đội đầu," tôi nói chậm rãi, giọng đanh lại để át đi tiếng máy nổ. "Cầu thang từ tầng một lên tầng sáu rất nhiều mảnh kính vỡ và rác thải sinh hoạt do dân bỏ lại khi di dời. Bắt đầu từ tầng bảy trở lên, kết cấu chịu lực suy giảm nghiêm trọng, mặt sàn có hiện tượng nứt võng cục bộ. Cứ cách một tầng, Văn phải đóng một đinh thép vào mạch vữa để cố định đường cáp, tuyệt đối không để dây điện lòng thòng cọ xát vào các cạnh bê tông sắc nhọn. Nghe rõ chưa?"
"Rõ, anh Hải." Mấy người thợ đồng thanh đáp, nhưng giọng ai nấy đều run rẩy.
Tôi bật chiếc đèn pin đội đầu chuyên dụng công suất lớn. Luồng sáng trắng cắt thẳng vào bóng tối, rọi rõ những bậc cầu thang đầu tiên. Bề mặt đá mài Granito màu xanh xám đã nứt toác, rêu nhớt mọc kín ở những góc khuất chân tường nơi nước rỉ từ các đường ống thoát nước thải sinh hoạt bị vỡ. Tôi hít một hơi sâu, đưa bàn tay đeo găng bám chặt vào khung sắt tay vịn rồi cất bước.
Đế giày bảo hộ lót thép dẫm lên bậc đá mài, phát ra tiếng lạo xạo khô khốc của cát bụi và mảnh vụn vữa xi măng. Cả đội nối đuôi nhau tiến vào họng cầu thang theo đội hình hàng dọc. Tôi đi đầu dẫn đường, theo sau là hai thợ mang thùng đồ nghề quan trắc, Văn và hai người nữa chịu trách nhiệm kéo cuộn cáp cao su bọc dù nặng trịch, người cuối cùng cầm cây đèn pha halogen phụ trách bọc hậu.
Càng đi sâu vào thân công trình, tiếng máy nổ ngoài sân càng nhỏ dần, nhường chỗ cho sự im ắng ngột ngạt. Bức tường bao quanh lồng cầu thang dày gần bốn mươi phân ngăn cách hoàn toàn âm thanh của phố xá bên ngoài. Không gian thiếu dưỡng khí trầm trọng, mỗi nhịp thở đều nặng nhọc như có một lớp bông gòn tẩm nước chặn ngang thanh quản.
Tôi căng tai lắng nghe từng tiếng động nhỏ. Giữa hành lang hun hút thiếu khí quyển, tiếng bước chân của bảy người đàn ông va vào mặt bậc đá mài dội ngược lại từ các bức tường tạo nên một chuỗi âm thanh nham nhở, rền rĩ. Mỗi lần bước chân nện xuống chiếu nghỉ ở góc cua tầng hai rồi tầng ba, tôi đều cảm nhận rất rõ những rung chấn bất thường truyền thẳng qua lớp đế cao su dày hai phân của đôi giày bảo hộ. Khối bê tông dưới chân không hề vững chãi. Nó khẽ rùng mình, một chuyển vị siêu nhỏ nằm ngoài tầm quan sát của mắt thường nhưng lại tác động trực tiếp vào cảm giác thăng bằng của những người thợ chuyên nghề tháo dỡ.
Đến chiếu nghỉ tầng bốn, ánh đèn pin của tôi quét qua một đống phế liệu nằm chắn ngang lối đi. Đó là những khung giường sắt gãy gập, những tấm nệm mút rách nát trương phềnh nước mưa và hàng chục bọc rác đen bị bỏ lại. Nước rỉ từ đống rác đọng thành vũng đen ngòm trên sàn bê tông, bốc lên mùi chua lòm xộc thẳng vào cánh mũi.
"Cẩn thận mấy cây đinh mười phân cắm trên giát giường mục," tôi quay đầu ra hiệu cho người phía sau. "Bình, dùng xà beng gạt đống nệm sang sát mép giếng trời. Lấy lối cho Văn kéo cáp qua."
Người thợ tên Bình lập tức bước lên, tra mũi xà beng vào đống sắt vụn. Tiếng kim loại cọ vào nhau rít lên ken két, chói buốt màng nhĩ.
Văn vừa nghiến răng ghì cuộn dây cáp qua khe hẹp vừa thở hổn hển:
"Tụi dân đi vội quá hay sao mà quăng đồ bừa bãi thế này. Nhìn như cái bãi rác lộ thiên."
"Họ chạy khỏi đây từ chiều tối," tôi đáp, mắt vẫn dán vào những vết nứt hình mạng nhện chạy dọc theo dầm trần. "Chính quyền cho xe ép tải đến tận cửa hốt người đi. Đồ đạc không kịp mang theo thì vứt lại hết. Không ai muốn nán lại thêm một phút nào trong cái tổ ong sắp sập này."
Chúng tôi tiếp tục leo lên tầng năm, rồi tầng sáu. Bắt đầu từ tầng này, dấu vết sinh hoạt của con người thưa thớt dần, thay vào đó là sự tàn phá khủng khiếp của thời gian và độ ẩm. Trên các vách tường, lớp sơn vôi màu vàng nhạt thời Pháp thuộc đã bong rộp thành từng mảng lớn, rơi lả tả xuống sàn như xác ve sầu. Những đường ống nước bằng gang chôn ngầm trong tường bị vỡ bung bét, để lại những rãnh khoét nham nhở màu nâu đỏ của oxit sắt.
Nước từ tầng trên rỉ xuống từng giọt đều đặn, rơi trúng chiếc nón bảo hộ của tôi vang lên tiếng *tõm... tõm...* lạnh ngắt.
"Dừng lại nghỉ năm phút," tôi giơ tay ra hiệu khi chạm tới chiếu nghỉ tầng bảy.
Cả đội thợ thở dốc, ngồi thụp xuống những bậc thang sứt mẻ. Văn đặt cuộn cáp xuống sàn, hai bắp tay cậu ta run lên vì mỏi rã rời. Người thợ bọc hậu đặt cây đèn pha xuống mặt chiếu nghỉ, hướng chụp đèn vào khoảng giếng trời nằm ngay bên cạnh lồng cầu thang bộ.
Khoảng giếng trời này chạy xuyên suốt từ nóc tòa nhà xuống tận sàn tầng trệt, tạo thành một ống hút gió thẳng đứng đen ngòm. Gió từ các ô cửa thông gió ngoài hành lang lùa vào giếng trời, tạo nên những tiếng rít u u ghê rợn, tựa như có ai đó đang huýt sáo giữa một hầm mỏ bỏ hoang.
Tôi bước lại gần mép lan can bê tông của giếng trời, rọi đèn pin thẳng xuống đáy. Ánh sáng của bóng đèn LED xuyên qua làn sương bụi mờ ảo, nhưng chỉ chiếu tới khoảng tầng hai thì bị màn đêm dày đặc nuốt chửng. Đáy giếng trời sâu hun hút, tối om như một cái miệng giếng cạn khổng lồ.
Chính tại vị trí này, theo lời kể của ông nội tôi và lời xác nhận của ông Quý già sửa đồng hồ, người phụ nữ mặc áo lụa trắng đã rơi xuống vào đêm tháng Tư năm 1972.
"Anh Hải," tiếng Văn gọi giật giọng từ phía sau kéo tôi về thực tại. "Anh nhìn cái dầm chịu lực này xem."
Tôi quay người lại, bước đến góc tường nơi Văn đang chĩa ngọn đèn pin cầm tay vào chân một cột bê tông cốt thép. Lớp vỏ bọc bê tông bên ngoài đã nổ tung do hiện tượng rỉ nở của thép bên trong. Từng thanh thép phi hai mươi lăm cong vênh, rỉ sét ăn mòn trơ ra từng thớ kim loại sùi bọt như xỉ than. Đáng chú ý hơn, ngay trên mặt bê tông còn sót lại của cột trụ, có những ký hiệu kỳ lạ được vạch bằng sơn chống rỉ màu đỏ thẫm. Đó là những đường nét hình học sắc cạnh đan chéo vào nhau, kết thúc bằng một dấu triện hình bát giác méo mó.
Vết sơn đỏ đã cũ kỹ, bạc màu nhưng vẫn còn bám rất chắc vào mặt đá thô ráp.
"Cái này là của thợ hồ đánh dấu tim trục hồi xưa hả anh?" Văn tò mò hỏi, ngón tay to bè định chạm vào vệt sơn.
"Đừng đụng vào," tôi gạt tay Văn ra, giọng nghiêm nghị. "Tiếp tục leo. Lên tầng mười ba rồi kiểm tra toàn bộ một thể."
Chúng tôi lại tiếp tục bước đi trong sự nặng nề tăng dần theo từng bậc thang. Lên đến tầng chín, không khí bắt đầu chuyển sang một thứ mùi khác lạ. Mùi bùn cống rãnh và rác thải đã biến mất, nhường chỗ cho một mùi tanh nồng hắc xộc thẳng vào khoang mũi, tựa như mùi mỡ bò công nghiệp biến chất trộn lẫn với mùi da thuộc mốc meo lâu năm.
Các cánh cửa ra vào của những căn hộ dọc hành lang tầng chín và tầng mười đều bị khóa chặt bằng những then cài rỉ sét. Trên nhiều cánh cửa gỗ mục nát, người ta dán đầy những lá bùa màu vàng bằng giấy bản đã rách bươm, nét mực chu sa đỏ au phai nhạt dưới lớp bụi dày hàng tấc. Gió lùa qua khe cửa khiến những mép giấy bùa đập vào mặt gỗ lạch phạch, tạo nên những thanh âm rời rạc, bất an.
Chân tôi bắt đầu có cảm giác nặng trịch. Mỗi bậc thang đưa chúng tôi lên cao dường như dài hơn, dốc hơn bình thường. Cả đội thợ không ai nói với ai câu nào, chỉ có tiếng thở phì phò qua lớp khẩu trang than hoạt tính và tiếng xích sắt của cuộn cáp kéo lê sột soạt trên nền xi măng.
Tầng mười một rồi tầng mười hai trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt đến cực điểm. Ở tầng mười hai, toàn bộ hệ thống lan can cầu thang bằng sắt đã bị cưa đứt từ bao giờ, chỉ còn trơ lại những mấu sắt nhọn hoắt gỉ sét chĩa thẳng lên trời như những mũi chông. Một bước hụt chân ở đây sẽ khiến người ta rơi thẳng xuống đáy giếng trời mà không có bất kỳ thứ gì cản lại.
"Đi sát vào vách tường phía trong," tôi cảnh báo đội thợ, một tay bám chặt vào những gờ tường lồi lõm để giữ thăng bằng. "Tuyệt đối không nhìn xuống giếng trời."
Và rồi, luồng sáng từ chiếc đèn đội đầu của tôi quét lên một bức tường chắn lớn bằng bê tông thô.
Chiếu nghỉ tầng mười ba.
Ngưỡng cửa dẫn vào tầng cao nhất của tòa nhà Building President năm xưa hiện ra lờ mờ qua làn bụi xi măng lơ lửng. Khác với mười hai tầng bên dưới, hành lang tầng mười ba không hề có lan can đón gió. Toàn bộ mặt ngoài hướng ra đường Trần Hưng Đạo đã bị bít kín bằng những tấm đan bê tông đúc sẵn dày cộm, biến dãy hành lang dài dằng dặc thành một đường hầm khép kín, tối tăm và cô lập hoàn toàn với thế giới sống động bên ngoài.
Tôi bước lên bậc thang cuối cùng, đặt chân lên mặt sàn hành lang tầng mười ba.
Một luồng khí lạnh buốt bất ngờ từ trong hốc tối cuối hành lang thổi thốc ra, tạt thẳng vào mặt tôi. Luồng khí đó không mang theo hơi ẩm của mưa đêm Sài Gòn, mà khô khốc, tanh tưởi và mang theo thứ áp lực đè nặng lên màng nhĩ khiến tai tôi ù đi trong chốc lát.
"Tới nơi rồi... lạy trời," Văn thở hắt ra, thả phịch cuộn dây cáp xuống sàn gạch bông cũ kỹ. "Nặng muốn đứt hơi. Bình, cắm phích nguồn đèn pha vào tủ tạm đi, bật sáng lên xem trên này có cái quái gì."
Người thợ tên Bình lập tức quỳ xuống sàn, mở nắp hộp đấu nối bằng nhựa chống nước mang theo bên mình. Những người thợ khác cũng buông lỏng vai, đặt các chân máy trắc địa xuống đất, tháo nón bảo hộ ra quạt lấy quạt để.
Tôi đứng yên tại chỗ, không tháo nón, tay vẫn nắm chặt chiếc búa Schmidt giắt bên hông. Ánh mắt tôi đảo quanh dãy hành lang kéo dài hun hút về hướng Tây. Mặt sàn ở đây lồi lõm một cách kỳ dị, những viên gạch hoa văn chữ vạn màu xanh lục đã bị nứt vỡ từng mảng lớn, nhô lên như thể có những chiếc rễ cây khổng lồ đang cựa quậy ngay bên dưới lớp vữa lót.
Ở đằng xa, hai cánh cửa sắt trượt của họng thang máy Otis bỏ hoang vẫn đứng sừng sững trong bóng tối, với những vệt chất lỏng sẫm màu rỉ ra từ kẽ hàn mà tôi đã nhìn thấy lúc chập tối.
"Anh Hải, cắm điện nhé?" Bình ngẩng đầu lên hỏi.
"Khoan đã," tôi giơ tay lên, trực giác nghề nghiệp mách bảo một sự biến đổi bất thường trong không gian.
Nhưng Bình đã nhanh tay ấn chốt đóng mạch cầu dao trên hộp điện di động.
*Tách.*
Chiếc đèn pha halogen công suất một nghìn oát lóe sáng lên một cái, rọi rõ toàn bộ cấu trúc mái vòm cong queo của tầng mười ba. Nhưng chỉ một giây sau, bóng đèn phụt tắt, tim đèn đỏ ửng lên rồi lịm dần.
Cùng lúc đó, toàn bộ bóng đèn pin công nghiệp gắn trên nón bảo hộ của sáu người thợ và chiếc đèn pin trên trán tôi đồng loạt nhấp nháy liên hồi.
*Chớp... chớp... chớp...*
Ánh sáng trắng biến thành những vệt sáng giật cục, chập chờn, bóng của bảy người đàn ông in lên bức tường vôi rữa co giật điên cuồng như những bóng ma đang nhảy múa.
"Cái gì thế này? Pin mới sạc đầy mà!" Một người thợ hoảng hốt đập tay vào thân đèn pin của mình.
"Máy phát điện dưới sân bị sụt áp hả Văn?" Bình run rẩy hỏi, tay lúng túng vặn lại núm công tắc trên hộp điện.
"Không... dây cáp vẫn căng, máy nổ vẫn chạy..." Giọng Văn nghẹn lại trong cổ họng.
Không gian bỗng nhiên chìm vào một sự im lặng tuyệt đối. Tiếng rít của gió qua giếng trời đột ngột tắt lịm. Tiếng búa máy, tiếng gõ pít-tông của máy phát điện ngoài sân trần dường như đã bị một bức tường vô hình nào đó chặn đứng bên dưới tầng trệt. Không còn một chút âm thanh nào của thế giới văn minh lọt được lên đến độ cao này.
Chỉ có tiếng thở dồn dập, sợ hãi của bảy người đàn ông vang lên giữa bóng tối đang chập chờn lụi tàn.
Và rồi, từ sâu bên dưới lồng giếng trời - họng thông gió thẳng đứng nối thông suốt từ tầng mười ba xuyên qua mười hai tầng lầu xuống tận đáy tầng hầm bị niêm phong từ năm 1975 - một âm thanh vang lên.
*Cốc.*
Tiếng gõ sắc lạnh, đanh gọn, như tiếng một thanh sắt đặc nện thẳng vào khối bê tông mác cao. Âm thanh vọng dọc theo thành giếng trời, dội vào lồng ngực tôi từng đợt chấn động rùng mình.
Cả đội thợ cứng đờ người tại chỗ. Không một ai dám nhúc nhích.
*Cốc.*
Tiếng gõ thứ hai vang lên sau đó đúng ba giây. Lần này nó lớn hơn, rõ hơn, mang theo một lực tác động cơ học khủng khiếp làm rung chuyển cả mép sàn bê tông nơi chúng tôi đang đứng. Bụi xi măng từ trần nhà lả tả rơi xuống vai áo tôi.
Văn trợn trừng mắt nhìn tôi, môi cậu ta mấp máy nhưng không phát ra được thành lời. Gương mặt người thợ trẻ cắt không còn một giọt máu dưới ánh đèn pin đang hấp hối.
*Cốc.*
Ba tiếng gõ khô khốc khép lại, để lại một khoảng lặng rợn người. Đó chính xác là ba tiếng búa sắt gõ vào cọc móng mà ông Quý già sửa đồng hồ đã mô tả trước khi rời đi. Một tiếng gọi phát ra từ đáy mồ sâu của tòa nhà, nơi bị phong tỏa dưới hàng chục mét bê tông và bùn lầy của vùng Chợ Lớn.
"Ma... ma dưới hầm!"
Người thợ cầm xà beng hét lên một tiếng thất thanh xé toang bầu không khí ngột ngạt. Anh ta vứt mạnh thanh sắt xuống sàn gạch bông gây ra một tiếng *keng* chói tai, rồi quay đầu lao thục mạng về phía cầu thang bộ.
"Chạy đi! Sập nhà rồi!"
Sự hoảng loạn bùng phát như một mồi lửa bén vào đống rơm khô. Bốn người thợ khác hoàn toàn mất kiểm soát, họ quăng lại toàn bộ thùng đồ nghề, chân máy trắc địa và cuộn dây cáp nặng hàng chục ký, xô đẩy nhau chen chúc lao xuống họng cầu thang tối đen. Tiếng bước chân dồn dập nện ầm ầm lên những bậc đá mài, tiếng thở dốc hoảng loạn và tiếng la hét vang vọng xa dần xuống các tầng dưới.
"Bình! Dũng! Đứng lại!" Tôi hét lớn, cố gắng vãn hồi trật tự nhưng vô ích.
Trong cơn kinh hoàng tột độ của bản năng sinh tồn, không một mệnh lệnh nào có thể ngăn cản bước chân của những người thợ.
Văn là người duy nhất còn đứng lại bên cạnh tôi, nhưng hai đầu gối cậu ta va vào nhau run lẩy bẩy. Cậu ta bám chặt lấy cánh tay tôi, bàn tay run rẩy giật mạnh:
"Anh Hải! Xuống đi anh! Dưới đó... dưới đó có thứ gì đang sống! Tòa nhà này bị nguyền rủa rồi, anh không nghe tiếng gõ đáy móng sao? Đi thôi anh!"
Tôi gạt mạnh tay Văn ra, giọng lạnh tanh nhưng dứt khoát:
"Cậu chạy theo tụi nó đi. Cầm lấy chiếc đèn pin này soi đường. Xuống dưới sân trông chừng máy nổ và canh chừng hàng rào tôn, đừng để ai xông vào."
"Còn anh? Anh ở lại trên này một mình làm sao được?" Văn hoảng hốt nhìn tôi như nhìn một kẻ điên.
"Tôi có việc phải kiểm tra trên tầng này. Đi ngay!" Tôi quát lên, đẩy mạnh người cậu ta về phía cửa cầu thang.
Văn nhìn tôi trân trân trong vài giây, ánh mắt tràn ngập sự kinh hãi xen lẫn bất lực. Cuối cùng, nỗi sợ bóng tối đặc quánh của tầng mười ba đã chiến thắng. Cậu ta chộp lấy chiếc đèn pin tôi đưa, quay đầu cắm cổ chạy thục mạng xuống cầu thang bộ, tiếng giày lẹp bẹp đuổi theo đoàn người phía trước rồi nhỏ dần, nhỏ dần, cho đến khi hoàn toàn biến mất sau những tầng lầu mục nát bên dưới.
Bây giờ, chỉ còn lại một mình tôi.
Bóng tối trên tầng mười ba lập tức ập xuống, đặc quánh và lạnh lẽo như nước đá ngâm rỉ sắt. Chiếc đèn pin trên nón bảo hộ của tôi chớp thêm hai lần yếu ớt rồi tắt ngấm, để lại không gian chìm trong một màu đen tuyền gần như tuyệt đối.
Tôi đứng bất động giữa hành lang, hít sâu một luồng dưỡng khí hiếm hoi nồng nặc mùi da thuộc mốc và mỡ bò công nghiệp. Dưới chân tôi, qua lớp đế giày bảo hộ, khối bê tông của tòa nhà vẫn đang truyền đi những nhịp rung âm ỉ, tựa như một trái tim khổng lồ chôn dưới lòng đất đang chậm rãi bơm thứ máu đen độc hại qua từng thớ cốt thép rỉ sét.
Tôi với tay tháo chiếc đèn pin hỏng trên nón bảo hộ vứt xuống sàn, rồi luồn tay vào túi áo khoác rút ra chiếc bật lửa Zippo bằng đồng hun của ông nội để lại.
*Tách.*
Ngọn lửa vàng nhỏ bùng lên, soi sáng một khoảng không gian chật hẹp trước mặt tôi.
Bóng tối bị đẩy lùi vài bước chân, để lộ ra dãy hành lang hun hút dẫn sâu về hướng Tây. Ở cuối dãy hành lang tối tăm ấy, cánh cửa gỗ của căn hộ không số nằm im lìm sau lớp bụi thời gian, chờ đợi người bước tới.