Chung Cư 727 - Chương 3: Những Cư Dân Cuối Cùng

Chiếc xe tải thùng năm tấn của đội di dời khẩn cấp đỗ xịch dưới lòng đường Trần Hưng Đạo, chắn ngang một phần vỉa hè đầy rác thải và đá dăm vỡ. Khói dầu…

Nội dung chương

Chiếc xe tải thùng năm tấn của đội di dời khẩn cấp đỗ xịch dưới lòng đường Trần Hưng Đạo, chắn ngang một phần vỉa hè đầy rác thải và đá dăm vỡ. Khói dầu diesel từ ống xả đen sì phả thẳng vào những mảng tường loang lổ tầng trệt, hòa lẫn với mùi ẩm mốc bốc lên từ lòng cống nghẹt lâu năm.

Tôi đi từ chiếu nghỉ cầu thang tầng ba bước xuống sảnh chính. Dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn sợi đốt treo tạm bợ bằng dây kẽm gỉ, khung cảnh hỗn loạn của một cuộc tháo chạy cưỡng chế hiện ra rõ mồn một. Những bao tải dứa căng phồng quần áo cũ, xoong nồi nhôm móp méo, nệm mút rách tơi xốp ruột và bàn ghế nhựa chất đống thành từng ụ cao quá đầu người. Tiếng bánh xe kéo rít ken két trên nền gạch tàu nứt nẻ, tiếng trẻ con khóc thét xen lẫn tiếng quát tháo khan đặc của những cán bộ phường đang cầm loa tay nhắc nhở tiến độ.

Mười một giờ đêm là hạn chót. Điện lực Chợ Lớn sẽ dập cầu dao tổng đặt ở trạm biến áp góc đường Nguyễn Tri Phương, chính thức cắt nguồn điện sinh hoạt của toàn bộ khối nhà 727. Nước máy đã bị khóa van từ hai ngày trước. Tòa chung cư cấp D này đang thở những hơi tàn cuối cùng trước khi bị cô lập hoàn toàn thành một khối bê tông chết.

"Còn mấy hộ tầng hai chưa chịu khuân đồ ra, anh Hải ơi!"

Văn, đội phó tổ thi công phá dỡ của tôi, từ ngoài sảnh chạy vào. Chiếc áo bảo hộ màu cam của cậu ta ướt đẫm mồ hôi, dính đầy bụi vôi trắng xóa. Văn đưa tay quệt ngang trán, để lại một vệt bùn xám ngoét trên gò má hóp.

"Họ còn vướng mắc gì? Tiền hỗ trợ tạm cư đã giải ngân vào tài khoản chiều nay rồi mà?" Tôi hỏi, mắt nhìn lướt qua cuốn sổ tay kỹ thuật kẹp dưới nách.

"Không phải chuyện tiền." Văn lắc đầu quầy quậy, giọng hạ thấp xuống giữa mớ âm thanh hỗn tạp. "Có ông già sửa đồng hồ ở phòng 204. Tổ công tác của phường lên gõ cửa ba lần, ông ấy không thèm mở. Ông ấy bảo ai muốn dỡ nhà thì cứ dỡ, ông ấy chết già ở cái góc tường đó. Mấy anh dân phòng định phá khóa xốc nách khiêng đi, nhưng thấy ông ấy ôm khư khư cái hộp đồ nghề bằng gỗ mun, ngồi lọt thỏm trên giường, mắt trợn trừng nên ai cũng chờn."

Tôi vỗ vai Văn, ra hiệu cho cậu ta ở lại sảnh dưới để giám sát đám thợ bốc xếp: "Để tôi lên xem sao. Cậu cho người gom hết bình gas mini với mấy can dầu hỏa của các hộ dân đem tập kết ra bãi đất trống ngoài kia đi. Tuyệt đối không để sót chất dễ cháy trong các góc hành lang."

Tôi quay ngược gót giày, men theo lối cầu thang bộ dẫn lên tầng hai.

Không khí ở tầng này đặc quánh mùi dầu hỏa, mùi nước thải rỉ ra từ các hộp kỹ thuật vỡ toang và mùi lưu huỳnh từ những que diêm cháy dở. Người dân trước khi dọn đi đã đốt vàng mã ngay trước cửa phòng để tạ từ thổ công, để lại những vệt khói đen ám chặt vào trần nhà thấp tè. Những sợi dây điện trần chằng chịt như mạng nhện rủ lòng thòng xuống sát đỉnh đầu, vỏ bọc cao su đã mủn ra từng mảng lớn, trơ cả lõi đồng oxy hóa xanh lè.

Tôi dừng lại trước căn phòng 204 nằm ở khúc quanh tối nhất của dãy hành lang hướng Tây. Cánh cửa gỗ lim dày dặn, bên ngoài gắn một tấm biển nhôm dập nổi đã phai màu: *Sửa chữa đồng hồ cơ khí - Quý*.

Cánh cửa khép hờ, để lộ một khe sáng màu vàng cam ấm áp hắt ra nền hành lang ẩm ướt. Bên trong không có tiếng đóng gói đồ đạc ồn ào như những căn hộ khác, chỉ có tiếng tích tắc khô khốc, đều đặn của hàng chục cỗ máy thời gian đang gõ nhịp cùng lúc.

Tôi đưa tay gõ ba tiếng lên mặt gỗ: "Bác Quý có trong nhà không? Cháu là Hải, phụ trách kỹ thuật tháo dỡ công trình."

Không có tiếng trả lời, nhưng nhịp tích tắc bên trong dường như khựng lại một nhịp rồi tiếp tục chuyển động. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước vào.

Căn phòng rộng chưa đầy hai mươi mét vuông, trần nhà cao nhưng bị che khuất bởi vô số những thanh giằng gỗ tự chế dùng để treo đồng hồ quả lắc. Bốn bức tường chung quanh treo kín những chiếc đồng hồ gỗ hình chữ nhật, đồng hồ quả quýt, đồng hồ tạ lê của Pháp, của Thụy Sĩ, vỏ gỗ bóng lộn nhưng mặt kính nhiều chiếc đã ố vàng theo năm tháng.

Ngồi giữa gian phòng là một ông lão gầy gò, mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu cháo lòng cài kín cổ. Ông đeo một chiếc kính lúp chuyên dụng gắn vào mắt phải, tay cầm chiếc nhíp kẹp bằng thép gắp từng bánh răng li ti đặt vào lòng một chiếc đồng hồ bỏ túi đã tháo tung nắp lưng. Ngọn đèn dầu hỏa đặt cạnh bàn làm việc tỏa ra thứ ánh sáng đỏ đục, soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh xẻ trên khuôn mặt khắc khổ của ông.

"Cắt điện rồi à?" Ông lão cất tiếng hỏi, giọng khàn đặc nhưng không hề ngẩng đầu lên khỏi chiếc kính phóng đại. Đôi bàn tay xương xẩu với những ngón tay dài, gầy guộc vẫn vững vàng điều khiển chiếc nhíp kim loại.

"Dạ chưa, còn gần một tiếng nữa thưa bác." Tôi kéo một chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp lại gần bàn làm việc, nhẹ nhàng ngồi xuống. "Nhưng toàn bộ hệ thống thoát hiểm và lan can hành lang bên ngoài đã xuống cấp nghiêm trọng. Nếu qua mười hai giờ đêm nay, đội thi công sẽ dựng rào tôn bít kín lối ra vào tầng trệt để đưa máy móc vào. Bác ở lại đây sẽ rất nguy hiểm."

Ông Quý dừng tay nhíp. Chiếc bánh răng bằng đồng thau nhỏ bằng hạt tấm rơi khẽ vào chiếc đĩa sứ trắng đặt trên mặt bàn. Ông tháo chiếc kính lúp khỏi mắt, để lộ một hốc mắt sâu hoắm mệt mỏi. Ánh mắt ông dời từ chiếc đĩa sứ sang khuôn mặt tôi.

Đột nhiên, đồng tử của ông co lại. Ánh nhìn của ông dừng lại rất lâu nơi sống mũi cao gồ ghề và đôi mắt màu nâu nhạt - nét lai rõ rệt giữa dòng máu Mỹ của cha tôi và nét mặt Á Đông của mẹ.

"Cậu không phải người ở khu này." Ông Quý nói chậm rãi, giọng run nhẹ. "Mắt cậu... nhìn giống một người tôi từng thấy trước đây rất lâu."

Ngực tôi khẽ thắt lại. Tôi đặt chiếc mũ bảo hộ lao động màu trắng lên đầu gối, nhìn thẳng vào mắt ông lão: "Bác sống ở đây từ trước năm bảy lăm đúng không ạ?"

"Trước cả lúc đó." Ông lão với tay lấy bao thuốc lá dẹt bằng kim loại, rút ra một điếu thuốc rê đã ngả màu vàng, châm lửa vào ngọn đèn dầu. Khói thuốc khét lẹt cuộn tròn trong không gian chật hẹp. "Năm sáu mươi bảy, tôi đã thuê cái góc này để mở tiệm sửa đồng hồ. Khi đó tòa nhà này sang trọng lắm. Sàn hành lang lát đá mài bóng lộn, lính quân cảnh bồng súng đứng gác dưới cổng sắt ngày đêm. Người ta gọi nó là Building President. Không có tiền đô la, đừng hòng bước chân qua bậc tam cấp."

"Bác có nhớ những sĩ quan Mỹ từng lưu trú ở đây không?" Tôi gặng hỏi, cố giữ giọng mình bình thản. "Đặc biệt là những người đóng quân vào khoảng đầu năm 1972, thuộc lực lượng hỗ trợ kỹ thuật và công binh?"

Bàn tay cầm điếu thuốc của ông Quý khẽ run rẩy. Tàn thuốc xám rơi lả tả xuống mặt kính của chiếc đồng hồ đang sửa dở. Ông nheo mắt nhìn tôi qua làn khói mỏng:

"Cậu hỏi chuyện đó để làm gì? Tòa nhà này sắp bị đập thành cát vụn rồi. Chuyện của những người chết năm đó, việc gì cậu phải đào xới lên?"

"Ông nội tôi tên là Richard Miller." Tôi nói rành rọt từng chữ. "Ông ấy từng ở tầng mười ba của tòa nhà này vào tháng Tư năm 1972. Trước khi mất, ông ấy bảo tôi phải quay lại đây để tìm hiểu xem người ta đã làm gì với kết cấu móng của khu nhà."

Nghe đến cái tên tầng mười ba, nét mặt của ông Quý biến đổi hoàn toàn. Sắc mặt ông từ vàng vọt chuyển sang trắng bệch. Điếu thuốc trên tay ông rơi thẳng xuống mặt bàn gỗ, nhưng ông không buồn nhặt lên. Đôi mắt già nua trợn trừng, nhìn trân trân vào khoảng không tối tăm phía ngoài ô cửa thông gió.

"Miller... Tôi không nhớ hết tên của bọn họ. Quá nhiều sĩ quan ra vào." Giọng ông Quý rít qua kẽ răng, khô khốc như tiếng kim loại cọ xát. "Nhưng cái tháng Tư năm đó thì tôi không thể nào quên được. Đó là lúc bọn họ bắt đầu cuống cuồng thu dọn tài liệu. Đêm nào xe nhà binh cũng đậu kín sân sau, chở đi những thùng gỗ đóng đinh kín mít. Rồi một đêm nọ, công binh Mỹ đưa vào một đội thợ người Hoa, mang theo những máy trộn bê tông loại nhỏ và hàng chục bao xi măng đặc dụng."

"Họ gia cố tầng mười ba?" Tôi hỏi dồn.

"Không, họ bít nó lại." Ông Quý cúi gập người xuống bàn, hai bả vai nhô cao dưới lớp áo mỏng. "Họ hàn chết cửa thang máy tầng trên cùng. Họ đổ bê tông đặc vào các hốc thông gió. Người ta đồn rằng có một cô gái Việt Nam làm nhân viên tổng đài cho quân đội Mỹ đã nhảy lầu tự vẫn từ ban công tầng mười ba trong chính cái đêm đội thi công đổ mẻ bê tông cuối cùng."

Tôi nhớ lại bức ảnh ố vàng và vết nứt chữ thập kỳ dị trên bản vẽ thiết kế lưu trữ mà tôi vừa xem cách đây một giờ. Mọi chi tiết đang bắt đầu khớp nối lại với nhau một cách tàn nhẫn.

"Sau ngày ba mươi tháng Tư năm bảy lăm," ông Quý tiếp tục, giọng càng lúc càng thấp, chỉ còn như tiếng thì thào của một người đang hấp hối, "tòa nhà được tiếp quản, chia nhỏ cho hàng trăm gia đình công nhân, cán bộ vào ở. Người ta lấp đầy từ tầng một lên đến tầng mười hai. Nhưng riêng tầng mười ba... chưa bao giờ có một hộ dân nào dám dọn vào ở trọn vẹn được ba ngày."

"Vì sao?" Tôi hỏi. "Do phong thủy, hay kết cấu không an toàn?"

Ông Quý không trả lời ngay. Đột ngột, cánh tay xương xẩu của ông phóng ra khỏi mặt bàn, bàn tay lạnh ngắt như đồng thau nắm chặt lấy cổ tay phải của tôi. Lực siết mạnh đến mức những vết sẹo do mảnh kim loại cứa trong những năm làm nghề phá dỡ của tôi nhói buốt lên.

Đôi mắt ông đỏ ngầu, những mạch máu nhỏ li ti vằn vện quanh con ngươi. Ông rướn người sát vào mặt tôi, phả ra mùi thuốc rê nồng nặc:

"Suốt bốn mươi năm qua, tầng mười ba chưa từng có người sống! Cậu hiểu không? Cửa khóa, tường bịt, nhưng đêm nào cũng vậy, cái họng ống thông gió nối từ nóc nhà xuống các phòng này đều hút ngược gió lên!"

Cổ tay tôi bị ông siết chặt đến tê dại. Tôi không gạt tay ông ra, chỉ căng mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt đang co giật vì sợ hãi của ông lão thợ sửa đồng hồ.

"Hút ngược gió?"

"Nó không hút không khí thông thường." Giọng ông Quý run rẩy dữ dội, nước bọt bắn ra cả khóe môi. "Cứ qua nửa đêm, khi cả cái chung cư này chìm vào im lặng, từ trong cái ống thông gió bằng ami-ăng sau lưng tủ này... sẽ có tiếng nước rỉ. Tách... tách... tanh tưởi mùi máu thối. Rồi tiếng đàn bà khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào, rấm rứt như bị ai đó nhét giẻ vào họng, dội từ trên tầng mười ba dội xuống!"

Căn phòng chìm vào một sự tĩnh lặng ghê rợn, chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc của hàng chục chiếc đồng hồ cơ khí chung quanh. Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập dồn dập sau lồng ngực.

"Chưa hết đâu..." Ông Quý thở dốc, ngón tay ông bấm sâu vào lớp da thịt trên cổ tay tôi, run rẩy truyền sang từng thớ cơ. "Tiếng khóc đó vừa dứt, thì dưới chân cậu... sâu dưới lòng đất, nơi cái tầng hầm bị chính quyền hàn kín cửa sắt từ năm bảy lăm... sẽ có tiếng gõ vọng lên. *Cộc... cộc... cộc.* Tiếng búa sắt nện vào cọc thép móng. Một tiếng từ trên trời rơi xuống, một tiếng từ dưới âm phủ vọng lên. Bốn mươi năm nay, hai thứ đó chưa bao giờ ngừng gọi nhau!"

Bàn tay tôi lạnh toát. Tiếng gõ sắt dưới đáy móng. Đúng là âm thanh mà tôi đã nghe thấy khi áp bàn tay trần vào cột bê tông ở chiếu nghỉ tầng năm lúc chập tối. Không phải do kết cấu chuyển vị, không phải do rung chấn của xe cộ trên đường Trần Hưng Đạo. Có một thứ gì đó đang thực sự tồn tại bên dưới khối bê tông ngột ngạt này.

"Bác Quý, nghe cháu này." Tôi đặt bàn tay còn lại lên mu bàn tay gầy trơ xương của ông, nhẹ nhàng gỡ từng ngón tay ông ra khỏi cổ tay mình. "Dù trên đó có cái gì đi nữa, đêm nay tòa nhà này cũng sẽ bị phong tỏa hoàn toàn. Xe của phường đang đợi ở dưới. Bác phải đi ngay bây giờ. Giữ lại mạng sống của mình trước đã."

Ông lão nhìn xuống bàn tay run rẩy của mình, rồi nhìn quanh gian phòng nhỏ chứa đầy những chiếc đồng hồ đang chạy loạn xạ những múi giờ không đồng nhất. Nét sợ hãi trên mặt ông dần chùng xuống, thay thế bằng một vẻ cam chịu u uất của kẻ biết rằng một thời kỳ đã vĩnh viễn khép lại.

"Đi... đi thôi." Ông lẩm bẩm, buông thõng hai tay xuống đùi. "Đằng nào thì cái nắp đậy cũng sắp bung ra rồi. Các người phá dỡ bê tông, các người sẽ thả nó ra."

Tôi đứng dậy, bước nhanh ra cửa gọi hai người thợ bốc xếp của tổ thi công đang đứng chờ ngoài hành lang vào hỗ trợ. Họ cẩn thận khiêng chiếc rương gỗ mun đựng đồ nghề sửa đồng hồ của ông Quý, cùng vài bao tải chứa những chiếc đồng hồ cổ giá trị nhất xuống cầu thang.

Tôi dìu ông lão bước từng bước chậm rãi qua dãy hành lang tối tăm của tầng hai. Khi bước chân ông chạm xuống bậc thềm cuối cùng ở sảnh trệt, đúng mười một giờ đêm, toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng dọc đường Trần Hưng Đạo và bên trong chung cư 727 phụt tắt cái rụp.

Một tiếng tách khô khốc vang lên từ phía trạm biến áp ngoài phố. Bóng tối đen đặc như mực tràn vào nuốt chửng toàn bộ mười ba tầng lầu của khối kiến trúc khổng lồ. Tiếng xôn xao của đám đông ngoài đường cũng dần lắng xuống khi chiếc xe tải cuối cùng nổ máy chở những cư dân rời khỏi khu nhà, bỏ lại sau lưng một phế tích hoang tàn đứng sừng sững giữa Chợ Lớn.

Tôi quay trở lại khoảng sân bê tông trước sảnh chính, nơi tổ thợ nòng cốt gồm sáu người của tôi đang đứng đợi.

Dưới ánh sáng lờ mờ của chiếc máy phát điện dã chiến đặt ở góc sân, những gương mặt thợ xây dạn dày sương gió lộ rõ vẻ căng thẳng. Chiếc máy nổ chạy dầu rung lên bần bật, nhả từng luồng khói xanh lét vào không gian. Cạnh đó, bốn chiếc đèn pha halogen công nghiệp công suất một nghìn oát đã được lắp sẵn lên các chân giá ba chạc bằng thép, chĩa thẳng những mặt kính phản quang lạnh lẽo về phía cửa cầu thang bộ tối om.

"Đã di dời hết toàn bộ người dân ở các tầng dưới, anh Hải." Văn bước lại gần tôi, tay xách theo một cuộn dây cáp điện cao su bọc dù dày cộm. "Tổ dân phòng và công an phường đã rút ra chốt gác bên ngoài hàng rào tôn. Giờ chỉ còn đội mình trong khu nhà này thôi."

Tôi nhìn lên đỉnh tháp. Khối bê tông tầng mười ba chìm hoàn toàn vào màn đêm u ám của bầu trời Sài Gòn, tựa như một mỏm đá đen ngòm nhô ra giữa biển sương mù độc hại. Lời cảnh báo của ông Quý về tiếng khóc đàn bà rỉ máu từ ống thông gió và tiếng búa sắt gõ dưới đáy hầm vẫn còn văng vẳng bên tai, đè nặng lên từng nhịp thở của tôi.

Tôi cúi xuống kiểm tra chiếc búa Schmidt đo độ cứng bê tông giắt bên hông, siết chặt quai nón bảo hộ rồi quay sang nhìn sáu người thợ:

"Bật máy phát, kéo dây cáp lên. Bốn cây đèn halogen mở hết công suất. Đêm nay chúng ta mở đường lên đỉnh tháp."

Tiếng công tắc điện bật tanh tách vang lên. Bốn luồng sáng trắng chói lòa từ những bóng đèn halogen xé toang màn đêm đặc quánh, rọi thẳng vào họng cầu thang bộ dẫn sâu vào lòng khối kiến trúc suy tàn.

Chương khác

Xem thêm