Chung Cư 727 - Chương 19: Mở Nắp Hầm B1 Sau 41 Năm
Đồng hồ đeo tay chỉ đúng mười một giờ bốn mươi lăm phút đêm. Toàn bộ khu vực số 727 đường Trần Hưng Đạo chìm vào một thứ bóng tối đặc quánh, nặng trĩu…
Nội dung chương
Đồng hồ đeo tay chỉ đúng mười một giờ bốn mươi lăm phút đêm.
Toàn bộ khu vực số 727 đường Trần Hưng Đạo chìm vào một thứ bóng tối đặc quánh, nặng trĩu bụi vôi và ẩm khí từ những ống thoát nước đã nứt toác. Phía ngoài hàng rào tôn dập sóng, tiếng xe máy trên đại lộ thưa thớt dần, chỉ thi thoảng vọng vào những vệt còi đơn độc rồi tan biến vào màn sương mù mỏng tanh của Sài Gòn mùa cuối năm. Bên trong khuôn viên công trường, ánh đèn cao áp gắn tạm ngoài cổng rào chỉ đủ hắt một quầng sáng màu cam nhờ nhờ lên những đống xà bần chất cao ngất ngưởng.
Tôi ngồi thụp xuống sau vách tôn che kho thiết bị dã chiến, thở đều để giữ cho nhịp tim chậm lại. Bộ đồ bảo hộ lao động bằng vải bạt dày dính bết vào lưng vì mồ hôi lạnh. Trên chiếc xe đẩy hai bánh bằng thép ống mạ kẽm, bình dưỡng khí oxy màu xanh da trời cùng bình acetylene màu đỏ thẫm nằm song song, được cố định chặt bằng đai cao su bản lớn. Hai sợi dây dẫn cao su màu đôi, một xanh một đỏ, dài hơn mười lăm mét được tôi cuộn cẩn thận thành từng vòng tròn quanh tay cầm xe đẩy. Cạnh đó là chiếc mỏ cắt kim loại cán đồng dài nửa mét, đầu béc cắt bằng đồng thau sáng bóng cọ vào thành bình kêu lách cách nho nhỏ.
Tôi kiểm tra lại đồng hồ áp suất. Kim đồng hồ bình acetylene chỉ đúng mức an toàn. Van giảm áp của bình oxy nằm im ở vạch số mười. Mọi thứ đã sẵn sàng cho một ca cắt phá kim loại hạng nặng giữa lòng phế tích.
Tôi thò tay vào túi ngực áo khoác bảo hộ, những đầu ngón tay ráp ráp chạm vào lớp bìa da cũ kỹ của cuốn sổ tay mà ông nội để lại. Mặt da bò thuộc theo công nghệ quân đội Mỹ năm 1970 đã sờn rách ở bốn góc, ngấm mồ hôi và nước mưa qua bao nhiêu năm tháng nên cứng đơ lại như một miếng gỗ mục. Dưới lớp vải bạt dày, cuốn sổ cấn nhẹ vào xương ức tôi, nhắc nhở về từng dòng ghi chép nguệch ngoạc bằng bút bi xanh, về sơ đồ các cọc móng chịu lực của Building President và những nét gạch chéo đỏ rực đánh dấu vị trí hầm ngầm 13B.
Thomas từng viết rằng người ta không niêm phong căn hầm đó để bảo vệ tài sản, người ta niêm phong nó để giữ cho những thứ bên dưới không trồi lên mặt đất.
Tôi siết chặt quai mũ bảo hộ, kéo kính chắn bụi xuống ngang cằm, rồi nắm lấy tay cầm xe đẩy. Những bánh xe cao su đặc lăn chầm chậm trên nền đất lổn nhổn gạch vỡ, không phát ra tiếng động nào đáng kể ngoài tiếng sỏi nhỏ lạo xạo dưới sức nặng của hai bình khí nén. Tôi luồn qua lối đi hẹp giữa các khối tường vỡ của sảnh tầng trệt, tiến thẳng về phía cuối hành lang - nơi nắp gang tròn của công binh Mỹ đang nằm hé mở dưới lớp bùn rác xám xịt.
Không gian bên trong sảnh tầng trệt sực nức mùi xú uế. Thứ mùi này không đơn thuần là rác rưởi phân hủy, mà nó mang theo vị ngọt lợ của xác động vật chết lâu ngày kết hợp với mùi ẩm mốc của những tấm thảm len bị ngâm trong nước cống suốt bốn mươi năm. Càng tiến lại gần miệng hầm, lớp bùn đỏ dưới chân càng nhão ra, quánh đặc và dính chặt lấy đế bốt da của tôi.
Tôi dừng xe đẩy cách miệng hầm chừng hai mét, khóa chốt bánh xe lại.
Miệng nắp gang tròn đường kính hơn một mét nằm nghiêng lệch trên mặt sàn nứt nẻ. Bốn đoạn thép ray xe lửa từng hàn chéo để cố định nắp hầm giờ đã gãy gập, các đầu mối hàn toác ra thành những cạnh sắc nhọn hoen gỉ. Từ khe hở đen ngòm dưới lòng đất, hơi lạnh buốt giá bốc lên ngùn ngụt, phả thẳng vào mặt tôi từng đợt gió rít khẽ. Hơi lạnh này hoàn toàn khác biệt với không khí ẩm nóng của đêm Sài Gòn ngoài kia; nó lạnh tanh như hơi sương thoát ra từ một khoang bảo quản tử thi của nhà xác bệnh viện.
Tôi cúi người, nhấc từng cuộn dây cao su xuống đất, lần theo mép hầm rồi dòng hai sợi dây dẫn xuống khoảng tối bên dưới. Tôi cầm theo chiếc mỏ cắt bằng đồng, chiếc kẹp đánh lửa chuyên dụng và chiếc đèn pin đội đầu có độ gom sáng cao. Sau khi hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh lồng ngực đang đập liên hồi, tôi nắm lấy sợi dây cáp dù đã móc chặt vào cột dầm chịu lực từ chiều, đu người tụt dần xuống độ sâu bốn mét của khoang đệm.
Đế giày bốt của tôi chạm vào mặt nước ngầm lạnh buốt với một tiếng *bõm* vang vọng.
Nước dưới đáy khoang đệm đã dâng cao tới bắp chân tôi. Nước đen ngòm, nhớt nháp và bốc lên một làn khói trắng mỏng dính do chênh lệch nhiệt độ với mặt đất. Trước mặt tôi, cánh cửa sắt bọc chì dày cộp của khoang ngục ngầm vẫn sừng sững chắn ngang lối vào. Tấm biển đồng dập nổi dòng chữ *RESTRICTED AREA - SUB-LEVEL 13B* đen xỉn vì thời gian, những vệt sáp đỏ niêm phong của năm 1975 dính quanh mép khung cửa giờ đây đã vỡ vụn, trôi lềnh bềnh trên mặt nước như những mảnh vảy cá chết.
Tâm điểm ngăn cách tôi với khoảng không gian kín bên trong là sợi xích sắt to bản. Những mắt xích bằng thép đúc của xe tăng, mỗi mắt to bằng cổ tay trẻ con, quấn chặt năm vòng quanh tay nắm xoay dạng vô-lăng và móc neo cố định trên vòm bê tông. Một ổ khóa cơ khí kiểu quân sự to bằng cái mũ cối, thân khóa bọc một lớp đồng thau đã oxy hóa thành màu xanh gỉ đồng, nằm lủng lẳng ở nút thắt trung tâm. Lớp xích này từng giữ kín cánh cửa suốt gần nửa thế kỷ, nhưng giờ đây, dưới sức ép từ phía sau cánh cửa chì, từng mắt xích đang căng cứng như dây đàn, rỉ ra những hạt bụi gỉ màu nâu đỏ mỗi khi khối nhà bên trên rung chuyển nhẹ.
Tôi đưa tay lên, ngón tay tôi run rẩy chạm vào bề mặt xù xì của sợi xích sắt. Kim loại lạnh buốt thấu tận xương tủy, lạnh đến mức đầu ngón tay tôi tê dại đi trong chớp mắt.
"Đến lúc rồi," tôi lẩm bẩm một mình, giọng nói khàn đặc lọt thỏm giữa bốn bức tường bê tông ướt sũng.
Tôi vặn van mỏ cắt trên tay. Tiếng xì xì của khí acetylene bắt đầu thoát ra từ đầu béc bằng đồng thau. Tôi quẹt chiếc kẹp đánh lửa.
*Tách!*
Tia lửa điện bật ra, ngọn lửa màu vàng cam bùng cháy nơi đầu béc, soi sáng cả một góc hầm tối tăm bằng thứ ánh sáng nhảy múa ma quái. Khói đen bắt đầu cuộn tròn bốc lên trần bê tông. Tôi chầm chậm vặn tiếp van dưỡng khí oxy. Ngọn lửa vàng nhanh chóng thu nhỏ lại, chuyển dần sang màu xanh lam nhạt rồi biến thành một mũi nhọn lửa xanh lét, sắc ngọt như một lưỡi dao nhiệt hẹp dài chừng hai đốt ngón tay.
Tiếng xì xì ban nãy biến thành một tiếng rít chói tai, áp lực khí nén thổi bạt những giọt nước đọng trên vòm đá xung quanh. Mùi đất ẩm và mùi xú uế lập tức bị lấn át bởi mùi khí gas nồng nặc đặc trưng của thợ cơ khí.
Tôi kéo kính bảo hộ màu đen che kín mắt, hai tay siết chặt cán mỏ cắt, hướng đầu ngọn lửa xanh lét vào mắt xích trung tâm đang quấn quanh ổ khóa.
Ngay khoảnh khắc ngọn lửa tiếp xúc với kim loại cổ xưa, một chuỗi âm thanh xèo xèo dữ dội vang lên. Lớp rỉ sét bám ngoài mắt xích bị nhiệt độ hàng ngàn độ nung cháy tức thì, nổ lách tách thành những tia lửa đỏ rực bắn tung tóe vào vách bê tông ướt đẫm và rơi xèo xèo xuống mặt nước dưới chân tôi. Lớp vôi vữa cổ bám quanh vòm cửa bắt đầu sùi bọt trắng xóa dưới sức nóng khủng khiếp.
Mùi vôi vữa cháy khét lẹt xộc thẳng vào mũi tôi, quyện chặt với thứ hơi lạnh âm u, nhờn nhợt phả ra từ khe hở của cánh cửa chì. Hai luồng khí trái ngược nhau, một bên nóng rát đến cháy da thịt từ mỏ cắt công nghiệp, một bên lạnh buốt như băng giá từ cõi chết ngấm ngầm rỉ ra, tạo nên một sự xung đột kỳ quái ngay trước ngực tôi. Cơn sốt chưa dứt hẳn lại âm ỉ dội lên màng tang, khiến đầu óc tôi quay cuồng trong chốc lát.
Tôi cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị mặn của máu để giữ cho đầu óc hoàn toàn tỉnh táo. Bàn tay cầm mỏ cắt của tôi rung lên nhè nhẹ theo nhịp thở dồn dập.
Thép xe tăng thập niên bảy mươi được tôi luyện vô cùng kiên cố. Mặc cho ngọn lửa xanh gom nhiệt cực lớn thiêu đốt trực diện, mắt xích sắt chỉ chầm chậm chuyển từ màu đen sang màu đỏ sẫm, rồi đỏ tươi như một thỏi than hồng rực. Kim loại bắt đầu dẻo ra, những giọt xỉ sắt nóng chảy rơi lộp độp xuống dòng nước đen ngập bắp chân, bốc lên những cột khói trắng mang mùi khét lẹt của hợp kim bị thiêu rụi.
Tôi lại đưa bàn tay trái còn lại lên ngực áo, cách lớp vải dày ấn mạnh vào cuốn sổ của Thomas. Những trang giấy vẽ chi tiết các mạch ngầm của phong thủy tòa nhà dường như đang truyền qua lớp da thuộc một sức ép vô hình. Ông nội tôi từng đứng ở vị trí này vào một đêm mưa năm 1972, nhìn những người lính công binh cuối cùng tra ổ khóa này vào xích sắt, dùng sáp niêm phong lại lối đi và quay lưng bỏ chạy khỏi những âm thanh cào cấu bên trong. Suốt bốn mươi năm, ông sống lưu vong bên kia đại dương với nỗi ám ảnh về cánh cửa này. Ông không thể ngủ trọn một đêm mà không nghe thấy tiếng gõ cửa. Và giờ đây, đứa cháu nội mang nửa dòng máu của ông đang dùng ngọn lửa phá dỡ hiện đại để chấm dứt sự giam cầm đó.
*Rắc!*
Một tiếng nổ nhỏ vang lên khi cấu trúc phân tử của thép bị nhiệt độ bẻ gãy.
Mắt xích đầu tiên oằn đi dưới sức căng của chính nó. Tôi đưa ngón tay cái gạt nhẹ van oxy trên mỏ cắt, tăng cường áp lực luồng khí thổi. Một luồng oxy thuần khiết tốc độ cao bắn thẳng vào vũng kim loại nóng chảy, thổi bay khối thép đã bị nung mềm sang một bên.
Mắt xích thứ nhất đứt lìa.
Sợi xích sắt rung bần bật, kéo theo tiếng kim loại ma sát chói óc khi bốn vòng xích còn lại trượt nhẹ trên bề mặt bọc chì của cánh cửa. Áp lực bên trong cánh cửa dường như đẩy mạnh hơn, khiến toàn bộ khối sắt nặng hàng trăm ký dịch chuyển ra ngoài chừng nửa phân. Một dòng nước màu nâu sẫm, đặc quánh như bùn đáy ao, từ khe nứt rỉ ra nhiều hơn, chảy tràn xuống mặt nước dưới chân tôi, bốc lên mùi thối rữa nồng nặc của những chất hữu cơ bị chôn vùi trong bóng tối qua nhiều thập kỷ.
Tôi không dừng tay. Mũi lửa xanh lại áp sát vào mắt xích thứ hai, vị trí then chốt giữ chặt chốt then cài của ổ khóa đồng.
Những tia lửa tiếp tục bắn tung tóe, soi rõ khuôn mặt tôi ướt đẫm mồ hôi sau lớp kính bảo hộ. Cổ họng tôi khô khốc vì khói kim loại và bụi vôi cháy. Mỗi giây trôi qua nặng nề như hàng giờ. Trên trần hầm, những giọt nước ngưng tụ vì sức nóng bắt đầu rơi lộp độp xuống mũ bảo hộ của tôi. Khối nhà mười ba tầng phía trên đầu dường như cũng cảm nhận được sự giải thoát của điểm tựa cuối cùng, thỉnh thoảng lại phát ra những tiếng cọt kẹt trầm đục của những thanh dầm bê tông đang bị vặn xoắn.
Mắt xích thứ hai bắt đầu đỏ rực. Thép dẻo quánh lại, chảy thành dòng lỏng màu cam sáng rực rỡ trước mũi mỏ cắt.
Tôi ghì chặt hai tay, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên cán đồng của mỏ cắt, ấn mạnh luồng oxy áp suất cao vào tim của mắt xích.
*Choang!*
Âm thanh kim loại gãy đôi vang lên đanh gọn, sắc lẹm, chấn động cả khoang đệm bê tông hẹp hẹp.
Mắt xích thứ hai hoàn toàn bị xé toạc.
Mất đi hai điểm giằng cốt tử, toàn bộ cuộn xích sắt hoen gỉ không còn chịu nổi áp lực khủng khiếp đang dồn nén từ bên trong cánh cửa chì. Như một con trăn sắt bị chém đứt khúc, những vòng xích nặng nề tuột khỏi tay nắm vô-lăng, va đập ầm ầm vào vách bê tông rồi rơi thẳng xuống dòng nước đen ngòm dưới chân tôi.
*Bùm!*
Nước đen bắn tung tóe ướt đẫm cả vạt áo bảo hộ của tôi. Khối xích sắt cùng chiếc ổ khóa quân sự chìm nghỉm dưới đáy bùn, sủi lên hàng ngàn bọt khí màu tro xám.
Cùng lúc sợi xích vừa đứt lìa, một biến động dữ dội xảy ra bên trong cấu trúc của tòa nhà.
Không khí xung quanh tôi bỗng nhiên bị hút giật ngược vào khe hở của cánh cửa chì. Một tiếng rít xé gió chói tai vang lên, kéo dài và nghẹn ứ, tựa như một tiếng gầm gừ phát ra từ đáy cổ họng của một sinh vật khổng lồ sau giấc ngủ dài nửa thế kỷ. Tiếng rít ấy làm màng nhĩ tôi đau nhói, áp suất không khí giảm đột ngột khiến ngực tôi thắt lại, khó thở đến nghẹt thở. Cảm giác như thể lồng ngực khổng lồ của cả tòa chung cư 727 vừa bị một lưỡi dao vô hình rạch toang van thở, giải phóng toàn bộ khí ứ đọng bị nén chặt suốt từ năm 1975 đến nay.
Những vết nứt chân chim trên vòm bê tông phía trên cánh cửa toác rộng ra thêm vài milimét, rải xuống đầu tôi một cơn mưa bụi vôi trắng xóa.
Tôi vội vã khóa chặt van hai bình khí, dập tắt ngọn lửa của mỏ cắt rồi cài chiếc mỏ cắt vào đai lưng. Tôi gạt phăng kính bảo hộ lên đỉnh đầu, đưa tay bám chặt vào một mấu sắt nhô ra trên vách tường để giữ thăng bằng trước luồng gió lạnh buốt đang cuồn cuộn thổi qua khe cửa.
*Két... két... két...*
Bản lề bằng thép bọc đồng thau của cánh cửa chì, thứ đã bị chôn vùi trong bóng tối và rỉ sét qua bốn mươi năm, phát ra những tiếng nghiến ken két ghê rợn. Dưới áp lực của khối nước tù đọng khổng lồ từ bên trong khoang ngục ngầm, cánh cửa nặng hàng tấn từ từ hé mở ra ngoài.
Khe hở ban đầu chỉ rộng một lóng tay nhanh chóng nới rộng thành một khoảng trống đen ngòm rộng bằng cả sải tay.
Một dòng nước đen kịt, lạnh như băng tuyết từ bên trong khoang ngục 13B tràn qua ngưỡng cửa, đổ ầm ầm xuống khoang đệm như một dòng thác nhỏ. Dòng nước ngầm mang theo vô số cặn bã mục rữa, những mảnh ván gỗ mục nát trôi nổi lềnh bềnh, cuốn phăng những mẩu gạch vụn dưới chân tôi. Nước dâng lên nhanh chóng từ bắp chân lên ngang đùi, lạnh buốt thấu tận xương tủy, làm toàn thân tôi run rẩy không ngừng.
Tôi bật công tắc chiếc đèn pin công trường đeo trên trán lên mức sáng cực đại. Luồng ánh sáng trắng công suất lớn quét thẳng vào khoảng không gian vừa lộ ra sau cánh cửa chì.
Nhưng luồng sáng cực mạnh ấy dường như bị nuốt chửng hoàn toàn.
Trước mắt tôi không phải là một căn phòng máy móc thông thường với những máy phát điện hay bồn chứa dầu diesel như bản vẽ kỹ thuật dân dụng năm 1960 từng miêu tả. Sau cánh cửa chì hé mở là một khoảng không gian mênh mông, sâu hun hút, ngập chìm trong một biển nước đen ngòm tĩnh lặng đến rợn người.
Bóng tối bên trong khoang ngục ngập nước đặc quánh đến mức ánh sáng đèn pin chỉ rọi thấu được vài mét mặt nước trước khi bị màn sương lạnh và bóng đêm dày đặc nuốt trọn. Từ sâu thẳm trong vùng nước tối tăm ấy, một mùi tanh nồng nặc của tro xương và nhựa đường bắt đầu bốc lên, xộc thẳng vào buồng phổi tôi, mang theo một điềm báo kinh hoàng về những gì đang nằm phục kích dưới đáy bùn lầy.