Chung Cư 727 - Chương 9: Giải Phẫu Bí Thuật Trấn Yểm

Bình minh ở khu Chợ Lớn không mang lại hơi ấm mà trút xuống tầng mười ba một thứ ánh sáng màu xám chì nhợt nhạt. Gió từ đại lộ Trần Hưng Đạo thốc qua…

Nội dung chương

Bình minh ở khu Chợ Lớn không mang lại hơi ấm mà trút xuống tầng mười ba một thứ ánh sáng màu xám chì nhợt nhạt. Gió từ đại lộ Trần Hưng Đạo thốc qua những khoảng tường vỡ nát, cuốn theo lớp bụi vôi khô khốc xoáy tròn giữa lòng căn phòng hoang phế.

Dưới chân tôi, mặt sàn bê tông vừa trải qua cơn rung chấn dữ dội vẫn còn lưu lại những vết nứt hình chân chim chằng chịt. Vết nứt chính xé toạc thanh dầm chuyển chịu lực, kéo dài hơn ba mét từ mảng tường phía đông chạy thẳng về phía vách trục thang máy trung tâm. Mùi hôi thối từ dòng chất lỏng đen ngòm rỉ ra ban nãy bắt đầu khô lại, đóng thành một lớp màng quánh dẻo, tanh nồng như máu cá ươn trộn lẫn dầu hỏa.

Tôi ngồi bệt xuống đống gạch vụn, thở dốc từng cơn. Bàn tay trái rách toạc được quấn tạm bằng mảnh vải bảo hộ đã thấm đẫm máu tươi, bắt đầu nhức nhối theo từng nhịp đập của tim. Nhưng cơn đau thể xác lúc này chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi bất an đang đè nặng trong lồng ngực. Tiếng xích sắt va đập dưới đáy tầng hầm đã im bặt, song sự tĩnh lặng đột ngột của khối bê tông nửa thế kỷ này lại mang một sức ép nghẹt thở hơn cả tiếng gầm rú ban nãy.

Tôi đứng dậy, gạt chốt an toàn trên mũ bảo hộ rồi bước lại gần thanh dầm chính.

Theo quy trình phá dỡ chuẩn cấp D của Sở Xây dựng, trước khi tôi cho hạ dàn búa thủy lực hoặc dùng máy cắt dây kim cương để hạ sàn lớn tầng mười ba, kết cấu dầm chịu lực phải được kiểm định chính xác độ suy giảm ứng suất. Nếu thanh dầm chuyển ngang này gãy sụp đột ngột vì mất cân bằng tải trọng, hàng trăm tấn bê tông phía trên sẽ đổ ụp xuống sàn tầng mười hai, tạo ra hiệu ứng domino kéo sập toàn bộ trục giữa của tòa nhà trước khi dân quân kịp phong tỏa mặt đường bên dưới.

Tôi cần bóc tách lớp bê tông bảo vệ bên ngoài thanh dầm, kiểm tra tình trạng ăn mòn của các thanh thép chủ phi 32 bên trong.

Chiếc máy khoan rút lõi bê tông hiệu Hilti nặng gần hai mươi ký đặt ở góc hành lang bám đầy bụi đỏ. Tôi kéo sợi dây điện bọc cao su dày cộp nối từ máy phát điện đặt tạm ở chiếu nghỉ cầu thang tầng mười hai lên, cắm chặt phích cắm ba chấu. Tiếng máy phát nổ giòn giã từ tầng dưới vọng lên, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của buổi sớm.

Tôi xốc chiếc máy khoan lên vai, bước vào vị trí vết nứt lớn nhất trên thân dầm.

Đầu khoan gắn mũi cắt hợp kim kim cương đường kính một trăm năm mươi milimét sáng loáng ánh thép lạnh. Tôi dùng máy khoan bê tông nhỏ bắt hai con bulong nở mười hai ly xuống mặt sàn để cố định chân đế của giàn máy. Từng động tác siết cờ-lê vang lên những tiếng *cạch cạch* khô khốc giữa bốn bề vách tường mục nát. Bụi xám bay mù mịt bám vào mồ hôi trên cổ tôi, ngứa ngáy và cay xè mắt.

Sau khi siết chặt chân đế, tôi gắn ống nhựa dẫn nước làm mát từ bình tích áp di động vào đầu chụp máy khoan. Không có nước làm mát, ma sát cực lớn giữa lưỡi kim cương và đá granite mác 400 sẽ làm cháy mũi khoan chỉ sau vài phút vận hành.

Tôi gạt công tắc điện.

Cỗ máy rùng mình, phát ra tiếng rít cơ khí xé tai khi trục động cơ đạt đến tốc độ chín trăm vòng một phút. Bằng tay quay trợ lực, tôi bắt đầu tì đầu mũi khoan kim cương vào bề mặt khối dầm bê tông xám xịt.

Nước làm mát phun ra xối xả, cuốn theo lớp bột đá biến thành dòng bùn lỏng màu xám đục chảy lênh láng dưới chân tôi. Tiếng kim loại nghiến vào đá cứng rít lên ken két, rung chuyển truyền thẳng qua cánh tay, chạy dọc lên bả vai tôi buốt nhói.

Bê tông đúc từ năm 1960 của Building President rắn chắc khác thường. Hơn năm mươi năm phơi mưa nắng và chịu đựng sự suy tàn đô thị, lớp vỏ ngoài có thể bong tróc từng mảng vôi vữa mục mủn, nhưng phần lõi bên trong lại đanh chắc như đá hoa cương. Mũi khoan tiến vào rất chậm, mỗi centimet ăn sâu vào thân dầm đều đòi hỏi toàn bộ sức nặng cơ thể tôi tì lên tay đòn.

Mũi khoan ngập sâu được chừng mười lăm phân thì bắt đầu có hiện tượng bất thường.

Nước làm mát chảy ra từ khe cắt đột ngột đổi màu. Thay vì lớp bùn bê tông xám trắng thông thường, dòng nước phụt ra từ lòng lỗ khoan chuyển sang màu nâu sẫm quánh đặc.

Một luồng hơi nóng rực bốc thẳng lên mặt tôi.

Kèm theo luồng hơi nóng là thứ mùi khét lợ đặc sệt, xộc thẳng qua lớp khẩu trang than hoạt tính dày ba lớp. Đó không phải mùi ma sát cơ học giữa kim loại và đá sỏi, cũng không phải mùi khét của nhựa đường hay cao su cháy. Mùi vị ấy tanh tưởi, ngầy ngậy, giống hệt mùi mỡ động vật bị tao trên một chiếc chảo gang nung đỏ đến mức bốc khói đen. Thứ mùi mỡ người cháy xém ghê tởm từng ám ảnh những người lính cứu hỏa trong các vụ hỏa hoạn nhà cao tầng lập tức ùa về trong tâm thức tôi.

Cổ họng tôi thắt nghẹn, dạ dày quặn lên từng cơn buồn nôn. Tôi phải nghiến chặt răng, giữ vững hai tay trên cần gạt để mũi khoan không bị vặn nghiêng.

*KÉTTTT!*

Một tiếng rít kim loại chói óc vang lên dữ dội. Lực cản dưới tay tôi tăng vọt. Mũi khoan đập phải một vật cản cực kỳ rắn chắc bên trong lòng khối dầm. Rơ-le chống quá tải của máy khoan nhảy tách một tiếng, ngắt điện toàn bộ hệ thống để bảo vệ động cơ.

Đầu khoan dừng quay đột ngột. Sự im ắng lập tức bao trùm lấy căn phòng, chỉ còn lại tiếng nước làm mát rỏ tong tỏng xuống sàn đá nứt nẻ.

Tôi buông tay quay, lùi lại một bước, đưa mu bàn tay áo quẹt mồ hôi đầm đìa trên trán. Hơi khét lợ vẫn bốc lên nghi ngút từ lỗ khoan tròn hoắm trên vách dầm. Lớp bùn màu nâu đen quanh miệng lỗ khoan sủi những bọt khí nhỏ li ti, bốc lên thứ nhiệt lượng hầm hập kỳ quái.

Tôi rút chốt hãm, kéo cụm động cơ máy khoan lùi ngược lại phía sau. Đầu mũi khoan hợp kim kim cương vừa rút ra ngoài đỏ ửng vì nhiệt, bám đầy những vệt chất lỏng dẻo quánh như sáp ong nấu chảy.

Tôi với tay lấy chiếc búa con và cây đục thép dẹt giắt bên hông túi đồ nghề. Đặt lưỡi đục vào mép rãnh cắt tròn, tôi gõ mạnh vài nhát dứt khoát.

Mảng bê tông lõi hình trụ dài mười lăm phân nứt toác, long ra khỏi khối dầm rồi rơi xuống mặt sàn sau một tiếng *cộp* nặng nề.

Tôi quỳ một chân xuống lớp bùn ướt, bật chiếc đèn pin gắn trên trán chiếu thẳng vào hốc sâu vừa lộ ra.

Bụi vôi mủn rơi lả tả khi tôi dùng chổi cọ sắt quét sạch phần mùn đá bên trong. Dưới ánh đèn LED trắng sắc lạnh, cấu trúc cốt thép chịu lực của thanh dầm tầng mười ba hiện ra rõ mồn một.

Tôi đứng chết trân tại chỗ. Toàn thân tôi lạnh toát.

Hai thanh thép gân phi 32 dùng làm cốt chịu lực chính không nằm song song theo quy chuẩn xây dựng thông thường của thập niên sáu mươi. Chúng bị uốn cong một cách có chủ đích, ép sát vào nhau tạo thành một khe hẹp dài chừng gang tay.

Và kẹp chết giữa hai thanh thép gân rỉ sét màu nâu đỏ ấy là những tấm kim loại mỏng bằng đồng thau.

Những phiến đồng có hình chữ nhật, dài khoảng hai mươi phân, rộng năm phân, bề mặt chỉ dày chừng hai milimét. Chúng bị lực ép của bê tông mác cao và nhiệt lượng của khối dầm nén chặt qua hơn nửa thế kỷ, nhưng không hề bị oxy hóa hay mục nát. Dưới ánh đèn pin quét qua, sắc vàng thau lạnh lẽo ánh lên qua những mảng bùn đen bám dính.

Tôi run rẩy thò tay vào hốc sâu, dùng mũi đục thép cạy nhẹ vào mép một phiến đồng. Lớp bê tông xỉn màu xung quanh vỡ vụn ra từng mảng nhỏ, để lộ toàn bộ bề mặt của tấm kim loại.

Trên mặt phiến đồng thau, những dòng kinh văn cổ được dập chìm sâu vào thớ kim loại.

Đó không phải chữ Hán, cũng không phải chữ Nôm hay ký tự Latin thông thường. Từng đường nét chạm khắc sắc lẹm, ngoằn ngoèo tựa như những con rắn cuộn mình, mang cấu trúc của chữ Phạn cổ kết hợp với những ký hiệu hình học kỳ lạ gồm các vòng tròn đồng tâm và hình tam giác lồng ghép vào nhau. Ở bốn góc của phiến đồng, bốn lỗ đinh nhỏ được đóng xuyên qua bằng những chiếc đinh đồng ba cạnh, ghim chặt tấm bùa kim loại vào chính thớ thép chịu lực của công trình.

Những người lính công binh Mỹ và đội thợ thi công năm 1960 không hề vô tình để quên thứ này.

Họ đã đúc những lá bùa đồng này vào thẳng khối dầm ngay từ khi đổ mẻ bê tông đầu tiên. Khối sắt thép và đá granite kiên cố của Building President không chỉ đơn thuần là khung xương nâng đỡ mười ba tầng lầu phục vụ cho việc lưu trú của các sĩ quan quân đội. Nó đã được biến thành một cái giá treo khổng lồ, một nhà tù vĩnh cửu bằng bê tông cốt thép để giam giữ và trấn yểm một thứ gì đó vô cùng tàn bạo.

Tôi dùng kìm mỏ nhọn kẹp chặt mép phiến đồng, cẩn thận nạy chiếc đinh ba cạnh đầu tiên. Khối kim loại rên lên một tiếng *két* chói tai khi rời khỏi thớ thép.

Khi phiến đồng đầu tiên rơi vào lòng bàn tay tôi, sức nặng của nó làm tôi giật mình. Nó nặng hơn nhiều so với đồng thau nguyên chất, mặt sau dát một lớp chì xám xịt phủ đầy những vết cào cấu nông sâu không theo quy luật, giống như dấu vết do móng tay người cào vào lớp kim loại mềm trước khi nó kịp đông kết hoàn toàn.

Tôi rọi đèn pin sâu hơn vào kẽ nứt của thanh dầm, quét dọc theo chiều dài của kết cấu chịu lực.

Không chỉ có một phiến đồng.

Dọc theo vết nứt kéo dài ba mét, cứ cách đúng bốn mươi phân lại có một cặp thép gân uốn cong kẹp lấy một lá bùa đồng thau tương tự. Tất cả đều được đóng đinh ba cạnh cố định vào khung sắt.

Nhưng điều khiến tim tôi thắt lại, khiến từng sợi tóc gáy tôi dựng đứng lên, chính là góc nghiêng của các phiến đồng này.

Là một người thợ phá dỡ có thâm niên mười lăm năm trong nghề, mắt tôi đã quen với các phép đo trắc đạc và góc độ hình học của kết cấu công trình. Tôi cầm chiếc thước đo góc cơ học đặt vào mép phiến đồng vừa cạy ra, rồi áp thước vào các phiến đồng vẫn còn nằm sâu trong khe nứt.

Tất cả các lá bùa bằng đồng thau không hề được đặt nằm ngang theo phương của thanh dầm, cũng không dựng thẳng đứng vuông góc với mặt sàn.

Chúng đều được đặt vát nghiêng một góc chính xác bốn mươi lăm độ.

Góc nghiêng bốn mươi lăm độ này hướng thẳng về phía tâm của căn phòng, hướng về cái giếng trời và trục thang máy kỹ thuật trung tâm của tòa nhà.

Tôi lùi lại vài bước, đưa mắt nhìn quanh bốn vách tường dầm chuyển bao bọc lấy sàn tầng mười ba.

Tôi bước nhanh sang thanh dầm phụ phía đối diện, dùng búa gõ mạnh vào lớp vữa mục nát ngoài cùng. Lớp vữa bong ra thành từng mảng lớn rơi rụng xuống sàn. Dưới ánh đèn pin lướt vội, tôi nhìn thấy những cạnh đồng thau màu vàng xỉn khác cũng đang nhô ra từ khe nứt của thanh dầm phía tây.

Và chúng cũng nghiêng một góc bốn mươi lăm độ. Nhưng hướng nghiêng của chúng đối xứng hoàn hảo với các phiến đồng ở thanh dầm phía đông mà tôi vừa bóc tách.

Tôi quỳ sụp xuống sàn nhà đầy bùn đất, rút mẩu phấn thợ hồ màu đỏ từ trong túi áo ra.

Những ngón tay tôi run bần bật khi vạch từng đường nét hình học lên mặt sàn bê tông xám xịt. Tôi vẽ lại chu vi mặt sàn tầng mười ba với bốn thanh dầm chịu lực bao quanh lõi thang máy. Rồi tôi vẽ các mũi tên thể hiện hướng nghiêng bốn mươi lăm độ của các phiến đồng trấn yểm.

Bốn bề dầm ngang quanh sàn tầng mười ba đều cắm các phiến đồng nghiêng bốn mươi lăm độ hướng tâm.

Bốn mặt nghiêng đồng quy tại một điểm duy nhất trong không gian. Khi các đường thẳng vô hình kéo dài từ các lá bùa cắm nghiêng ấy gặp nhau, chúng không hướng lên bầu trời để đón nhận sinh khí của đất trời theo quan niệm phong thủy thông thường của người Á Đông.

Chúng chúc mũi nhọn thẳng xuống dưới.

Toàn bộ hệ thống trấn yểm ở tầng mười ba này tạo thành bốn mặt bên của một khối chóp tứ giác đều đặt úp ngược.

Một kim tự tháp ngược khổng lồ bằng bê tông cốt thép và bùa chú kim loại.

Đáy của kim tự tháp chính là toàn bộ mặt sàn rộng hàng trăm mét vuông của tầng mười ba - nơi cao nhất của Building President, nơi hứng trọn ánh nắng, gió trời và sự sống của đô thị Sài Gòn. Còn đỉnh nhọn của khối chóp ngược ấy - nơi hội tụ toàn bộ áp lực tải trọng, toàn bộ sự đè nén kinh hoàng của hàng ngàn tấn bê tông và oán khí bị phong kín - lại đâm thẳng tắp theo trục thẳng đứng của giếng thang máy, xuyên qua mười ba tầng lầu tối tăm, cắm phập xuống đáy móng sâu hoắm dưới lòng đất.

Đáy móng nơi có căn hầm bị niêm phong từ năm 1975.

Cổ họng tôi khô khốc, hơi thở nghẹn ứ lại nơi lồng ngực.

Đây là một cỗ máy phong thủy tàn độc chưa từng có. Người thiết kế ra cấu trúc này không có ý định bảo vệ tòa nhà khỏi sự sụp đổ hay cầu mong sự thịnh vượng cho người cư ngụ. Mục đích duy nhất của kim tự tháp ngược này là thu gom toàn bộ chướng khí, uất nghẹn và cái chết từ trên đỉnh cao nhất, nén chúng lại thành một mũi giáo năng lượng sắc nhọn, ghim chặt kẻ bị giam cầm dưới tầng hầm xuống lòng đất Chợ Lớn vĩnh viễn không thể cựa quậy.

Và để mũi giáo ấy có đủ sức nặng tâm linh, chúng cần một cái neo sống.

Cái neo ấy chính là người phụ nữ Việt Nam đã tự vẫn trên tầng mười ba trong đêm quân đội Mỹ rút đi năm 1972. Máu của người phụ nữ, sự phẫn uất tột cùng của một cái chết oan khuất nơi tầng cao nhất đã kích hoạt toàn bộ hệ thống kim tự tháp ngược này, biến nó thành một phong ấn máu khép kín suốt bốn mươi tư năm qua.

Nhát búa tạ sáng nay của tôi làm nứt vỡ thanh dầm chịu lực phía đông đã vô tình làm lệch đi một góc nghiêng của kim tự tháp ngược. Phong ấn bị rạn nứt, sự cân bằng của mũi giáo đè nén bị phá vỡ, và sinh vật dưới đáy hầm mới có thể cựa mình làm rung chuyển cả mười ba tầng lầu.

Tôi nhìn chằm chằm vào phiến đồng thau đang nằm lạnh ngắt trong lòng bàn tay mình.

Dưới ánh sáng ban ngày ngày càng rõ rệt, tôi nhận thấy ở góc dưới cùng của phiến đồng có khắc một dãy mã số quân sự bằng chữ số Ả Rập rất nhỏ: *MACV-SOG-1960-SEC7*.

Dấu vết của Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam.

Ông nội tôi từng là sĩ quan phục vụ trong lực lượng này trước khi rời khỏi tòa nhà vào năm 1972. Những câu chuyện rời rạc về tiếng gõ cửa dưới tầng hầm, về người phụ nữ tầng mười ba mà ông kể lại trên giường bệnh trước khi qua đời không phải là cơn mê sảng của một cựu binh già bị ám ảnh bởi chiến tranh. Ông biết rất rõ về cấu trúc này. Có thể chính ông, hoặc những người đồng đội của ông, đã trực tiếp giám sát việc chế tác những phiến đồng này trước khi đổ mẻ bê tông mác cao năm đó.

Ai đã cung cấp những lá bùa dập kinh văn này cho quân đội Mỹ? Vật liệu này được chế tác từ đâu, và tại sao một căn hộ bỏ hoang ở cuối hành lang tầng mười ba lại trở thành tâm chấn của toàn bộ cấu trúc trấn yểm quái đản này?

Một cơn gió lạnh bất thần thổi thốc qua khung cửa chớp vỡ, cuốn theo tiếng cót két rợn người của cánh cửa gỗ mục nát phía cuối hành lang hun hút.

Tiếng động ấy giống như một lời thì thầm gọi tên tôi từ căn phòng không số, căn phòng của người phụ nữ mặc áo dài trắng từng đứng tựa ban công nhìn xuống đại lộ năm xưa.

Tôi siết chặt phiến đồng thau trong tay, các cạnh kim loại sắc lẹm cứa vào lớp da non rát buốt. Tôi buông chiếc máy khoan rút lõi nằm trơ trọi giữa vũng bùn xám xịt, quay lưng bước dứt khoát về phía hành lang tối om dẫn về căn hộ cuối cùng của tầng mười ba. Nơi đó, những mảnh vỡ lịch sử của gia đình tôi và nguồn gốc của cỗ máy chết chóc này đang đợi tôi bóc trần.

Chương khác

Xem thêm