Chung Cư 727 - Chương 12: Tiếng Gõ Cửa Thâu Đêm Từ Tầng Hầm
Gió từ phía kênh Tàu Hủ bốc lên mùi bùn sình ngai ngái, xộc thẳng vào khúc cua dưới chân cầu chữ Y. Nắng trưa rọi xiên qua những mái bạt rách tả tơi của…
Nội dung chương
Gió từ phía kênh Tàu Hủ bốc lên mùi bùn sình ngai ngái, xộc thẳng vào khúc cua dưới chân cầu chữ Y. Nắng trưa rọi xiên qua những mái bạt rách tả tơi của dãy quán cóc nép mình bên mép nước, tạo thành những vệt sáng nhờ nhờ trên nền xi măng ướt nhẫm. Sau khi nhóm thợ bỏ lại công trường hoang tàn ở số 727 đường Trần Hưng Đạo, tôi lấy chiếc xe máy cũ chạy thẳng về phía bờ kênh theo chỉ dẫn của người bảo vệ tổ dân phố.
Quán nước của bà Năm nằm thụt sâu trong con hẻm nhỏ thuộc Phường 1, nép dưới gầm cầu sắt đặc nghẹt bụi than và tiếng gầm rú của xe cộ qua lại. Đó là một túp lều tạm bợ dựng bằng tôn cũ và ván ép, xung quanh ngổn ngang mấy chiếc ghế nhựa cáu bẩn. Tôi dừng xe bên lề đường, tháo mũ bảo hộ còn bám đầy bụi vôi trắng xóa của dầm tầng mười hai, bước vào trong bóng râm chật chội.
Bà cụ ngồi trên chiếc ghế gỗ thấp phía sau quầy nước bằng nhôm gỉ. Mái tóc bà bạc trắng xơ xác, búi lỏng lẻo sau gáy, hai bàn tay nổi đầy gân xanh đang chậm rãi vắt từng trái tắc vào chiếc ca nhựa cáu bẩn. Khuôn mặt bà chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm của người đã đi qua trọn vẹn những năm tháng tao loạn và khốn khó của đất Chợ Lớn. Khi nhìn thấy bộ quần áo bảo hộ dính đầy bụi xám và đôi ủng da chuyên dụng của tôi, động tác vắt tắc của bà bỗng chốc khựng lại.
"Uống gì hả chú?" Giọng bà khàn đặc, khô khốc như tiếng cọ xát của hai mảnh tre già.
"Bà cho con một ly trà đá." Tôi kéo chiếc ghế nhựa ngồi đối diện với bà, cố giữ giọng mình thật bình tĩnh. "Bà Năm có phải là y tá Nguyễn Thị Năm, trước đây từng làm việc ở trạm y tế tiếp quản chung cư 727 hồi tháng Năm năm bảy lăm không?"
Ngón tay gầy guộc của bà run lên một nhịp. Nước cốt tắc trào ra khỏi miệng ca, rỏ từng giọt chua ngắt xuống mặt bàn gỗ mục. Bà Năm từ từ ngước mắt lên nhìn tôi. Đôi mắt đục ngầu vì chứng đục thủy tinh thể của người già quét qua khuôn mặt tôi, dừng lại rất lâu ở sống mũi cao và gò má góc cạnh mang nét lai Tây rõ rệt. Đáy mắt bà lóe lên một nét kinh hãi tột cùng, hai bờ môi mỏng mím chặt lại, run rẩy bần bật.
"Cậu... cậu là ai? Ai chỉ cậu tới đây?"
"Con là thợ chỉ huy tổ phá dỡ đang thi công ở số 727." Tôi trả lời thành thật, đưa bàn tay thô ráp đầy những vết xước rỉ máu do vụ sập giàn giáo lúc sáng đặt lên bàn. "Công trình đang gặp sự cố nghiêm trọng. Nhóm thợ của con vừa bỏ chạy hết vì những chuyện kỳ quái xảy ra trên dầm tầng mười hai. Con tìm đến bà không có ác ý, con chỉ muốn hỏi về những gì từng xảy ra trong tòa nhà đó vào những ngày đầu sau chiến tranh."
Bà Năm đặt chiếc ca nhựa xuống bàn một cách nặng nề. Bà quay mặt nhìn ra dòng kênh Tàu Hủ đen ngòm, nơi những mảng lục bình đang trôi lững lờ theo con nước ròng. Tiếng còi xe trên cầu chữ Y dội xuống mặt bạt rung bần bật từng chập.
"Phá dỡ à? Cuối cùng thành phố cũng quyết định đập bỏ cái khối bê tông quỷ ám đó rồi sao?" Bà cười, một nụ cười méo mó không chút sinh khí. "Mấy chục năm nay, người ta cứ nghĩ nó đứng vững được là nhờ xi măng Mỹ tốt, sắt thép Mỹ dày. Họ đâu biết bên dưới lớp vôi vữa đó chôn giấu những thứ gì. Cậu trẻ à, nếu cậu còn thương mạng sống của mình và đám thợ, thì mau rút lui đi. Đừng đụng vào tòa nhà đó nữa. Càng đào xới, cái miệng hầm bên dưới càng mở rộng ra thôi."
"Con không thể dừng lại được, thưa bà." Tôi hít một hơi sâu, luồn tay vào túi áo bảo hộ phía ngực áo bên phải.
Tôi rút chiếc túi nylon chống nước ra, cẩn thận lấy tấm ảnh đen trắng đã ố vàng mép viền đặt lên mặt bàn. Ngón tay tôi khẽ run khi đẩy tấm ảnh về phía người đàn bà đã sống qua nửa thế kỷ thăng trầm của khu cư xá.
Bức ảnh chụp một sĩ quan Mỹ đứng cạnh người phụ nữ mặc áo dài trắng có đôi mắt u uất, bên dưới mang chữ ký của Thomas cùng con dấu tuyệt mật của đơn vị MACV-SOG năm 1972.
Bà Năm cúi xuống nhìn tấm ảnh. Khi ánh mắt bà chạm vào gương mặt của người phụ nữ trong bức hình, toàn thân bà co rúm lại. Chiếc khăn lau bàn rơi khỏi tay bà rơi xuống đất. Hai bàn tay gầy gò của bà chụp lấy mép bàn gỗ để giữ thăng bằng, hơi thở trở nên dồn dập, đứt quãng như thể không khí xung quanh vừa bị rút cạn.
"Cô ấy... Trời ơi... Là cô Lệ..." Bà Năm lẩm bẩm, giọng nói run rẩy đến lạc đi. "Cậu lấy bức hình này ở đâu ra? Sao cậu lại có hình của cô ấy?"
"Bức ảnh này được giấu sau hốc tường căn phòng không số trên tầng mười ba." Tôi nhìn thẳng vào mắt bà Năm, gằn từng tiếng một. "Người đàn ông đứng cạnh cô ấy là Thomas, ông nội của con. Ông ấy vừa qua đời ở Mỹ, để lại lời trăn trối về một món nợ máu ở tòa nhà mười ba tầng này. Bà biết cô Lệ đúng không? Đêm cuối năm 1972, khi quân đội Mỹ rút đi, chuyện gì đã thực sự xảy ra với bà ấy trên tầng mười ba?"
Bà Năm đưa bàn tay run rẩy lên vuốt ngực, cố gắng đè nén cơn run rẩy đang truyền khắp cơ thể già nua. Quán cóc ngột ngạt đến bức bối. Mùi khói xe xộc vào hòa lẫn với mùi ẩm mốc của bùn đáy sông.
"Đêm đó... làm sao tôi quên được..." Bà Năm bắt đầu kể, ánh mắt đờ đẫn nhìn xoáy vào tấm ảnh cũ, giọng bà chùng xuống thăm thẳm. "Hồi đó tôi chưa chuyển về ở hẳn trong chung cư, nhưng tôi làm việc cho một phòng khám tư nhân ngay góc đường Đồng Khánh, cách Building President chỉ một quãng ngắn. Đêm đó máy bay trực thăng gầm rú rách toạc bầu trời Sài Gòn. Người Mỹ bắt đầu rút những đơn vị cố vấn cuối cùng. Tiếng cánh quạt xé gió bần bật trên nóc tòa nhà, đèn pha quét loang loáng qua các khung cửa sổ."
Bà Năm ngừng lại, nuốt một ngụm nước bọt khan khốc. Ký ức kinh hoàng từ hơn bốn mươi năm trước ùa về làm các nếp nhăn trên trán bà giật giật liên hồi.
"Khoảng gần nửa đêm, khi chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh từ sân thượng tầng mười ba mang theo tiếng gầm chói tai, một tiếng thét xé toạc màn đêm vang lên. Đó là tiếng thét của một người đàn bà, the the, tuyệt vọng và căm hận đến cùng cực. Tiếng thét đó vang dội khắp cả con đường Trần Hưng Đạo, át cả tiếng động cơ phản lực. Tôi đứng từ ban công phòng khám nhìn sang, thấy một bóng áo dài trắng bay lơ lửng giữa khoảng không tầng cao nhất."
Tôi nín thở, hai nắm đấm siết chặt lại trên mặt bàn:
"Bà ấy nhảy lầu tự vẫn sao bà?"
"Ai cũng nghĩ là cô ấy gieo mình xuống mặt đường tự vẫn vì bị người tình bỏ rơi." Bà Năm lắc đầu quầy quậy, giọng bà run lên từng chặp. "Cả phố Chợ Lớn lúc đó đều đồn ầm lên như vậy. Người ta bảo gái Việt mê sĩ quan Mỹ rồi bị ruồng bỏ nên quẫn trí. Nhưng sự thật không diễn ra theo cách người ta thấy bên ngoài. Cô ấy không hề rơi xuống vỉa hè hay mặt đường lớn. Người ta không tìm thấy bất kỳ cái xác nào rớt xuống trước sảnh chính của Building President cả."
Tôi cau mày, ngắt lời bà:
"Bà nói sao? Nhảy từ tầng mười ba xuống mà không rơi xuống đường?"
"Cô ấy lao thẳng vào khoảng không giếng trời ở giữa khối nhà." Ánh mắt bà Năm dại đi, nhìn trừng trừng vào khoảng không gian mù mịt khói bụi dưới gầm cầu. "Tòa nhà đó được xây theo hình chữ U khép kín, ở chính giữa có một trục thông gió khổng lồ chạy xuyên suốt từ tầng mười ba thẳng đứng xuống chân móng. Cô ấy lao mình vào đúng cái miệng trục thông gió đó. Tiếng thân thể va đập vào các thanh sắt giằng bên trong vang lên những âm thanh nghẹn ứ, rồi im bặt."
Lưng tôi ớn lạnh từng cơn. Trục thông gió trung tâm. Đó chính là khoảng giếng trời hun hút mà sáng nay tôi đã nhìn thấy khi đứng trên mép sàn gãy gập của tầng mười hai. Một đường ống thông tầng thẳng đứng bằng bê tông dày, tối tăm và sâu hoắm.
"Sau đó thì sao hả bà?" Tôi gặng hỏi dồn dập. "Sau cú rơi đó, người ta có tìm thấy thi thể cô Lệ không?"
Bà Năm hớp một ngụm trà nguội ngắt, lồng ngực bà phập phồng run rẩy:
"Đến tận tháng Năm năm bảy lăm, khi quân giải phóng vào tiếp quản Sài Gòn, tôi được phân công theo đoàn y tế và tự vệ vào tiếp quản tòa nhà để làm nơi tạm trú cho cán bộ công nhân viên. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi là khử trùng và dọn dẹp vệ sinh môi trường cho toàn bộ năm trăm ba mươi căn phòng đang bị bỏ hoang, nồng nặc mùi ẩm mốc và xú uế."
Bà nghiêng người tới sát tôi, hạ thấp giọng xuống mức thì thầm bí mật:
"Khi đội vệ sinh dùng đèn pin công suất lớn soi xuống đáy của trục thông gió ở tầng trệt, tất cả chúng tôi đều chết lặng. Rác rưởi, bao cát và xác chim chuột tích tụ ở đó suốt mấy năm ròng, nhưng tuyệt nhiên không hề có bộ xương hay thi thể nào của người phụ nữ rơi xuống năm bảy hai. Cú rơi từ độ cao hơn bốn mươi mét xuống đáy bê tông chắc chắn phải làm nát vụn xương thịt, thế nhưng ở đáy giếng không có lấy một mẩu xương thừa."
"Một người rơi từ tầng cao nhất xuống mà biến mất không dấu vết sao?" Tôi tròn mắt, cảm nhận một luồng khí lạnh buốt đang bò dọc sống lưng.
"Không biến mất hoàn toàn." Bà Năm run rẩy nắm lấy cánh tay tôi, những ngón tay gầy guộc như gọng kìm siết chặt lớp vải bảo hộ. "Chỉ còn lại máu. Một vệt máu khô đen kịt, rộng bằng cả thân người, kéo lê từ đáy trục thông gió đi ra. Vệt máu đó không dẫn ra ngoài sân, mà nó ngoằn ngoèo trườn dọc theo hành lang tầng trệt, dẫn thẳng tới cánh cửa sắt nặng nề dẫn xuống tầng hầm."
Hơi thở tôi nghẹn lại nơi cổ họng. Tầng hầm. Nơi mà ông nội tôi từng cảnh báo, nơi mà dòng chữ sau bức ảnh nhắc đến: *đáy móng*.
"Cánh cửa tầng hầm lúc đó ra sao hả bà?"
"Cánh cửa sắt lá dày cộm đó bị khóa bằng ba ổ khóa xích lớn của công binh Mỹ." Bà Năm nhớ lại, nét mặt vẫn còn vẹn nguyên nỗi bàng hoàng của bốn mươi năm về trước. "Vệt máu lê đến chân cánh cửa sắt thì biến mất, chui lọt qua khe hở phía dưới mép cửa để chảy tọt vào bên trong bóng tối của tầng hầm. Khi anh đội trưởng tự vệ định dùng búa tạ và xà beng để phá khóa xích xông vào kiểm tra, thì một nhóm sĩ quan quân đội thuộc ban tiếp quản thành phố tức tốc ập tới. Họ mang theo lệnh khẩn cấp từ cấp trên, nghiêm cấm bất kỳ ai được phép mở cánh cửa đó ra."
Bà Năm nuốt khan một cái rồi nói tiếp:
"Ngay trong đêm đó, quân đội đã điều một xe tải chở xi măng chuyên dụng và thợ hồ tới. Họ không thèm mở khóa ra xem bên trong có gì, mà dùng gạch đặc và bê tông mác cao trát kín mít toàn bộ cánh cửa sắt tầng hầm. Họ niêm phong vĩnh viễn lối đi đó lại bằng một bức tường dày gần nửa mét, rồi vẽ con dấu đỏ đè lên trên. Suốt từ năm bảy lăm cho đến tận bây giờ, không một người dân nào trong chung cư từng bước chân xuống được tầng hầm đó một lần nào nữa."
Tiếng gió rít qua gầm cầu chữ Y gầm rú nghe như tiếng rên rỉ từ lòng đất dội lên.
Tôi ngồi chết lặng giữa quán cóc ngột ngạt. Từng mảnh ghép hỗn độn trong đầu tôi bắt đầu khớp lại với nhau thành một bức tranh tàn khốc. Cú rơi của người phụ nữ mang tên Lệ vào đêm cuối năm 1972 không phải là một tai nạn hay sự bộc phát trong cơn quẫn trí. Bà ta đã lao mình vào chính xác trục thông gió trung tâm của tòa nhà mười ba tầng.
Một cú gieo mình được tính toán chuẩn xác theo kết cấu hình học của công trình.
Trục thông gió đó chính là trục rỗng trung tâm nối liền đỉnh tháp với phần đáy móng sâu thẳm. Thi thể của bà ta rơi vào lòng trục, biến thành một vật tế sống dẫn thẳng luồng oán khí và huyết nhục từ tầng mười ba cắm phập xuống tầng hầm bên dưới.
Và vệt máu kéo lê trên mặt sàn tầng trệt chính là bằng chứng cho thấy, sau khi rơi từ tầng cao nhất xuống, thứ gì đó vẫn chưa chết hẳn. Nó đã tự bò, tự kéo lê cơ thể dập nát của mình qua khe cửa sắt để chui vào tầng hầm, hoàn tất bước cuối cùng của nghi thức phong ấn trước khi quân đội Mỹ rút hoàn toàn khỏi Sài Gòn.
"Cậu Hải..." Tiếng bà Năm gọi khẽ kéo tôi giật mình thoát khỏi dòng suy nghĩ đặc quánh. Bà nhìn tôi bằng ánh mắt ái ngại lẫn xót xa. "Mấy chục năm sống ở đó, nửa đêm nào người ta cũng nghe thấy tiếng cào móng tay sột soạt vọng lên từ các ống gen thông tầng. Tiếng cào rách cả tường vôi, bắt đầu từ tầng hầm rồi chạy ngược lên tầng mười ba. Người ta cứ bảo do chuột cống, nhưng chuột nào cào được qua lớp bê tông cốt thép dày cả tấc? Tòa nhà đó đang sống, cậu hiểu không? Nó đang thở bằng cái trục thông gió đó."
Tôi cúi xuống nhìn hai bàn tay thô ráp của mình. Lớp bụi xi măng xám xịt bám chặt trong các kẽ móng tay như một thứ dấu vết không thể gột rửa. Những lời kể của bà Năm đã giải thích vì sao sáng nay lưỡi cưa đĩa tầng mười hai lại bốc cháy và dầm bê tông lại rỉ ra chất dịch đen hôi thối.
Cỗ máy trấn yểm này không đơn thuần là những khối đá vô tri.
Nó là một hệ thống dẫn truyền sinh khí và tử khí khép kín, trong đó trục thông gió trung tâm đóng vai trò như một mạch máu chính, nối liền mũi nhọn của kim tự tháp ngược trên tầng mười ba với cái miệng huyệt bị niêm phong dưới đáy móng. Mỗi tầng lầu, mỗi căn phòng trong tổng số năm trăm ba mươi căn hộ đều là những mắt xích giữ cho dòng năng lượng đen tối đó không bị tràn ra ngoài đô thị Chợ Lớn.
"Cảm ơn bà Năm." Tôi khẽ nói, với tay cầm lại tấm ảnh đen trắng, cẩn thận nhét lại vào túi áo bảo hộ bên ngực. "Những điều bà kể hôm nay đã giúp con hiểu rõ thứ mình đang phải đối mặt."
Bà Năm vội vã nắm lấy cổ tay tôi, ánh mắt đục ngầu lộ vẻ van nài:
"Cậu đừng quay lại đó nữa! Bỏ đi cậu ơi! Tiền bạc gì tầm này nữa. Đất Sài Gòn thiếu gì công trình cần phá, sao cứ phải chui đầu vào cái ổ quỷ đó làm gì? Cậu mang khuôn mặt giống người đàn ông trong ảnh lắm, nếu cậu xuống dưới đó, cô ấy sẽ nhận ra cậu..."
"Chính vì con mang dòng máu của ông ấy, nên con càng phải kết thúc chuyện này." Tôi đứng dậy, rút mấy tờ tiền đặt lên mặt bàn nhôm, giọng nói đanh lại đầy kiên quyết. "Nếu không phá vỡ cỗ máy này theo đúng trật tự của nó, toàn bộ khối bê tông mục nát đó sẽ sụp đổ bất thình lình, và thứ bị giam bên dưới đáy móng sẽ trồi lên giữa lòng thành phố."
Tôi quay lưng bước ra khỏi quán cóc, để lại người phụ nữ già nua ngồi trơ trọi bên bờ kênh ngập rác. Nắng trưa gay gắt nung nóng mặt đường nhựa dẫn về phía đường Trần Hưng Đạo.
Trong đầu tôi lúc này, hình ảnh trục thông gió trung tâm hiện lên rõ mồn một như một vết thương hở sâu hoắm của tòa nhà. Người phụ nữ áo trắng đã rơi vào lòng cái giếng rỗng đó, và máu của bà ta đã chảy xuống tầng hầm bị niêm phong.
Tôi chạm tay vào túi áo bảo hộ bên trái, nơi cuốn sổ tay bọc da cũ kỹ tìm thấy trên tầng mười ba đang cọ xát vào lồng ngực mình. Bên trong cuốn sổ đó chứa đầy những ký hiệu bản vẽ quân sự và sơ đồ kiến trúc phức tạp mà tôi chưa kịp nghiên cứu kỹ. Lời kể của bà Năm về trục thông gió và dòng máu dẫn đường đã thắp lên trong tôi một manh mối sống còn.
Tôi vặn ga xe máy, lao vút đi giữa dòng xe cộ hối hả của buổi trưa Sài Gòn. Tôi cần một căn phòng kín gió, một ngọn đèn kỹ thuật đủ sáng và trọn vẹn sự tập trung để mở cuốn sổ da đó ra, giải mã từng đường nét phong thủy đô thị mà quân đội Mỹ đã tỉ mỉ vạch ra trước khi vùi lấp sự thật dưới lớp bê tông nửa thế kỷ.