Chung Cư 727 - Chương 10: Bùa Vàng 1972 Trên Cửa Phòng
Hành lang tầng mười ba hun hút chìm trong thứ ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm. Gió luồn qua những ô thông gió không còn chấn song, kéo theo hơi ẩm bốc lên…
Nội dung chương
Hành lang tầng mười ba hun hút chìm trong thứ ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm. Gió luồn qua những ô thông gió không còn chấn song, kéo theo hơi ẩm bốc lên từ các bức tường vôi vữa loang lổ rêu xanh. Dưới chân tôi, từng mảng vữa vụn lạo xạo sau mỗi bước nện của đôi giày bảo hộ. Mùi bùn khoan cắt hòa lẫn với mùi máu tanh nồng rỉ ra từ thanh dầm chịu lực ban nãy vẫn bám riết lấy khứu giác, đặc quánh và lợm giọng.
Tôi đút phiến đồng thau khắc mã số quân sự vào túi áo bảo hộ bên ngực trái. Tấm kim loại lạnh ngắt cộm lên sau lớp vải bạt dày, tỳ vào xương sườn tôi từng nhịp nhức buốt theo bước chân.
Căn phòng cuối cùng nằm nép mình ở góc khuất phía tây nam của tòa nhà, nơi giáp ranh giữa khối bê tông chính và khoảng không nhìn xuống ngã tư Trần Hưng Đạo - Nguyễn Tri Phương. Cánh cửa gỗ lim sẫm màu đã mất chốt khóa từ lâu, chỉ còn một thanh then cài han gỉ treo lủng lẳng trên khung bao nứt toác. Tôi đặt tay lên mép cửa, dùng vai đẩy nhẹ. Bản lề rít lên một tiếng khô khốc xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, bụi gỗ mục rơi lả tả xuống vạt áo.
Không gian bên trong căn phòng rộng chừng ba mươi mét vuông. Khác với những căn hộ khác đã bị cư dân cơi nới, đập thông hoặc xây thêm vách ngăn tạm bợ trong suốt bốn mươi năm qua, nơi này giữ nguyên kết cấu nguyên thủy của một phòng ngủ sĩ quan thời kỳ 1960. Nền nhà lát gạch bông hoa văn hình học màu xám đen, nhiều viên đã bong tróc để lộ lớp xi măng lót khô cằn như đất đồi mùa hạn. Khung cửa sổ trượt bằng thép hướng ra đại lộ đã mất sạch kính, chỉ còn khung sắt trơ trọi đón gió lộng từ sông thổi về.
Ở góc tường phía trong, một chiếc tủ âm tường bằng gỗ dán ép sát vào trụ bê tông góc nhà. Lớp ván ép mặt ngoài đã phồng rộp, nứt nẻ thành từng mảng lớn do ngấm nước mưa qua nhiều mùa gió chướng.
Tôi tiến lại gần chiếc tủ. Mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi, thứ mùi của gỗ mục phân hủy lâu năm trong bóng tối. Theo lời kể đứt quãng của ông nội tôi trong những ngày cuối đời ở viện dưỡng lão California, căn phòng này từng là nơi ở của người phụ nữ Việt Nam thường xuất hiện bên cạnh các sĩ quan công binh thuộc Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ. Ông gọi bà bằng một cái tên phát âm lơ lớ, nhưng chưa bao giờ nói rõ mối quan hệ giữa hai người. Ông chỉ dặn tôi rằng nếu một ngày nào đó chạm tay vào những khối bê tông của Building President, hãy tìm đến góc tường phía sau tủ áo của căn phòng góc tầng mười ba.
Tôi tháo chiếc búa tạ khỏi đai lưng, đặt tựa vào chân tường rồi rút thanh xà beng ngắn bọc cao su chống trượt. Mũi xà beng dẹt cắm phập vào khe hở giữa tấm ốp lưng tủ và vách tường bê tông.
Gỗ dán mục rữa vỡ vụn ra từng mảng như bìa các-tông ngâm nước. Tôi dùng lực cánh tay nạy mạnh, từng thớ gỗ giòn rụm bật ra, để lộ ra khoảng trống tối om phía sau. Vách tường ngăn này không xây bằng gạch thẻ đỏ thông thường mà được chèn bằng các khối gạch block rỗng ruột - loại vật liệu xây dựng do quân đội Mỹ đưa vào sử dụng đại trà trong các công trình cư xá quân sự đầu thập niên 1960.
Tôi rọi đèn pin gắn trên mũ bảo hộ vào hốc tường vừa lộ ra.
Ánh sáng trắng quét qua những mạng nhện bám đầy bụi đen và xác thạch sùng khô queo. Ở độ sâu khoảng ba mươi phân, lọt thỏm giữa hai gờ chịu lực của vách bê tông, một vật thể kim loại hình khối chữ nhật nằm im lìm dưới lớp bụi dày.
Tôi với tay vào trong. Lớp bụi bám ráp sần sùi dưới đầu ngón tay găng bảo hộ. Tôi nắm lấy quai xách kim loại, dùng sức kéo mạnh ra ngoài.
Đó là một hộp tiếp đạn đại liên M60 bằng thép cán nguội của quân đội Mỹ, sơn màu xanh ô-liu đã bong tróc gần hết, nhường chỗ cho những mảng gỉ sét màu nâu đỏ. Khóa kẹp bên hông hộp đạn bị một lớp sáp niêm phong màu xám xịt phủ kín, trên bề mặt sáp vẫn còn hằn rõ dấu ấn nổi của một biểu trưng quân sự hình khiên chắn.
Tôi dùng đầu nhọn của xà beng cạo sạch lớp sáp niêm đã khô cứng thành đá, sau đó dùng búa gõ nhẹ vào tai khóa. Khớp kim loại han gỉ phát ra tiếng cọt kẹt chói tai trước khi bật mở. Nắp hộp đạn bật lên, phả ra mùi dầu bảo quản vũ khí trộn lẫn mùi long não nồng gắt.
Bên trong hộp đạn không có đạn dược. Đáy hộp được lót bằng một lớp vải dù hoa văn rằn ri đã mục sợi. Nằm gọn giữa lớp vải dù là một chiếc túi nylon dán nhiệt kín miệng, bên trong chứa một mảnh giấy cứng gập đôi và một vật thể mỏng manh khác.
Tôi cẩn thận tháo găng tay bảo hộ, dùng ngón tay trần xé nhẹ mép túi nylon đã ngả sang màu vàng đục.
Vật thể rơi ra lòng bàn tay tôi là một tấm ảnh đen trắng khổ sáu nhân chín centimet, các mép ảnh cắt hình răng cưa theo phong cách tráng rọi phim thịnh hành vào thập niên 1960 và 1970. Bề mặt ảnh phủ một lớp bụi mờ, nhưng các chi tiết hình ảnh vẫn còn khá nguyên vẹn nhờ được bọc kín trong lớp nhựa bảo quản.
Tôi đưa tấm ảnh lại gần luồng ánh sáng hắt ra từ khung cửa sổ.
Bức ảnh chụp một đôi nam nữ đứng tựa vào lan can ban công của chính căn phòng này. Phía sau lưng họ là toàn cảnh đại lộ Trần Hưng Đạo trải dài về hướng trung tâm Sài Gòn, với những rặng xà cừ cổ thụ và những chiếc xe lam, xe hơi cổ chạy tí hon trên mặt đường. Góc ảnh bên phải lộ rõ hàng chữ số bằng mực đỏ dập từ máy ảnh: *AUG 1972*.
Người đàn ông trong ảnh mặc quân phục dã chiến của Lục quân Mỹ, ve áo gắn cấp hiệu Đại úy. Gương mặt người lính trẻ mang những đường nét góc cạnh, sống mũi cao thẳng và đôi mắt sâu thẳm - những nét đặc trưng của dòng máu pha trộn mà cha tôi, và chính bản thân tôi, thừa hưởng trọn vẹn.
Đó là Thomas - ông nội tôi thời trai trẻ, trước khi rời khỏi Việt Nam trong đợt rút quân cuối năm 1972.
Đứng bên cạnh Thomas là một phụ nữ Việt Nam dáng người mảnh mai. Bà mặc một chiếc áo dài lụa màu trắng, mái tóc đen nhánh buông xõa qua vai, một tay khẽ chạm vào thành lan can sắt, tay kia đặt hờ lên cánh tay áo quân phục của Thomas. Bà nghiêng đầu tựa nhẹ vào vai người đàn ông, gương mặt thanh tú toát lên vẻ e ấp, dịu dàng. Đôi mắt người phụ nữ nhìn thẳng vào ống kính máy ảnh, ánh mắt thăm thẳm mang một nỗi buồn câm lặng đến nao lòng.
Tim tôi đập mạnh từng hồi dồn dập. Bàn tay cầm mép ảnh run lên bần bật.
Suốt bao nhiêu năm lớn lên bên cạnh ông nội ở bang Washington, tôi chỉ biết đến bà nội là một phụ nữ da trắng gốc Đức ít nói. Chưa bao giờ ông nhắc đến một người phụ nữ Việt Nam nào trong những câu chuyện quá khứ, ngoại trừ những cơn ác mộng mê sảng lúc tuổi già về bóng áo dài trắng lướt qua hành lang tầng mười ba, về tiếng gõ cửa cào cấu từ đáy hầm kín. Tôi từng nghĩ người phụ nữ tự vẫn ấy chỉ là một nạn nhân chiến tranh vô danh, một linh hồn vướng víu trong cỗ máy trấn yểm phong thủy mà đơn vị công binh của ông đã dựng nên.
Nhưng người phụ nữ trong tấm ảnh này đang tựa vào vai ông. Cử chỉ ấy không phải là sự quen biết xã giao giữa một sĩ quan đồn trú và một người dân bản địa. Đó là sự gắn kết sâu kín của một đôi tình nhân.
Gió từ cửa sổ thốc mạnh vào phòng, thổi tung những mảnh vôi vữa vụn dưới chân. Tôi lật mặt sau của tấm ảnh lên.
Lớp giấy ảnh phía sau đã ố vàng loang lổ. Dọc theo mép trái của tấm ảnh là một vệt màu nâu sẫm khô khốc, bám chặt vào thớ giấy như một lớp vảy rỉ sét - dấu vết của máu tươi đã đông cứng và biến chất qua nửa thế kỷ.
Nằm chếch ở giữa mặt sau là một dòng chữ viết tay bằng mực tím, nét bút mềm mại nhưng run rẩy, viết bằng tiếng Việt:
*Hẹn gặp lại nơi đáy móng, Thomas.*
Bên dưới dòng chữ tím ấy, đè lên một phần vệt máu khô, là một con dấu tròn bằng mực đỏ tươi gần như không phai mờ theo thời gian. Tôi dí sát mắt vào con dấu, đọc từng ký tự được khắc rõ ràng bằng tiếng Anh:
*MILITARY ASSISTANCE COMMAND, VIETNAM - STUDIES AND OBSERVATIONS GROUP (MACV-SOG)* *CLASSIFIED - PROJECT FOUNDATION - 1972*
Chữ ký nháy của một sĩ quan chỉ huy nằm đè ngang qua con dấu, bên cạnh là một dãy số hiệu hồ sơ mật bắt đầu bằng các chữ cái *PF-727*.
Hơi lạnh từ tấm ảnh truyền qua đầu ngón tay xộc thẳng vào sống lưng tôi.
Dòng chữ viết tay không phải là lời từ biệt tuyệt vọng của một người phụ nữ bị bỏ rơi trước ngày quân đội Mỹ rút quân. Đó là một lời hẹn ước. Một lời hẹn ước rợn người hướng về "đáy móng" - nơi sâu nhất của tòa nhà mười ba tầng này, nơi mà hệ thống kim tự tháp ngược đang chúc đầu nhọn cắm thẳng xuống.
Và con dấu của MACV-SOG. Đơn vị tác chiến đặc biệt và nghiên cứu chiến lược bí mật của quân đội Mỹ không đóng dấu lên một bức ảnh kỷ niệm tình cảm đơn thuần. Tấm ảnh này là một phần của hồ sơ nghiệp vụ mang tên "Project Foundation" - Dự án Móng.
Cái chết của người phụ nữ trên tầng mười ba vào đêm cuối năm 1972 không phải là một vụ tự vẫn vì tình.
Đó là một mắt xích đã được lên kế hoạch, một sự hiến tế có chủ đích nằm trong quy trình thiết lập cỗ máy phong thủy trấn yểm đô thị mà ông nội tôi và các sĩ quan cấp trên của ông tham gia vận hành. Ông nội tôi không rời bỏ nơi này trong sự vô can. Ông là người trực tiếp dự phần vào cái chết của bà, neo giữ linh hồn bà vào khối bê tông dầm chuyển tầng mười ba để tạo thành đỉnh đáy cho kim tự tháp ngược, biến sự phẫn uất của bà thành mũi giáo đè bẹp thứ gì đó đang bị giam cầm dưới tầng hầm.
"Hẹn gặp lại nơi đáy móng..."
Tôi lẩm bẩm đọc lại câu nói ấy, cổ họng nghẹn đắng. Bà ta biết mình sẽ chết. Bà ta biết máu của mình sẽ đổ xuống sàn bê tông này, và bà ta hẹn gặp lại ông nội tôi ở nơi tận cùng của tòa nhà. Nhưng ông nội tôi đã rút về Mỹ, mang theo bí mật ấy chôn sâu suốt bốn mươi tư năm cho đến tận lúc lâm chung. Giờ đây, người đứng ở căn phòng này, mang dòng máu của Thomas và mang chiếc búa phá dỡ công trình đến để bóc trần từng khối bê tông, lại chính là tôi.
Dưới sân chung cư, tiếng động cơ xe tải hạng nặng bắt đầu gầm rú xé tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm.
Tiếng còi hơi bấm ba hồi dài báo hiệu đội thợ phá dỡ ca sáng và đoàn xe chở thiết bị chuyên dụng của công ty đã tiến vào cổng chính số 727 Trần Hưng Đạo. Tiếng sắt thép va đập leng keng từ giàn giáo ngoài mặt tiền vọng lên tầng cao, hòa lẫn với tiếng loa pin chỉ huy thi công lẹt xẹt bên dưới:
"Toàn đội một tập trung khu vực giàn giáo tầng mười hai! Chuẩn bị máy nén khí và dây cáp neo dầm! Anh Hải tổ trưởng có trên tầng mười ba thì bắt đầu thả dây an toàn xuống!"
Tiếng gọi tên tôi vọng qua các ống gen thông tầng, kéo tôi trở về với thực tại ngổn ngang của một công trường phá dỡ cấp độ D nguy hiểm bậc nhất Sài Gòn.
Tôi hít một hơi thật sâu, nén chặt cơn chấn động đang cuộn trào trong lồng ngực. Tôi nhét cẩn thận tấm ảnh ố vàng vào chiếc túi nylon chống nước, cài chặt cúc túi áo bảo hộ bên ngực phải, nằm đối xứng với phiến đồng thau mang bùa chú bên ngực trái. Chiếc hộp đạn bằng sắt được tôi đẩy sâu trở lại vào hốc tường gạch rỗng, lấy một mảng ván ép mục che tạm lại.
Tầng mười ba đã bị đánh sập một góc phong ấn. Vết nứt trên thanh dầm chịu lực đang rỉ máu đen và áp lực từ mũi giáo ngược đã bắt đầu dịch chuyển. Tôi không thể dừng lại ở đây để gặm nhấm sự thật tàn nhẫn về dòng họ mình.
Cỗ máy trấn yểm này được xây dựng từ trên xuống dưới, đè nặng từ tầng mười ba xuống tận đáy móng. Muốn vô hiệu hóa nó, muốn biết thực sự điều gì đang đợi ông nội tôi - hay chính tôi - dưới lòng đất Chợ Lớn, tôi buộc phải phá vỡ từng tầng cấu trúc bê tông này theo đúng trình tự kỹ thuật.
Tôi cúi xuống nhặt thanh xà beng và chiếc búa tạ nặng mười hai cân lên tay. Trọng lượng kim loại quen thuộc ghì chặt lấy các khớp ngón tay thô ráp của tôi, mang lại cảm giác thực tế và tỉnh táo.
Bước ra khỏi căn phòng không số, tôi quay lưng lại khoảng tối hun hút của hành lang tầng mười ba, sải bước về phía cầu thang bộ dẫn xuống tầng mười hai. Tiếng máy nén khí bên dưới bắt đầu rền vang qua các sàn bê tông rung lắc, báo hiệu một ngày làm việc đầy hiểm họa trên những mép sàn chênh vênh đang đón đợi.