Chung Cư 727 - Chương 8: Nhát Búa Đầu Tiên

Ánh sáng rạng đông màu chì chậm chạp rọi qua những nan cửa chớp mục nát của căn phòng không số. Luồng sáng yếu ớt của buổi sớm Chợ Lớn cắt mặt sàn thành…

Nội dung chương

Ánh sáng rạng đông màu chì chậm chạp rọi qua những nan cửa chớp mục nát của căn phòng không số. Luồng sáng yếu ớt của buổi sớm Chợ Lớn cắt mặt sàn thành từng dải xám xịt, phơi bày lớp bụi vôi dày cộp và những mảnh vữa vụn rụng rớt sau cơn chấn động đêm qua.

Tôi đứng tựa lưng vào mép tường đối diện, hai bàn chân ghì chặt xuống mặt sàn gạch hoa đã bong tróc hết lớp men bóng. Mảnh vải xé từ vạt áo bảo hộ quấn quanh lòng bàn tay trái bắt đầu khô cứng lại, dính chặt vào lớp da rách toác bằng thứ dịch huyết tương lẫn bụi xi măng nâu sẫm. Cơn đau nhức buốt chạy dọc theo các khớp ngón tay lên tận bả vai, nhắc nhở tôi rằng tôi vẫn đang tồn tại bằng xương bằng thịt ngay trên nóc khối bê tông già cỗi này.

Bên ngoài hành lang, tiếng động cơ xe cộ dưới đường Trần Hưng Đạo bắt đầu dội lên theo trục thông gió. Tiếng còi xe buýt chói gắt, tiếng máy nổ lọc cọc của những chuyến xe lam chở rau củ từ miền Tây vào chợ Bình Tây, tiếng kim loại va chạm leng keng của những gánh hàng rong mở sớm. Cuộc sống của đô thị vẫn vận hành theo quán tính cơ học đều đặn của nó, hoàn toàn vô cảm trước sự mục ruỗng đang diễn ra từng giây trên độ cao bốn mươi mét.

Tòa nhà 727 đứng đó, một khối kiến trúc mười ba tầng mang cấp độ nguy hiểm D, chờ đợi một bản án tử hình bằng sắt thép và thủy lực. Nhưng những người ký lệnh di dời khẩn cấp ở ủy ban nhân dân thành phố chưa từng bước chân vào căn phòng góc này vào lúc bốn giờ sáng. Họ chỉ nhìn thấy các biểu đồ lún nghiêng ba mươi phân về hướng tây nam, những vết nứt hình mạng nhện lan rộng trên các dầm chuyển tầng ba, cùng hàng trăm tấn rác ứ đọng trong các hộp kỹ thuật mục rỗng. Họ tính toán khối lượng phế thải cần vận chuyển bằng xe ben mười lăm tấn, quy đổi từng mét khối bê tông thành chi phí giải phóng mặt bằng, mà chưa từng biết bên dưới lớp áo vữa xám xịt ấy là một trận địa trấn yểm bằng máu thịt con người.

Tôi cúi xuống nhìn cây búa tạ mười ký nằm dưới chân.

Cán búa làm bằng gỗ nghiến tiện tròn, thớ gỗ màu nâu sẫm đã ngấm mồ hôi tay của nhiều thế hệ thợ phá dỡ, bóng loáng và lạnh ngắt. Khối thép đúc hình lục lăng ở đầu búa mang một vài vết mẻ vẹt cạnh do từng va chạm với các thanh ray đường sắt cũ, nặng trịch và trơ lì. Đây là công cụ lao động thuần túy của nghề hạ giải công trình, dùng để phá vỡ liên kết giữa các mảng tường gạch và giải phóng sức căng của các khối dầm bê tông trước khi máy xúc gắn kìm thủy lực vào cuộc.

Hôm nay, nó sẽ gánh một nhiệm vụ khác.

Tôi bước hai bước về phía vách dầm chịu lực trung tâm.

Vệt ố đen hình người phụ nữ in trên mặt bê tông vẫn sừng sững ở đó, rõ nét đến mức tàn nhẫn dưới ánh bình minh xám xịt. Dáng người uốn cong trong tư thế co giật tuyệt vọng, hai cánh tay giương lên cào cấu vào khoảng không vô định, mười rãnh móng tay sâu hoắm trên thớ đá granite vẫn đọng lại lớp màng nhầy màu nâu cánh gián.

Cuốn sổ bọc da của ông nội ghim chặt trong túi áo trước ngực cộm lên từng hồi theo nhịp thở dồn dập của tôi. Những trang nhật ký viết bằng mực Parker xanh đen năm 1972 trỗi dậy nguyên vẹn trong ký ức. Lời của Thomas Carter, người sĩ quan công binh đã bỏ chạy khỏi Sài Gòn trên chuyến bay cuối cùng, để lại đứa con trai lai mang dòng máu của mình giữa thành phố đổi tên: *"Chúng tao đã đổ bê tông tươi vào lúc ba giờ sáng ngày mười lăm tháng ba năm 1960. Thầy phong thủy Lương Bá Kỳ nói rằng tầng mười ba là đỉnh của chiếc đinh sắt cắm thẳng vào lưng con rồng Chợ Lớn. Nếu không có một linh hồn giữ chốt đối trọng với cửa ngục dưới đáy hầm, tòa nhà sẽ nứt đôi trước khi xây xong tầng thượng."*

Một cấu trúc "Đinh Trấn Hồn" hoàn chỉnh. Khối dầm này giữ vai trò của cái đầu đinh, nén chặt toàn bộ oán khí xuống lòng đất sâu bằng sức nặng của hàng ngàn tấn đá và sắt thép.

Muốn phá bỏ lời nguyền đang giam hãm linh hồn người phụ nữ và mở toang cánh cửa bước xuống tầng hầm, tôi phải phá vỡ khối dầm này trước tiên. Không dùng kìm cắt thủy lực từ tốn của công ty. Không chờ dàn giáo an toàn của đội thợ Văn.

Chính tôi phải thực hiện nhát đánh đầu tiên này, bằng sức nặng cơ bắp của chính đứa cháu nội kẻ đã tham gia vào việc tạo ra nó.

Tôi hít một hơi thật sâu. Không khí trong căn phòng sực mùi ẩm mốc của mùn cưa mục, mùi hôi nồng của lớp vôi vữa ngậm nước qua năm mươi mùa mưa Chợ Lớn, xen lẫn mùi gỉ sét đắng ngắt từ các lõi thép bên trong tường. Tôi hạ thấp trọng tâm cơ thể, hai bàn chân tách rộng bằng vai, mũi giày bảo hộ mũi thép bấm chặt vào các khe nứt của nền nhà.

Bàn tay phải tôi nắm chặt phần đuôi cán gỗ nghiến, bàn tay trái quấn vải đẫm máu trượt lên gần sát khối đầu búa bằng thép đúc để giữ thăng bằng. Cơ bắp ở bắp chân, cơ đùi và sống lưng căng cứng lên như những sợi dây cáp tời bị kéo quá tải.

Tôi ngước nhìn vào tâm điểm của vệt ố đen. Điểm giao nhau giữa phần cổ và xương ức của hình bóng phụ nữ kia chính là nơi thanh thép chủ đường kính ba mươi hai milimét của dầm chuyển chạy ngang qua. Đập gãy liên kết bê tông bảo vệ tại vị trí này sẽ làm sụp đổ toàn bộ sơ đồ chịu lực của căn phòng, truyền xung lực phá hủy đi thẳng xuống trục kỹ thuật trung tâm.

"Ông nội nợ cô một món nợ máu," tôi thì thầm qua kẽ răng, giọng khàn đặc vì bụi vôi khô khốc. "Và hôm nay tôi đến để trả."

Tôi co chân, vung cây búa tạ ra phía sau bả vai.

Khối thép nặng mười ký vạch một đường vòng cung xé toang bầu không khí tĩnh mịch. Toàn bộ trọng lượng cơ thể tôi dồn về phía trước, lực phát động từ gót chân truyền qua hông, vặn xoắn cơ bụng rồi bùng nổ qua đôi cánh tay gân guốc. Cơn uất nghẹn dồn nén suốt bao năm tháng lớn lên dưới sự kỳ thị về một đứa con lai không cha. Nỗi ám ảnh từ những cơn mê sảng lúc lâm chung của ông nội bên kia bờ đại dương. Và sự ngột ngạt của cả một đời thợ lầm lũi trong tro bụi công trình. Tất cả kết tụ lại thành một điểm duy nhất nơi mũi thép đúc.

*ẦM!*

Đầu búa tạ giáng thẳng vào trung tâm vệt ố đen trên vách dầm bê tông.

Một tiếng nổ đanh gọn, chát chúa vang lên như tiếng kim loại va chạm với kim loại đặc, dội ngược vào màng nhĩ tôi buốt nhói. Lực phản hồi khủng khiếp từ khối đá mác cao truyền thẳng ngược lại cán gỗ nghiến, xé toạc lớp vải băng trên bàn tay trái của tôi. Máu tươi bắn tung tóe lên mặt dầm xám xịt, nóng hổi. Hai cổ tay tôi tê dại đi, các khớp xương run lên bần bật vì chấn động.

Tôi lảo đảo lùi lại một bước, hai mắt trừng trừng dán chặt vào điểm va chạm.

Khối bê tông xây dựng từ năm 1960 không hề vỡ vụn thành từng mảng đá dăm xám tro như những công trình thông thường mà tôi từng phá dỡ. Không có đám bụi xi măng mù mịt bốc lên bao phủ căn phòng. Bề mặt vách dầm lõm sâu xuống một vết tròn bằng nắm tay, để lộ ra những thớ đá bazan xanh đen cứng quánh như thép nguội.

Rồi, từ tâm điểm của vết lõm, một âm thanh rạn nứt khô khốc bắt đầu cất lên.

*Rắc... Rắc... Rắc...*

Tiếng nứt không chạy theo phương ngang hay phương đứng theo quy luật chịu tải cơ học thông thường. Những đường rạn ngoằn ngoèo xé toạc lớp áo vữa trát ngoài, rẽ nhánh theo hình dáng của những mạch máu li ti, bò dọc theo cơ thể của vệt ố hình người phụ nữ. Đường nứt chính toác rộng ra gần hai đốt ngón tay, chạy thẳng từ điểm đầu búa chạm xuống tận chân dầm tiếp giáp với mặt sàn bê tông.

Lớp bê tông bảo vệ bong ra từng mảng lớn, rơi ầm ầm xuống đống mùn cưa dưới sàn.

Lõi cốt thép bên trong lộ ra.

Tôi rùng mình, lạnh toát từ đỉnh đầu xuống tận gót chân.

Bên trong lòng khối dầm, thanh thép chủ không mang màu gỉ sắt nâu đỏ thông thường của kim loại bị oxy hóa. Cây thép xoắn to bản kia đen kịt, bề mặt xù xì những u cục dị dạng quấn chặt lấy nhau. Và nằm kẹp cứng giữa hai thanh thép giằng chịu lực, hoàn toàn không phải những viên đá sỏi cốt liệu xây dựng.

Đó là những đốt xương sống người.

Những đốt xương màu vàng ố của phần cột sống và xương sườn người trưởng thành bị uốn cong cưỡng bức, đan xen chằng chịt vào giữa các tao thép gai, bị lớp xi măng mác cao thời chiến tranh ép chặt thành một khối đồng nhất suốt hơn năm mươi năm qua. Người ta đã dùng chính bộ xương này để thay thế cho một phần cốt thép chịu uốn, khóa chặt linh hồn người chết vào giữa sự tồn vong của cả khối nhà mười ba tầng.

Nhưng điều kinh hoàng nhất vẫn chưa dừng lại ở đó.

Từ kẽ nứt toác sâu hoắm của thanh dầm, nơi các đốt xương người vừa lộ ra dưới ánh sáng bình minh, không hề có bụi vôi khô khốc rơi xuống.

Một dòng chất lỏng đặc quánh, mang màu đen sẫm pha lẫn sắc đỏ bầm của huyết tương ứ đọng lâu năm, bắt đầu ứa ra từ thớ bê tông nứt nẻ.

Dòng dịch thể nhớp nhúa chảy róc rách, sủi bọt lúp búp khi tiếp xúc với không khí bên ngoài, bốc lên một mùi hôi thối nồng nặc đến nghẹt thở. Đó là thứ mùi tổng hòa của máu ươn thối rữa, sáp ong dùng để ướp xác bị đốt cháy, và mùi lưu huỳnh ngột ngạt của hỏa ngục. Dòng chất lỏng đen ngòm chảy tràn qua vết lõm của nhát búa, bò ngoằn ngoèo xuống chân vách tường, rồi men theo các khe nứt của sàn nhà mà thấm sâu vào lòng trục kỹ thuật.

*RẦM!*

Một tiếng gầm rách toạc không gian bùng nổ, không phải phát ra từ căn phòng này, mà dội ngược từ đáy sâu thăm thẳm dưới lòng đất của tòa nhà.

Tiếng thét chói tai của một người đàn bà hòa lẫn với tiếng gầm gừ kim khí đục ngầu, xuyên qua mười ba tầng lầu bằng bê tông cốt thép, xé toạc các ống gen kỹ thuật, lao thẳng lên tầng mười ba với một áp lực kinh hoàng. m thanh rít lên từng hồi buốt óc, giống như tiếng móng tay bằng sắt cào xé điên cuồng vào thành nồi hơi đang chịu áp suất cực đại.

Sàn nhà dưới chân tôi đột ngột nảy lên.

Toàn bộ khối kết cấu của tầng mười ba rung lắc dữ dội theo phương ngang. Chiếc đèn pin đặt trên sàn văng thẳng ra mép ban công trống hoác, rơi hút xuống vực sâu đen ngòm của đại lộ Trần Hưng Đạo. Những mảnh kính vỡ từ khung cửa sổ chớp bắn tung tóe khắp phòng, cắm phập vào các tấm vách gỗ mục nát.

Mạch phong thủy trấn yểm đô thị kéo dài nửa thế kỷ chính thức bị bẻ gãy sau nhát búa ngàn cân.

Sự cân bằng mong manh giữa cái chết trên tầng cao và phong ấn dưới đáy sâu đã tan thành mây khói. Tôi cảm nhận được rõ ràng qua lớp đế giày bảo hộ sự dịch chuyển kinh hoàng của các khối dầm chuyển bên dưới. Một chấn động dây chuyền đang xé toạc các tầng lầu từ trên xuống dưới.

*Cót két... Rắc... Rắc...*

Tiếng bê tông gãy vỡ bên dưới chân tôi truyền đi như sấm ran. Tầng mười hai, tầng mười một, tầng mười... Các dầm chịu lực dọc theo trục kỹ thuật trung tâm đang đồng loạt rạn nứt theo phương thẳng đứng, nứt toác theo đúng đường đi của dòng chất lỏng đen ngòm đang rỉ ra từ vết thương trên vách tường tầng mười ba.

Tôi phải bám chặt hai tay vào thanh xà beng cắm sâu dưới sàn để giữ cho mình khỏi ngã nhào ra ngoài vực sâu ban công. Gió sáng từ hướng sông Sài Gòn quất thẳng vào mặt tôi buốt rát, nhưng không khí xung quanh căn phòng lúc này lại nóng rực lên như đang đứng trước miệng một lò nung kim loại.

Dưới đáy sâu của trục thang máy bị niêm phong, nơi tầng hầm chìm trong bóng tối từ ngày ba mươi tháng tư năm 1975, một chuỗi âm thanh kim loại va đập liên hồi bắt đầu vang lên.

*Keng! Keng! Keng!*

Đó là tiếng xích sắt lớn đang bị giằng giật điên cuồng.

Tiếng những cánh cửa thép dày cả tấc bị đập uỳnh uỳnh từ bên trong, tiếng nước ngầm đen đúa sủi bọt ùng ục tràn qua các khe nứt của lớp bê tông đáy móng. Kẻ bị phong ấn dưới đáy công trình suốt bốn mươi tư năm qua đã nhận được tín hiệu giải thoát từ nhát búa của tôi. Khối dầm tầng mười ba đã nứt, cái đinh neo giữ linh hồn đã lung lay, và cánh cửa địa ngục dưới lòng Chợ Lớn bắt đầu mở toang chốt khóa.

Tôi đứng thẳng người dậy giữa đống gạch đá vụn nát đang rung chuyển, hai bàn tay đẫm máu siết chặt lấy cán búa tạ vừa giáng đòn định mệnh.

Trước mắt tôi, vệt ố đen hình người trên vách tường dầm chuyển đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một cái hốc tối om, nứt toác, rỉ máu đen tanh nồng, để lộ ra khoảng trống hun hút dẫn thẳng xuống đường ống thông gió tối om của tòa nhà.

Bình minh Chợ Lớn đã lên trọn vẹn, nhưng bầu trời qua ô cửa vỡ lại nhuốm một màu đỏ quạch như máu loãng.

Trận chiến phá dỡ công trình số 727 Trần Hưng Đạo vừa chính thức bắt đầu, và tôi biết, nhát búa đầu tiên này không phải để đánh sập một tòa nhà cũ nát, mà là để đánh thức một cơn ác mộng khủng khiếp đang đợi tôi bước xuống từng bậc thang để đối mặt.

Chương khác

Xem thêm