Chung Cư 727 - Chương 15: Vết Máu Trên Bậc Thang Tầng 11
Chiếc ủng cao su dính bết bùn đất của tôi nện xuống từng bậc thang thoát hiểm dẫn từ tầng tám xuống tầng bảy. Tiếng bước chân khô khốc dội lại giữa bốn…
Nội dung chương
Chiếc ủng cao su dính bết bùn đất của tôi nện xuống từng bậc thang thoát hiểm dẫn từ tầng tám xuống tầng bảy. Tiếng bước chân khô khốc dội lại giữa bốn bề vách tường bê tông bong tróc từng mảng lớn, để lộ những đường gân thép hoen gỉ đỏ quạch. Hành lang tầng bảy tối đen như một đường hầm bỏ hoang, nồng nặc mùi ẩm mốc của vôi tường mục rữa, mùi chuột chết phân hủy lâu ngày và thứ mùi hăng nồng của rêu xanh bám dọc theo các khe nứt chân tường.
Tôi dừng lại ở khoảng đệm chân cầu thang, hạ chiếc bao tải đựng đồ nghề nặng trĩu xuống nền gạch tàu đã nứt toác.
Đầu sợi cáp đồng bọc lớp nhựa màu đỏ sẫm - thứ mà tôi bám theo từ tâm giếng trời - bò ngoằn ngoèo trên trần hành lang. Lớp vỏ bọc bằng cao su tổng hợp của nó đã chai cứng sau hơn bốn mươi năm chịu đựng nắng mưa nhiệt đới, nứt nẻ thành từng vệt hình vảy rắn. Nó không chạy thẳng xuống hệ thống tiếp địa ngầm ở tầng hầm theo quy chuẩn xây dựng thông thường. Khi vươn tới khoảng giữa hành lang tầng bảy, ngay tại vị trí đối diện trực tiếp với tim trục giếng trời, sợi cáp bẻ ngoặt một góc vuông dứt khoát rồi cắm phập vào một bức tường gạch đặc dày cộm.
Bức tường này nằm án ngữ ngay vị trí lẽ ra phải là cửa thông gió của tầng bảy.
Tôi rút từ túi áo ngực ra bản vẽ mặt bằng kiến trúc do kỹ sư Nguyễn Tấn Đời lập năm 1960. Tấm giấy can đã ố vàng, mép giấy quăn queo vì hơi ẩm. Dưới ánh sáng trắng gắt của chiếc đèn pin công nghiệp gắn trên mũ bảo hộ, tôi rà ngón tay theo từng nét mực kỹ thuật. Trên bản thiết kế gốc của tòa nhà Building President, khu vực này hoàn toàn là một khoảng không gian mở. Kiến trúc sư người Pháp từng tính toán kỹ lưỡng hướng gió từ sông Sài Gòn thổi qua đại lộ Trần Hưng Đạo, xuyên qua hành lang tầng bảy để làm mát toàn bộ khối nhà trước khi thoát ra giếng trời trung tâm. Không có bất cứ bức tường chịu lực hay vách ngăn nào được phép tồn tại ở đây. Bất kỳ khối bê tông nào đặt vào vị trí này đều làm tắc nghẽn luồng lưu thông không khí, đồng thời cản trở việc dựng hệ thống giàn giáo bên trong để tháo dỡ các tấm đan bê tông theo phương án mà tôi đã vạch ra.
Thế nhưng ngay trước mắt tôi, một khối tường gạch đồ sộ sừng sững bít kín lối đi.
Bức tường cao gần ba mét, rộng khoảng hai mét rưỡi, ăn sâu từ trần bê tông cắm thẳng xuống mặt sàn chịu lực. Bề mặt của nó không trát phẳng như các mảng tường khác trong khu căn hộ. Người ta dùng vữa tam hợp thô ráp phủ lên một lớp rất dày, bên trên quét vôi xám xịt nhưng rêu mốc đen sì đã phủ kín gần hết. Tại điểm sợi cáp đồng đâm xuyên vào khối gạch, lớp vữa lồi ra thành một ụ tròn kỳ dị, trông giống như một vết sẹo lồi trên da thịt người sống.
Gió từ lòng giếng trời phía sau lưng tôi vẫn rít lên từng hồi qua các thanh giằng kim loại. Tiếng rên rỉ trầm đục mà tôi nghe thấy lúc ở tầng tám vọng ra từ chính tâm khối tường này, mỗi lúc một rõ ràng hơn. Tiếng động phát ra đều đặn theo từng nhịp, hệt như một luồng hơi nén bị bóp nghẹt đang tìm cách thoát ra ngoài qua các kẽ gạch nung.
Tôi kéo khóa chiếc bao tải bạt, lấy ra máy đục cầm tay Bosch công suất lớn cùng một cây búa tạ nặng năm ký với cán bằng gỗ nghiến chắc nịch. Dây điện nguồn tạm bợ rải dọc theo hành lang phát ra tiếng vo ve nho nhỏ khi dòng điện chạy qua máy biến áp đặt ở chiếu nghỉ tầng sáu. Tôi kéo chiếc khẩu trang phòng độc than hoạt tính trùm kín mũi miệng, siết chặt hai quai cao su sau gáy. Mùi cao su mới và mùi bụi bẩn công trường tức thì chặn bớt thứ không khí oi nồng, khó thở của hành lang hoang phế.
Tôi nắm chặt cán búa tạ bằng cả hai bàn tay bọc găng bảo hộ dày dặn. Bàn chân tôi trụ vững trên nền gạch lồi lõm, đầu gối hơi chùng xuống để lấy trọng tâm.
Cú vung búa đầu tiên giáng mạnh vào mảng tường xám.
*Uỳnh!*
Một tiếng nổ đục ngầu vang lên, chấn động chạy dọc từ cán búa truyền thẳng qua xương cổ tay tôi, làm tê dại các khớp ngón. Mũi búa thép dội ngược lại một lực rất mạnh. Một mảng vữa tam hợp dày bằng bàn tay bong ra, rơi xuống nền gạch vỡ vụn thành đống bột xám khô khốc. Phía sau lớp vữa xốp ẩm mốc lộ ra lớp gạch thẻ màu đỏ thẫm.
Tôi quỳ một chân xuống, soi đèn pin vào vết vỡ. Đây là loại gạch thẻ đặc kích thước nhỏ, nung thủ công bằng lò củi truyền thống của vùng Lái Thiêu từ đầu thập niên sáu mươi. Từng viên gạch được xếp khít khao vào nhau, các mạch vữa mỏng dính và cứng quánh như đá hoa cương. Loại vữa liên kết này chứa nhiều bột đá và mật mía, kỹ thuật xây dựng đặc trưng của những công trình kiến trúc thời trước, tạo ra một khối liên kết vô cùng bền vững trước tác động cơ học.
Tôi hít một hơi sâu qua lớp phin lọc của khẩu trang, vung búa giáng tiếp ba nhát liên hoàn vào đúng một điểm trên mạch vữa.
*Uỳnh! Uỳnh! Uỳnh!*
Bụi vôi mù mịt bốc lên, đặc quánh quấn lấy quầng sáng đèn pin. Những viên gạch thẻ đầu tiên bắt đầu nứt toác, các mảnh vỡ vụn văng tung tóe xuống ủng cao su của tôi. Mùi vôi chết tích tụ nửa thế kỷ bị xé toạc, xộc ra ngoài với thứ hơi ẩm lợ lợ, ngai ngái, gây cảm giác buồn nôn ran ran nơi cuống họng.
Sau mười phút đập phá liên tục, tôi tạo ra được một khoảng hổng rộng chừng hai gang tay trên bề mặt bức tường. Khối tường này dày hơn tôi dự tính rất nhiều. Nó gồm ba lớp gạch thẻ đặc ken dày, lớp nọ khóa chặt vào lớp kia theo kỹ thuật xây dựng quân sự kiên cố.
Tôi đặt cây búa tạ sang một bên, với lấy chiếc máy đục bê tông. Đôi găng tay của tôi đã ướt đẫm mồ hôi từ bên trong. Tôi bấm cò máy đục. Tiếng động cơ chổi than gầm lên inh ỏi giữa hành lang vắng ngắt, mũi đục thép tôi sắc nhọn bắt đầu đâm thấu vào khe nứt giữa hai hàng gạch, rung bần bật trên tay tôi.
Rung chấn của máy đục lan truyền khắp mảng tường. Từng viên gạch thẻ vỡ vụn ra dưới lực đập liên hồi. Tôi ấn mạnh hai vai về phía trước, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào mũi đục để bẩy các mảng gạch liên kết ra khỏi khối xây. Khi mũi đục thép xuyên qua lớp gạch thứ ba, một tiếng *khục* khô khốc vang lên. Đầu mũi đục hẫng đi một đoạn, trượt sâu vào khoảng không phía sau lớp gạch.
Bức tường này rỗng ruột ở tâm.
Tôi lập tức buông cò máy, tiếng gầm rú của động cơ tắt lịm, trả lại sự tĩnh lặng nặng nề cho tầng bảy. Tiếng giọt nước rỉ tí tách từ trần nhà xuống vũng xà bần dưới chân nghe rõ mồn một.
Tôi dùng mũi xà beng cạy nốt những viên gạch nứt vỡ xung quanh điểm hổng. Bụi gạch đỏ bám một lớp dày trên áo khoác kaki và ống kính bảo hộ của tôi. Khi mảng gạch thẻ cuối cùng rơi xuống sàn, một hốc tường bí mật rộng khoảng sáu mươi phân, cao gần một mét hiện ra ngay giữa tim của khối tường gạch đặc.
Hốc tường này không hề có tên hay ký hiệu trên bất kỳ bản vẽ hoàn công nào của ông Nguyễn Tấn Đời. Nó được cố tình xây lùi vào khoảng trống giữa hai cây cột chịu lực số 7A và 7B, giấu kín sau ba lớp tường gạch để mắt thường từ bên ngoài nhìn vào chỉ thấy một bức tường ngăn gió bình thường.
Tôi lau lớp bụi vôi bám trên kính bảo hộ, rọi thẳng luồng ánh sáng trắng xanh của đèn pin vào lòng hốc tối.
Bên trong hốc tường, bụi bặm và màng nhện đen quánh giăng kín từ trần vòm xuống tận đáy. Giữa khoảng không gian chật hẹp đó, một bệ gạch nhỏ trát xi măng nhẵn thín nhô lên khỏi sàn khoảng hai mươi phân. Mặt bệ phủ một lớp bụi mịn màu xám tro dày gần một đốt ngón tay.
Sợi cáp đồng đỏ đâm xuyên qua lớp gạch ngoài cùng chạy thẳng vào hốc tối này, đầu cáp được bấm cốt đồng rất lớn, bắt chặt bằng bù loong vào một tấm thép hình bát giác đặt ngay giữa bệ xi măng.
Và nằm ngay ngắn trên tấm thép bát giác đó là một tấm bài vị.
Tấm bài vị cao chừng ba mươi phân, rộng hơn một gang tay, được đẽo gọt từ một khối gỗ mun nguyên khối đen tuyền bóng loáng. Chất gỗ mun đặc quánh, nặng trịch, không hề có dấu hiệu mục ruỗng dù bị giam hãm trong môi trường ẩm thấp suốt hơn bốn thập kỷ. Bề mặt tấm bài vị trơn nhẵn như một tấm gương tối màu, không khắc tên tuổi, không có ngày tháng năm sinh hay năm mất, hoàn toàn không có bất kỳ dòng chữ Hán hay chữ Quốc ngữ nào ghi danh người đã khuất. Nó là một tấm gỗ câm lặng, một biểu tượng vô danh được dựng lên để đại diện cho một sự hiện diện không thể gọi tên.
Thế nhưng, thứ khiến da đầu tôi tê rần không phải là sự câm lặng của tấm gỗ mun.
Tấm bài vị không được cắm vào đế gỗ thông thường. Nó bị ghìm chặt xuống bệ xi măng bởi bảy chiếc đinh thép lớn. Mỗi chiếc đinh dài chừng mười lăm phân, thân đinh to bằng ngón tay út của tôi, bề mặt đã rỉ sét bám từng lớp vảy nâu xỉn. Bảy chiếc đinh được đóng cắm ngập sâu vào thớ gỗ mun theo hình chòm sao Bắc Đẩu, đâm xuyên qua thân bài vị cắm thẳng xuống tấm thép bát giác bên dưới.
Bốn chiếc đinh đóng ở phần thân trên, ba chiếc còn lại đóng chéo ở phần chân đế, khóa cứng tấm bài vị vào kết cấu của tòa nhà.
Xung quanh các lỗ đinh rỉ sét cắm ngập vào thớ gỗ mun, chất dịch màu nâu đỏ sền sệt rỉ ra từ bên trong lõi gỗ. Chất dịch ấy không đông cứng lại theo thời gian. Nó ươn ướt, nhớp nháp, rỉ ra thành từng giọt đặc quánh men theo thân bài vị rồi đọng lại thành một vũng nhỏ trên mặt tấm thép bát giác. Một mùi tanh ngọt lợ, tựa hồ mùi huyết thanh trộn lẫn với mủ cây nhiệt đới và hơi ẩm của hầm mộ lâu năm bốc lên ngùn ngụt, lấn át hoàn toàn mùi khét của máy cắt và bụi vôi.
Tôi bước tới gần mép hốc tường, ngón tay run rẩy đưa lên chạm nhẹ vào bề mặt tấm gỗ mun.
Cảm giác trơn lạnh từ thớ gỗ truyền qua lớp găng tay bảo hộ dày cộm, buốt nhói như khi tôi chạm vào vạt áo dài lụa trắng ở lòng giếng trời ban nãy. Tấm gỗ này đang thu nạp toàn bộ áp lực từ sợi cáp đồng đỏ truyền về. Lõi chịu lực của tòa nhà và hệ thống cọc móng sâu dưới lòng đất được liên kết trực tiếp với bệ thờ giấu mặt này. Bảy chiếc đinh thép rỉ sét không đơn thuần là vật giữ cơ học; chúng là những mũi kim châm cứu phong thủy đô thị, ghim chặt linh hồn của vật tế vào khung xương bê tông cốt thép của Building President.
Bản ghi chép của Thomas trong cuốn sổ da lại hiện lên rõ mồn một từng chữ. Đội công binh Mỹ và các chuyên gia kỹ thuật quân sự năm 1972 đã không xây dựng một hệ thống phân tán lực đơn thuần. Họ đã tạo ra một mạch dẫn kín. Bằng cách phong tỏa vạt áo của người phụ nữ ở tầng tám và đóng đinh bài vị vô danh của bà ta ở tầng bảy, họ đã biến toàn bộ chung cư thành một nhà tù năng lượng khổng lồ. Mọi xung lực rung chấn, mọi tải trọng tĩnh và tải trọng động của tòa nhà đều bị ép dồn qua mắt xích này trước khi cắm xuống chân móng.
Nếu không nhổ bỏ những chiếc đinh này, tôi không tài nào tháo dỡ được bức tường để mở lối cho hệ thống giàn giáo vận hành thông suốt giữa các tầng. Khối bê tông cốt thép sẽ tiếp tục gồng mình chịu tải trọng cục bộ bất thường, và chiếc máy xúc cần dài khi đụng vào tầng sáu sẽ làm nổ tung phần móng.
Tôi quỳ hẳn hai gối xuống đống xà bần sắc nhọn, gạt đống gạch vỡ sang hai bên. Đèn pin trên trán tôi chiếu thẳng vào chiếc đinh thép đầu tiên - chiếc đinh nằm ở vị trí cao nhất trên tấm bài vị gỗ mun.
Chiếc đinh cắm ngập sâu vào thân gỗ, chỉ chừa lại phần mũ đinh hình tròn đã rỉ sét bong tróc. Quanh chân đinh, chất dịch màu nâu đỏ ứ đọng thành một quầng tròn sẫm màu.
Tôi cầm lấy chiếc xà beng thép dài sáu mươi phân, luồn đầu dẹt của nó vào khe hở nhỏ giữa mũ đinh và mặt gỗ mun. Đầu thép của xà beng vừa chạm vào thân đinh rỉ sét, một tiếng rít nhỏ như tiếng kim loại cọ sát dưới áp suất cực lớn phát ra từ sâu bên trong thớ gỗ.
"Nhổ nó ra," tôi tự lẩm bẩm trong cổ họng, giọng khản đặc sau lớp khẩu trang. "Phải ngắt cái mạch này thì mới đập tường được."
Tôi đặt điểm tựa của xà beng lên một viên gạch thẻ kê sát bệ đá, dùng hai tay nắm chặt đầu cán thép, bắt đầu dồn lực toàn thân tì xuống.
Chiếc đinh thép bắt đầu cựa quậy.
*Ken két...*
Âm thanh kim loại nghiến vào thớ gỗ mun đặc quánh rợn người vang lên trong không gian hẹp của hốc tường. Tiếng động chói gắt, nghe như tiếng răng người nghiến chặt trong cơn đau đớn cùng cực. Thân đinh thép cắm ngập nửa thế kỷ rùng mình lay chuyển từng milimét một. Khi chiếc đinh bị bẩy lên khỏi mặt gỗ chừng nửa lóng tay, chất dịch màu nâu đỏ bên dưới lập tức sôi ùng ục, sủi lên những bọt khí nhỏ li ti bốc khói mờ mờ.
Một luồng chướng khí ẩm độc tích tụ bấy lâu trong khe nứt lập tức phụt mạnh ra ngoài.
Luồng khí lạnh toát mang theo thứ mùi hôi nồng nặc của thịt thối rữa hòa lẫn với mùi vôi nồng nặc và hơi rêu mục thoát ra như một mũi tên xé toạc không khí. Nó đập thẳng vào mặt tôi. Lớp phin lọc than hoạt tính của chiếc khẩu trang 3M hoàn toàn vô dụng trước thứ khí độc có tính ăn mòn kỳ dị này. Hơi lạnh độc hại luồn qua các khe hở mép cao su, xộc thẳng vào hai cánh mũi, tràn xuống khí quản và táp thẳng vào niêm mạc mắt tôi.
Một cơn rát bỏng bùng lên dữ dội nơi lồng ngực.
Mắt tôi cay xè, nước mắt trào ra giàn giụa làm mờ mịt toàn bộ tầm nhìn. Tôi ho sặc sụa, từng cơn ho thắt nghẽn lồng ngực kéo đến dồn dập khiến hai lá phổi như bị bóp nghẹt dưới một tảng đá ngàn cân. Tay tôi tuột khỏi cán xà beng. Cây xà beng rơi choảng xuống nền xi măng, nảy lên rồi văng vào đống gạch vụn.
Chiếc đinh thép đầu tiên mới chỉ bị nhổ lên một nửa, vẫn cắm nghiêng nghiêng trên thân bài vị gỗ mun. Dịch nâu đỏ từ vết nứt bắt đầu trào ra nhiều hơn, chảy tràn xuống tấm thép bát giác, phát ra những tiếng xèo xèo ghê rợn khi tiếp xúc với bề mặt kim loại bị rỉ sét.
Tôi lảo đảo lùi lại phía sau, lưng đập mạnh vào mảng tường gạch đối diện hành lang. Cả người tôi nóng bừng lên một cách bất thường, một cơn sốt dữ dội ập đến nhanh đến mức các khớp xương toàn thân tôi rã rời, bủn rủn như bị rút cạn toàn bộ sinh lực. Đầu tôi nặng trĩu, từng đợt sóng nhiệt hầm hập cuộn lên từ dạ dày bốc thẳng lên đỉnh đầu.
Mọi âm thanh xung quanh tôi bắt đầu méo mó. Tiếng gió rít từ giếng trời biến thành những tiếng thì thầm ma quái của hàng trăm giọng nói hỗn tạp, lúc xa lúc gần, đè nặng lên màng nhĩ. Ánh đèn pin trên mũ bảo hộ rung lắc dữ dội theo từng nhịp thở dốc đứt quãng của tôi.
Dưới đáy hốc tường, tấm bài vị gỗ mun đen nhánh với chiếc đinh thép cắm dở nhòe đi trong tầm mắt tôi. Luồng khí ẩm độc vẫn không ngừng phun ra từ vết thương của thớ gỗ, cuộn xoáy quanh bệ xi măng như một đám mây đen đặc quánh.
Chân tôi không còn giữ nổi trọng lượng cơ thể. Đầu gối tôi khụy xuống, cả người tôi đổ ập lên đống xà bần sắc nhọn rải đầy trên sàn tầng bảy. Tôi cố gắng đưa tay lên cởi chiếc khẩu trang ra để hít thở, nhưng những ngón tay đã co cứng, run rẩy không còn chút sức lực nào. Cơn sốt ập đến quá nhanh, biến không khí chung quanh thành một lò lửa thiêu đốt từng mạch máu, trong khi sâu thẳm trong xương tủy lại lạnh buốt như bị ngâm dưới tảng băng ngầm.
Trước khi bóng tối hoàn toàn nuốt chửng lấy thị giác, tôi vẫn nhìn thấy bóng đen của sợi cáp đồng đỏ rung lên bần bật theo từng nhịp thở thoi thóp của khối bê tông mười ba tầng.