Chung Cư 727 - Chương 5: Căn Hộ Không Số Góc Hành Lang

Ngọn lửa vàng cam của chiếc bật lửa Zippo bập bùng trên đầu ngón tay cái, soi rõ từng hạt bụi xi măng lơ lửng trong bầu không khí đặc quánh. Tiếng bước…

Nội dung chương

Ngọn lửa vàng cam của chiếc bật lửa Zippo bập bùng trên đầu ngón tay cái, soi rõ từng hạt bụi xi măng lơ lửng trong bầu không khí đặc quánh. Tiếng bước chân hoảng loạn của đám thợ nện xuống các bậc thang bên dưới đã tắt hẳn từ lâu. Tòa nhà mười ba tầng nuốt chửng toàn bộ tạp âm cơ giới của đường phố Chợ Lớn, trả lại một sự im lặng rợn người.

Bây giờ, tại cao độ gần bốn mươi mét so với mặt đất, sự cô độc bọc lấy tôi bằng lớp hơi ẩm lạnh ngắt ngấm rỉ sắt. Tôi cúi người, nhặt thanh xà beng bằng thép tôi dài tám tấc mà người thợ vừa vứt lại trên sàn gạch bông. Cây sắt nặng trịch, cạnh góc sắc nhọn còn dính những vệt vữa khô xám xịt.

Tôi quẹt ngón tay lau lớp muội than bám quanh bấc Zippo, rồi thò tay vào túi quần lấy ra chiếc đèn pin siêu sáng cỡ nhỏ dùng pin sạc dự phòng, bấm nút đuôi. Tia sáng trắng hình nón quét qua dãy hành lang hướng Tây, làm bật lên khung cảnh hoang phế của tầng cao nhất. Dãy hành lang dài hun hút, hai bên là những khung cửa căn hộ tối om, cửa gỗ đã bị tháo dỡ hoặc mục rỗng để lộ ra những khoảng trống sâu hoắm. Rác rưởi, mảnh chiếu rách, bao tải ni lông và những vệt nước đen sì rỉ ra từ các đường ống thoát nước vỡ nằm ngổn ngang trên nền đất.

Tôi bước chầm chậm về phía cuối hành lang. Tiếng đế giày cao su cọ xát trên mặt sàn phủ bụi tạo ra những âm thanh rào rạo khô khốc. Mỗi bước đi, tôi đều lắng nghe nhịp rung cơ học dưới chân. Khối bê tông cốt thép của tòa President Building xây từ năm 1960 này có độ dày sàn lên tới hai mươi phân, nhưng lúc này lớp kết cấu đang truyền dẫn những rung động rất nhỏ, đều đặn theo chu kỳ vài chục giây, giống như một dòng nước ngầm cuồn cuộn đang gặm nhấm phần móng sâu bên dưới lòng đất.

Ở góc cuối cùng bên tay trái, nơi hành lang cụt chạm vào vách tường biên hướng ra đại lộ, cánh cửa của căn hộ cuối cùng hiện ra sau quầng sáng đèn pin.

Khác với những ô cửa trống hoác của các phòng khác, lối vào căn hộ này vẫn còn nguyên vẹn một cánh cửa gỗ ép dày bản sơn màu xanh quân đội đã ngả sang xám chì. Bên ngoài mép cửa, một sợi xích sắt to bằng ngón tay cái quấn chặt ba vòng quanh tay nắm kim loại và chốt âm trên khung bao bê tông. Sợi xích đã rỉ sét đến mức các mắt xích dính bết vào nhau thành một khối xù xì, phủ lớp bột màu nâu đỏ. Ngay vị trí ngang tầm mắt, nơi lẽ ra phải gắn biển số phòng bằng tôn dập nổi như các căn hộ tầng dưới, chỉ còn lại một khoảng trống hình chữ nhật bạc màu và hai lỗ đinh trống hoác. Căn hộ hoàn toàn không có số hiệu.

Tôi dừng lại trước mép cửa, đưa đèn rọi sát vào tấm gỗ ép. Lớp véc-ni thời chiến tranh đã rộp lên thành những vảy mỏng giòn rụm. Dưới góc dưới cánh cửa, ai đó đã dùng sơn đỏ quét một chữ "X" rất lớn, nhưng lớp sơn đã bạc phếch theo năm tháng, chỉ còn vương lại những vệt ố màu bã trầu ăn sâu vào thớ gỗ mục.

Lời kể của ông nội trước ngày ông qua đời tại viện dưỡng lão ở California lại ùa về trong đầu tôi một cách rõ nét. Năm 1972, khi tiểu đoàn công binh hậu cần chuẩn bị rút khỏi Sài Gòn, căn phòng cuối dãy tầng mười ba này là nơi ở của một sĩ quan chỉ huy trực tiếp của ông. Đó cũng là nơi một người phụ nữ Việt làm việc trong văn phòng hành chính của tòa nhà đã treo cổ tự vẫn đúng vào đêm trực thăng Mỹ bắt đầu di tản những kiện hồ sơ mật đầu tiên. Ông tôi chưa từng nhắc đến tên người phụ nữ đó. Ông chỉ lặp đi lặp lại rằng cánh cửa này đã bị niêm phong bằng xích sắt ngay sau khi thi thể được đưa ra ngoài, và không một ai trong đơn vị được phép bén mảng trở lại tầng mười ba cho đến ngày bàn giao quyền kiểm soát công trình.

Tôi hít một hơi sâu, đưa bàn tay đeo găng bảo hộ nắm lấy sợi xích rỉ. Lớp oxit sắt bở vụn rơi lả tả xuống mu bàn chân tôi.

Tôi luồn mũi nhọn dẹp của thanh xà beng vào giữa hai mắt xích nối với chốt âm tường. Khớp kim loại cọ vào nhau phát ra tiếng rít ken két rợn gai ốc. Dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể sáu mươi tám ký dồn vào cánh tay đòn, tôi bẩy mạnh một nhát về phía trước.

*Rắc!*

Mắt xích rỉ sét chịu không nổi lực xoắn cơ học, đứt phựt làm đôi. Những đoạn sắt vụn rơi loảng xoảng xuống nền gạch. Tôi tiếp tục gài mũi xà beng vào khe hở giữa mép cánh cửa và khung bao bê tông, gồng cơ lưng giật mạnh. Bản lề sắt cổ lỗ sĩ phát ra một tiếng gầm gừ đanh thép. Gỗ mục vỡ toác thành từng mảng dăm nham nhở quanh ngàm khóa.

*Rầm!*

Cánh cửa gỗ ép nặng nề bật tung vào phía trong, đập mạnh vào vách tường bên cạnh rồi bật ngược trở lại một đoạn ngắn.

Một luồng khí lạnh ngắt kèm theo mùi long não ủng nước lập tức xộc thẳng ra ngoài, bao trùm lấy mặt tôi. Mùi hương nồng nặc đến mức làm cay xè hai hốc mắt, thốc thẳng vào xoang mũi một thứ vị ngọt lợ của xác thảo mộc ngâm lâu ngày trong hầm ẩm kín gió. Lớp bụi hữu cơ tích tụ gần nửa thế kỷ bị xáo trộn, bốc lên thành một làn sương mờ đục cuộn tròn dưới luồng sáng đèn pin.

Tôi khựng lại, đưa mu bàn tay áo bảo hộ bịt chặt mũi, ho sặc sụa hai tiếng. Luồng không khí bên trong căn phòng ngột ngạt và thiếu dưỡng khí trầm trọng, tạo cảm giác nặng nề như thể đang hít phải thứ bùn đất phơi khô nghiền nhỏ. Phải mất gần nửa phút đứng im tại chỗ để chờ luồng dưỡng khí từ hành lang lưu thông vào bên trong, lồng ngực tôi mới bớt cảm giác thắt nghẽn.

Tôi rọi đèn bước qua bậu cửa.

Căn phòng rộng khoảng bốn mươi mét vuông, sàn được lát bằng những thanh ván gỗ công nghiệp màu nâu sẫm, thứ vật liệu xa xỉ mà quân đội Mỹ thường dùng để cải tạo phòng ở cho các sĩ quan cấp tá vào thập niên sáu mươi. Trải qua hơn bốn mươi năm không có người ở, lớp sàn gỗ đã cong vênh, rộp lên thành những con sóng nhấp nhô dưới chân. Giữa phòng, một chiếc bàn làm việc bằng gỗ thông ba tầng ngăn kéo nằm chỏng chơ, mặt bàn phủ lớp bụi dày đến nửa lóng tay. Trên trần nhà, quạt trần ba cánh bằng sắt đã rỉ cụt một cánh, hai cánh còn lại rũ xuống như đôi cánh gãy của một con chim sắt khổng lồ.

Khung cửa sổ hướng Tây đối diện cửa ra vào bị bịt kín bởi những thanh gỗ thông đóng chéo hình chữ X, bên ngoài là lớp lưới thép mắt cáo ngăn chim bồ câu chui vào làm tổ. Gió đêm từ ngoài sông Sài Gòn thổi qua những khe nứt của khung bao bê tông, tạo nên những tiếng huýt gió the the, đứt quãng như tiếng thở dài của ai đó đang nấp sau rèm cửa.

Tôi lia chùm sáng đèn pin dọc theo bốn bức tường.

Toàn bộ vách tường của căn phòng từng được sơn một lớp vôi màu vàng nhạt, nhưng độ ẩm của vùng nhiệt đới và sự dột nát của phần mái đã khiến lớp vữa bị thoái hóa hoàn toàn. Từng mảng vôi lớn bong tróc, cong mép rồi rụng lả tả xuống sàn nhà, để lộ ra những mảng bê tông sần sùi với những hạt cốt liệu đá dăm lởm chởm.

Khi tia sáng dừng lại ở bức tường ngăn cách giữa phòng ngủ và khu vực vệ sinh phụ, bước chân tôi đột ngột khựng lại.

Dưới góc tường nơi lớp vữa rơi rụng nhiều nhất, lộ ra một khoảng vách bê tông xám xịt. Ánh đèn pin rọi thẳng vào bề mặt thô nhám, làm nổi bật lên một hình thù kỳ dị in hằn trên nền đá.

Tôi tiến lại gần thêm hai bước. Bụi vữa vụn nát dưới đế giày nổ lách tách.

Đó là một vệt ố màu đen kịt.

Vết ố không mang hình thù ngẫu nhiên của những đám rêu mốc hay vệt ngấm nước mưa từ trần dột xuống. Toàn bộ mảng màu đen sẫm này tạo thành một hình bóng người phụ nữ mặc áo dài truyền thống với tỷ lệ chuẩn xác đến từng chi tiết. Phần thân áo dài ôm sát eo, hai tà áo buông thõng kéo dài xuống tận mép gờ chân tường, mờ dần vào lớp cốt sàn. Nhưng điểm đáng sợ nhất nằm ở phần thân trên: hai cánh tay đen đúa giơ thẳng lên trời, các ngón tay xòe rộng, cào cấu dữ dội vào bề mặt vách đá.

Tôi đưa ngón tay trần run rẩy chạm vào mép của vệt ố đen.

Nó không phải là lớp sơn vẽ bên ngoài. Bề mặt vôi vữa xung quanh đã tróc sạch, nhưng vệt đen này đã ăn sâu vào tận cấu trúc silicate của khối bê tông mác cao, giống như một phản ứng nhiệt hạch cực lớn đã thiêu cháy một thực thể sống và ép chặt dấu vết hữu cơ của nó vào vách đá vĩnh viễn.

Ngay tại vị trí mười đầu ngón tay của hình bóng, mặt bê tông không hề phẳng lì. Có mười đường rãnh sâu hoắm, sắc lẹm, cày nát lớp đá dăm và xi măng, kéo dài từ trên xuống dưới khoảng mười lăm phân.

Đó là dấu vết cào cấu thực sự. Một người bằng xương bằng thịt, trong cơn hoảng loạn tột cùng trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã dùng chính móng tay của mình cào vào lớp bê tông ướt khi khối nhà đang được thi công, hoặc đã tạo ra một lực cào khủng khiếp đến mức xé toạc cả lớp vữa trát dày ba phân để găm móng vào đá.

Tôi rọi đèn thật sát vào những đường rãnh. Trong khe nứt nhỏ nhất của rãnh cào, vẫn còn sót lại những mẩu vật chất màu nâu đen khô cứng, bám chặt vào cốt liệu xi măng. Đó là chất sừng của móng tay người trộn lẫn với máu khô qua hàng chục năm.

"Lạy Chúa..." Tôi buột miệng thốt lên bằng tiếng Anh, giọng khản đặc trong cổ họng.

Cơn ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên tận chân tóc. Bức tường này chính là nơi người phụ nữ Việt đã chết vào đêm quân đội Mỹ rút lui năm 1972. Nhưng tư thế của hình bóng này không phải là tư thế của một kẻ thòng lọng tự vẫn xuôi tay buông xuôi số phận. Đôi tay giơ cao, các ngón cào xé vách đá thể hiện sự giãy giụa tuyệt vọng của một kẻ bị giam hãm, bị ép chết vào tường trong lúc còn tỉnh táo.

Gió bên ngoài khung cửa chớp lại rít lên một hồi dài qua mắt lưới thép. Tiếng cọ xát ken két của khung gỗ mục nghe giống hệt như tiếng một móng tay gãy đang miết nhẹ trên mặt đá mài.

Tôi lùi lại một bước, hơi thở dồn dập đập mạnh vào lồng ngực. Khi gót giày tôi giẫm mạnh xuống sàn nhà, một âm thanh bất thường vang lên ngay dưới chân.

*Bộp.*

Tiếng động phát ra không mang độ đanh chắc của một tấm sàn bê tông nguyên khối. Âm thanh rỗng tuếch, trầm đục, kèm theo tiếng cọt kẹt của các thớ gỗ mục đang chịu tải.

Tôi đứng im, dồn trọng lượng từ chân phải sang chân trái rồi nhún nhẹ gót giày. Lớp ván gỗ công nghiệp dưới chân tôi hơi lún xuống khoảng nửa phân, tạo ra một khoảng đàn hồi cơ học rõ rệt.

Ở các căn hộ khác trên tầng mười ba mà tôi đã kiểm tra vào buổi chiều, sàn nhà đều được đổ bê tông dày hai mươi phân rồi lát gạch hoa trực tiếp lên trên. Không có bất kỳ căn hộ nào làm sàn nâng bằng gỗ. Kết cấu rỗng chỉ xuất hiện khi người ta cố tình chừa ra một khoảng âm sàn để đi đường ống kỹ thuật, hoặc để giấu một thứ gì đó bên dưới lớp ván lát.

Tôi cúi gập người xuống, hạ thấp ngọn đèn pin rọi sát mặt sàn.

Khoảng ván sàn ngay dưới chân hình bóng người phụ nữ trên bức tường có những đặc điểm hoàn toàn khác biệt. Các thanh gỗ ở đây không được cố định bằng đinh chỉ thông thường của thợ mộc Chợ Lớn. Bốn góc của khoảng sàn rộng chừng một mét vuông này được bắt chặt xuống lớp đà bê tông bằng những con bu-lông lục giác bằng thép không gỉ, loại ốc vít chuyên dụng của ngành cơ giới công binh Mỹ thế kỷ trước. Đầu bu-lông đã bị người ta dùng đục sắt bạt phẳng các cạnh nhằm ngăn cản việc tháo lắp bằng cờ-lê thông thường.

Dưới khe hở cong vênh giữa hai thanh gỗ mục, một luồng khí nồng mùi sáp ong và kim loại ẩm tiếp tục rỉ ra, phả nhẹ vào mu bàn tay tôi.

Căn phòng này không chỉ đơn thuần là hiện trường của một vụ án mạng bị che giấu năm 1972. Người ta đã niêm phong cánh cửa bằng xích sắt, đóng kín cửa sổ, và bên dưới lớp sàn gỗ rỗng này, một bí mật cơ học khác vẫn đang nằm im lìm dưới lớp bụi thời gian, chờ đợi nhát đục đầu tiên bóc trần nó ra ánh sáng.

Tôi nắm chặt thanh xà beng trong tay, đầu dẹp bằng thép sắc lạnh run lên nhè nhẹ theo nhịp đập nơi cổ tay. Tôi quỳ một bên gối xuống đống mùn cưa mục nát, mũi xà beng nhắm thẳng vào khe hở đầu tiên của tấm ván sàn.

Chương khác

Xem thêm