Chung Cư 727 - Chương 18: Phá Dỡ Từ Tầng 13 Xuống Tầng 1

Mùi bùn cống rãnh quyện với mùi lưu huỳnh nồng nặc xộc thẳng vào cuống họng tôi. Dưới sàn tầng trệt, nước ngầm đen ngòm sủi tăm liên tục qua các khe nứt…

Nội dung chương

Mùi bùn cống rãnh quyện với mùi lưu huỳnh nồng nặc xộc thẳng vào cuống họng tôi. Dưới sàn tầng trệt, nước ngầm đen ngòm sủi tăm liên tục qua các khe nứt chân tường, dâng lên ngập quá mắt cá chân, biến toàn bộ khu vực hành lang kỹ thuật thành một vũng lầy nhớp nháp. Mỗi bước tôi dẫm xuống, lớp rác thải tích tụ hàng chục năm gồm giẻ rách mục, bao nilon và vữa vụn lạo xạo cọ vào đế giày bảo hộ.

Sau cú nảy chấn động vừa rồi, cái bóng xám xịt thò lên từ mép nắp gang đã thụt biến vào lòng đất tối đen. Miệng hầm bị xô lệch hé toác ra một khoảng trống chừng nửa mét, phả lên những luồng hơi lạnh buốt đến gai người. Không khí đặc quánh áp suất nặng nề, tựa sức ép trước một cơn giông lớn chực chờ bùng nổ.

"Hải! Quay lại ngay!" Chú Sáu đứng ở góc chiếu nghỉ cầu thang phía sau, chiếc gậy gỗ run lẩy bẩy gõ lộp cộp xuống mặt sàn xi măng. Luồng sáng vàng vọt từ ngọn đèn bão trên tay chú quét ngang qua mặt tôi. "Chân móng đang lún nghiêng! Mày mò xuống đó ngộ nhỡ đứt dầm sàn thì cả tòa nhà mười ba tầng này đè bẹp mày thành cám!"

Tôi dừng lại bên cạnh tấm nắp gang méo mó, siết chặt chiếc xà bén bằng thép tôi bằng tay phải. Đầu ngón tay tôi buốt lạnh vì nước bùn bắn lên, nhưng các thớ cơ ở bắp tay vẫn căng cứng.

"Dầm thép số bốn bị uốn cong rồi chú Sáu," tôi quay đầu lại nói, giọng trầm xuống át đi tiếng nước chảy ngầm ùng ục bên dưới. "Nó không gãy do tải trọng bên trên đè xuống. Áp lực móng đang đẩy ngược từ lòng đất lên. Nếu tôi không kiểm tra xem thứ gì nằm dưới họng giếng này, sáng mai toàn bộ khối nhà mặt tiền đường Trần Hưng Đạo sẽ trượt thẳng ra lòng đường."

Chú Sáu nuốt nước bọt cái ực. Cổ họng già nua của người gác tòa nhà phát ra những tiếng khò khè đứt quãng. Chú nhìn quanh những mảng vách nứt toác đang rỉ nước đỏ quạch, đôi mắt đục ngầu lộ rõ nỗi kinh hoàng đã găm sâu qua nhiều thập kỷ:

"Năm bảy lăm... bộ đội tiếp quản đã niêm phong họng giếng đó lại. Lúc đó tao còn là thằng thanh niên phụ việc quét dọn cho ủy ban quân quản. Tao tận mắt thấy người ta mang cả khối chì đặc cùng xích sắt xe tăng xuống dưới chốt chặt cánh cửa buồng máy ngầm. Mày đừng dại dột bới tro tàn lên nữa!"

Lời cảnh báo của chú Sáu không làm tôi chùn bước. Ngược lại, hai chữ "quân quản" và "cửa buồng máy" lập tức khơi dậy những mảnh ký ức chắp vá mà ông nội tôi, Thomas, từng lẩm bẩm trên giường bệnh ở California trước ngày trút hơi thở cuối cùng.

Khi ấy, cơ thể ông đã teo tóp vì ung thư xương, bàn tay gầy trơ xương nắm chặt lấy cổ tay tôi, run rẩy truyền sang tôi từng đợt co giật buốt giá. Ông không nói về những trận đánh ngoài chiến trường, ông chỉ nhắc đi nhắc lại về Building President vào cái đêm tháng tư năm 1972. Đêm mà toán lính công binh Mỹ nhận lệnh khẩn cấp đổ bê tông gia cố khoang hầm phụ, bỏ mặc những tiếng đập cửa, tiếng móng tay cào cấu điên dại từ phía bên kia vách tường chì. Thomas nói rằng ông vẫn nghe thấy tiếng cào xé ấy trong từng giấc ngủ suốt bốn mươi năm, thứ âm thanh của những kẻ bị chôn sống dưới móng trụ mười ba tầng lầu.

Tôi rọi đèn pin đội đầu xuống khoảng hở bên hông nắp gang. Bên dưới không phải là hố ga thông thường, mà là một đường dốc thoải bằng bê tông cốt thép dày cộp, phủ đầy rêu đen và bùn nhão, dẫn sâu xuống lòng đất theo góc nghiêng ba mươi độ.

"Tôi xuống xem qua một chút. Chú đứng ở bục cầu thang giữ dây cáp cho tôi," tôi tháo cuộn dây thừng cứu sinh bên hông, móc chốt an toàn vào một trụ dầm chịu lực còn tương đối vững chắc, rồi ném đầu dây còn lại cho chú Sáu.

Chú Sáu ngập ngừng, hai bàn tay run rẩy chụp lấy sợi dây thừng. Chú hiểu rõ tính tôi. Một khi người thợ phá dỡ đã nhận định điểm yếu của kết cấu móng, không có lời can ngăn nào đủ sức kéo họ lùi lại.

Tôi lách người qua khe nắp gang sứt mẻ.

Mép tôn và sắt ray gãy nhọn hoắt sượt qua vai áo bảo hộ của tôi, phát ra tiếng rách xoẹt khô khốc. Đế giày lún sâu vào lớp bùn nhão dưới chân dốc dốc đứng. Hơi ẩm dưới này có mùi tanh tưởi của mỡ động vật ôi thiu và mùi hăng nồng của vôi chết. Nhiệt độ tụt xuống đột ngột, chênh lệch ít nhất bảy độ so với sảnh tầng trệt bên trên.

Chiếc xà bén trong tay tôi trở thành điểm tựa duy nhất. Tôi cắm mũi nhọn của xà bén vào các kẽ nứt trên sàn dốc bê tông, từng bước trượt dần xuống bóng tối.

Ánh đèn pin quét qua những mảng tường ngầm loang lổ. Nơi này là phần kết cấu cổ xưa nhất của Building President, xây dựng từ đầu thập niên 1960. Những vết cốp pha gỗ thô sơ hằn sâu trên mặt bê tông mác cao, xen lẫn những vết ố màu vàng gạch do nước rỉ từ các mạch ngầm sỏi sạn. Đi được chừng mười lăm mét theo chiều dốc, lòng đường hầm mở rộng ra thành một tiền sảnh ngầm chật hẹp, cao chưa đầy hai mét.

Mặt đất dưới chân tôi bấy giờ ngập nước đen tới ngang bắp chân. Giữa tiền sảnh ngầm, sừng sững một vòm cửa cuốn bằng bê tông đặc khối.

Chắn ngang vòm cửa là một cánh cửa sắt nặng nề, bề mặt bọc một lớp kim loại màu xám đục - lớp chì cán mỏng dùng trong các công trình chống phóng xạ và ngăn ẩm tuyệt đối của công binh Mỹ. Cánh cửa dày đến gang tay, bốn góc gia cố bằng những chiếc bu-lông lục giác to bằng nắm đấm trẻ con.

Vắt ngang qua tay nắm then cài của cánh cửa là một sợi xích sắt to bản, từng mắt xích to bằng cổ tay người lớn, phủ kín một lớp gỉ sét đỏ lừ tựa như máu khô đóng vảy.

Nhưng điểm đập vào mắt tôi trước tiên chính là mảng vật liệu nằm ngay điểm giao nhau của sợi xích và then cài sắt.

Đó là một khối sáp niêm phong màu đỏ sẫm to bằng cái đĩa ăn cơm, gắn đè lên một miếng vải ba điều dệt sợi thô. Trải qua hơn bốn mươi năm ngâm trong độ ẩm ngột ngạt của lòng đất, chất sáp đã xỉn màu, chuyển sang sắc nâu đỏ úa tàn tạ. Trên bề mặt khối sáp, những đường nét của con dấu nổi hình tròn vẫn còn hiện diện: dòng chữ "ỦY BAN QUÂN QUẢN THÀNH PHỐ SÀI GÒN - GIA ĐỊNH" chạy quanh một ngôi sao năm cánh ở tâm, kèm theo dòng số hiệu mờ nhạt ghi ngày tháng của năm 1975.

Toàn bộ khối niêm phong ấy mang vẻ tôn nghiêm, tĩnh lặng của một nấm mồ lịch sử đã được khóa chặt, ngăn cách cõi sống bên trên với những gì bị kết án phải chôn vùi vĩnh viễn.

Tôi bước lại gần, tiếng nước bì bõm dưới chân vang vọng trong không gian kín mít thành những âm thanh trầm đục. Tôi đưa bàn tay đeo găng chạm nhẹ vào mặt tấm chì bọc cửa.

Lạnh. Cái lạnh xuyên qua lớp da găng tay dày cộp, truyền thẳng vào xương khớp ngón tay tôi như thể tôi vừa áp tay vào một tảng băng trôi giữa đại dương.

Ký ức về người ông lại trào lên trong lồng ngực tôi. Thomas từng kể rằng, trong bản đồ mật của lực lượng hậu cần đóng tại Building President, khoang ngầm này được ghi chú là "Sub-level 13B" - một khu vực kỹ thuật đặc biệt không nằm trong sơ đồ lưu trữ công khai của tòa nhà dân sự. Ông tôi từng đứng gác ở lối vào này suốt hai tuần lễ trước khi ký hiệp định Paris. Những đêm đó, dưới sức nóng ngột ngạt của Sài Gòn, cánh cửa này luôn toát ra hơi lạnh thấu xương, đi kèm những chuỗi gõ đều đặn ba tiếng một lần từ bên trong tấm chì: *Cộc... Cộc... Cộc...*

Tôi hít một hơi sâu, luồng khí ẩm ướt lấp đầy phổi. Tay tôi siết chặt cán xà bén, định bụng sẽ dùng đầu dẹt của nó để nạo bớt lớp gỉ sét bám quanh bản lề, kiểm tra mức độ biến dạng của then cài nhằm đánh giá mức độ an toàn của nền móng cho đội thi công ngày mai.

Tôi ghé sát luồng sáng đèn pin vào khối sáp niêm phong đỏ úa.

Đồng tử tôi đột ngột co rút lại.

Dưới góc chiếu hẹp của bóng đèn halogen, sự thật trần trụi hiện rõ mồn một trước mắt tôi.

Khối sáp mang con dấu quân quản năm 1975 không hề còn nguyên vẹn.

Một đường nứt toác chạy dọc từ tâm ngôi sao năm cánh xé toạc khối sáp thành hai nửa. Nhưng điều khiến sống lưng tôi lạnh toát không nằm ở vết nứt.

Nếu cánh cửa này từng bị người bên ngoài cạy phá, hoặc nếu áp lực lún sụt từ tầng trệt bên trên đè nén xuống, các mảnh sáp vỡ và mép vải ba sẽ phải bị ép lõm vào bên trong, hướng về phía lòng buồng ngầm. Các thớ sợi ba phải tưa ra theo hướng lực tác động từ ngoài vào.

Ngược lại hoàn toàn.

Từng mảnh sáp đỏ vỡ vụn đang uốn cong vểnh lên phía trước. Mép tấm vải ba bị xé toạc bung ra ngoài. Thậm chí, ngay cả mép tấm chì bọc trên cánh cửa sắt, tại vị trí tiếp giáp giữa cánh cửa và khung vòm bê tông, cũng bị biến dạng theo hướng phồng rộp từ trong lòng hầm đẩy thẳng ra tiền sảnh.

Những vết nứt trên lớp sáp không mang dấu vết của xà beng hay búa tạ. Chúng nham nhở, để lại những rãnh cào sâu hoắm, sắc lẹm, kích thước hoàn toàn trùng khớp với kích thước của những ngón tay người mang móng vuốt dài.

Khối niêm phong này đã bị phá vỡ từ lâu.

Nhưng kẻ phá vỡ nó không đứng ở vị trí của tôi. Kẻ đó đã dùng toàn bộ sức lực, dùng cả xương thịt và móng tay của mình để húc, để cào, để đẩy tung cánh cửa từ phía bên trong khoang ngục tối tăm kia hướng ra ngoài thế giới người sống.

Thứ duy nhất còn giữ cánh cửa không bật tung ra lúc này chỉ còn là sợi xích sắt xe tăng hoen gỉ cuốn chặt ba vòng qua then cài.

Mà sợi xích đó, tại mắt xích trung tâm, các thớ kim loại đã bị kéo giãn đến mức rạn nứt thành những đường vân trắng đục. Những mắt xích đang oằn mình chịu đựng một tải trọng kéo vô hình từ sâu thẳm bên trong.

Từ khe hở nhỏ chưa đầy một milimét giữa mép cửa chì và vòm bê tông, một luồng khí đen mỏng manh như sợi chỉ chầm chậm rỉ ra. Hơi thở ấy mang theo tiếng rít khẽ khàng, the thé, tựa như tiếng hít thở nặng nhọc của một lồng ngực khổng lồ bị giam hãm suốt bốn mươi năm trong bùn lầy.

*Rắc.*

Một mẩu sáp đỏ vụn rơi xuống mặt nước dưới chân tôi, tạo nên những vòng sóng đồng tâm lan rộng.

Tôi đứng chôn chân trong làn nước lạnh, chiếc xà bén buông thõng bên hông. Cơn sốt do nhiễm phong hàn dường như tan biến sạch trơn, nhường chỗ cho một cảm giác ớn lạnh chạy dọc từ gót chân lên tận đỉnh đầu.

Lời trăng trối của Thomas không có nửa lời dối trá. Dưới chân móng của Building President chưa từng là một khoang chứa máy móc thông thường. Nơi này là một cái lồng giam. Và thứ bị giam cầm bên trong chưa bao giờ ngừng tìm cách thoát ra.

"Hải ơi! Xong chưa con? Lên đi, nước bắt đầu dâng nhanh lắm rồi!" Tiếng thét thất thanh của chú Sáu từ trên miệng hầm vọng xuống, kéo giật tôi trở về với thực tại nghiệt ngã. Tiếng kim loại va đập trên trần sảnh tầng trệt lại vang lên dồn dập, báo hiệu những thanh dầm phụ đang tiếp tục oằn mình gánh chịu thêm áp lực dịch chuyển của tòa nhà.

Tôi lùi lại một bước, mắt vẫn không rời khỏi khối sáp niêm phong bị đẩy bung từ bên trong.

Chiếc xà bén thông thường cùng những công cụ thủ công này hoàn toàn vô dụng trước khối sắt bọc chì và sợi xích xe tăng kia. Càng tác động lực cơ học thô bạo từ bên ngoài, nguy cơ làm sập sụp cấu trúc vòm bê tông cổ càng lớn, và khi đó cả tòa nhà 727 sẽ đổ sụp trước khi tôi kịp tìm ra câu trả lời cho món nợ máu của gia đình mình.

Cần phải cắt đứt sợi xích đó một cách dứt khoát. Cần phải đối diện trực diện với khoang ngầm 13B trước khi ban chỉ huy công trường tiến hành giật sập tòa nhà bằng mìn định hướng vào tuần tới.

Tôi quay lưng, bám vào sợi dây thừng bảo hiểm, dùng hết sức bình sinh đạp lên vách dốc bê tông trơn trượt để trèo ngược lên miệng nắp gang.

Khi bàn tay tôi bám được vào mép sàn tầng trệt đầy bùn rác, chú Sáu vội vã nắm lấy vai áo tôi kéo giật lên. Ông lão thở hổn hển, mặt mày tái mét khi nhìn thấy bộ dạng ướt sũng bùn đen cùng đôi mắt đỏ ngầu của tôi.

"Thấy... thấy gì dưới đó không con?" Chú Sáu run rẩy hỏi, tay vẫn nắm chặt chiếc gậy gỗ gõ lách cách xuống sàn. "Có phải... đất sụt không?"

Tôi đứng thẳng người dậy, gạt lớp bùn hôi thối bám trên mặt, cất chiếc xà bén vào đai lưng. Tôi nhìn sâu vào đôi mắt sợ hãi của người đàn ông đã gắn bó cả đời với chung cư suy tàn này, giọng tôi đanh lại như thép nguội:

"Dưới đó không có đất sụt, chú Sáu. Chỉ có cánh cửa chì của công binh Mỹ."

Tôi dừng lại một nhịp, liếc nhìn ra ngoài cổng rào công trường, nơi những ánh đèn đường Trần Hưng Đạo vẫn hắt lên nền trời đêm Sài Gòn một quầng sáng màu cam nhạt nhòa. Đêm nay, toàn bộ công nhân phá dỡ đã rút về lán trại ngoại vi theo lệnh phong tỏa an toàn cấp độ D của ủy ban. Không một ai được phép bén mảng vào khu vực nguy hiểm này cho đến sáng mai.

Đó chính là cơ hội duy nhất của tôi.

"Chú về phòng bảo vệ ngoài cổng đi," tôi nói, giọng bình thản đến mức chính tôi cũng thấy lạnh lùng. "Khóa cửa lại, ai gọi cũng đừng mở. Tối nay tôi phải xử lý dứt điểm cái móng này."

Chú Sáu trừng mắt nhìn tôi, môi mấp máy muốn nói điều gì đó nhưng trước ánh mắt kiên quyết của tôi, chú chỉ biết thở dài một tiếng nặng trĩu rồi khập khiễng quay lưng bước về phía cổng rào.

Tôi bước nhanh về phía kho chứa thiết bị chuyên dụng của đội thi công đặt ở góc sân sau. Trong bóng tối của gian nhà kho tiền chế, những bình khí nén cao áp màu xanh thẫm và bộ mỏ cắt oxy-acetylene nằm im lìm trên giá sắt. Tôi đưa tay siết lấy sợi dây đồng hồ áp suất, kiểm tra đầu van đánh lửa. Ngọn lửa xanh lét của mỏ cắt nhiệt độ cao sẽ là thứ duy nhất đủ sức nung chảy những mắt xích xe tăng hoen gỉ kia trong vài phút.

Tôi sẽ quay lại miệng hầm đó vào lúc nửa đêm. Dù thứ nằm sau cánh cửa bọc chì là bí mật quân sự hay một lời nguyền phong ấn kéo dài nửa thế kỷ, đêm nay, lớp xích sắt năm 1975 buộc phải đứt lìa.

Chương khác

Xem thêm