Chung Cư 727 - Chương 22: Sự Thật Về Đêm Mỹ Rút 1972
Hai đầu dò bằng thép không gỉ áp chặt vào mảng chất nhờn màu xanh nhạt tôi vừa quét lên bề mặt trụ bát giác. Cảm giác nhớp nháp của lớp gel tiếp xúc âm…
Nội dung chương
Hai đầu dò bằng thép không gỉ áp chặt vào mảng chất nhờn màu xanh nhạt tôi vừa quét lên bề mặt trụ bát giác. Cảm giác nhớp nháp của lớp gel tiếp xúc âm học truyền qua lớp găng cao su mỏng, mang theo cái lạnh cắt da của tầng hầm bị chôn vùi hơn bốn mươi năm. Mặt nước ngập ngang ngực tôi dao động nhẹ, từng đợt sóng con va vào vách đá phát ra những âm thanh lép bép giữa không gian nồng nặc mùi bùn mục và vôi rữa.
Tôi giữ chặt hai tay, ngón cái tì lên vành kim loại của thiết bị để tạo một lực ép cố định khoảng năm mươi Newton theo đúng quy trình kiểm định kết cấu. Màn hình tinh thể lỏng của chiếc máy Proceq lập tức nhảy số. Dải đồ thị dạng sóng chạy ngang qua khung kính nhỏ, nhấp nhô những đỉnh nhọn màu xanh lục biểu thị xung dao động phát đi từ đầu phát bên tay trái và phản hồi về đầu thu bên tay phải.
Về nguyên tắc cơ học công trình, một khối bê tông cốt thép đặc chất lượng cao dùng cho móng chịu lực của công trình cao tầng có vận tốc truyền sóng siêu âm dao động từ 3800 đến 4500 mét trên giây. Bê tông càng đặc chắc, sóng âm đi qua càng nhanh, đường xung trên màn hình hiển thị càng gọn gàng, dứt khoát. Nhưng những con số đang nhảy múa điên cuồng trước mắt tôi lúc này hoàn toàn đi ngược lại mọi quy chuẩn xây dựng thông thường.
Vận tốc truyền sóng tụt dốc thê thảm xuống dưới mức 1400 mét trên giây.
Đường sóng cơ sở bị gãy gập, tán xạ thành từng chuỗi răng cưa hỗn loạn trước khi lịm hẳn vào vùng nhiễu trắng. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi xung siêu âm đâm xuyên qua một lớp vật liệu mỏng rồi đập thẳng vào một vùng rỗng thể tích lớn chứa không khí hoặc chất lỏng, nơi trở kháng âm học biến thiên đột ngột làm triệt tiêu gần như toàn bộ năng lượng của sóng.
Lồng ngực tôi thắt lại sau lớp áo bảo hộ sũng nước. Để loại trừ khả năng bọt khí sót lại trong lớp vữa bề mặt gây sai số cục bộ, tôi nhấc hai đầu dò lên, lau sạch lớp gel cũ dính đầy vụn đá bằng mu bàn tay, rồi bóp thêm một vệt chất nhờn mới dịch sang phía bên phải hai mươi centimet, ngay sát một vệt cào xé sâu hoắm hằn trên thân trụ.
Tôi áp chặt đầu dò lần thứ hai.
Màn hình điện tử tiếp tục lóe lên những thông số bất thường. Thời gian truyền sóng kéo dài hơn mức cho phép của một kết cấu nguyên khối đến bốn lần. Tôi chuyển chế độ hiển thị từ biểu đồ xung cơ bản sang chế độ quét cắt lớp phản xạ Pundit.
Thiết bị bắt đầu tính toán độ dày danh định của lớp bê tông phía trước vùng phản xạ âm.
Hai mươi tư centimet.
Một con số chính xác đến mức lạnh gáy. Cây cột trụ thứ năm trăm ba mươi mốt, khối bê tông đồ sộ nằm ngay vị trí tim móng chịu tải của toàn bộ khối nhà mười ba tầng, thực chất chỉ là một cái vỏ rỗng. Lớp thành ngoài dày vỏn vẹn gần một gang tay được gia cố bằng hỗn hợp cát thạch anh, đá dăm sắc cạnh và xi măng mác cao trộn với xỉ kim loại để tạo độ cứng giả tạo bên ngoài.
Phía sau lớp vỏ hai mươi tư centimet ấy, hoàn toàn là một khoảng không gian rỗng ruột.
Nước dưới chân tôi lạnh ngắt, cái lạnh ngấm sâu qua lớp vải bạt ủng công hộ, luồn vào từng thớ thịt khiến các khớp gối của tôi tê buốt. Tôi dịch chuyển đầu dò dọc theo cạnh thẳng đứng của trụ bát giác, hạ dần xuống sát mép nước tù đọng rồi nâng cao lên quá đầu. Ở mọi cao độ đo đạc, thiết bị đều trả về cùng một kết quả kết cấu: lớp vỏ đồng nhất dày đúng hai mươi tư centimet bao bọc lấy một khoang rỗng kéo dài từ đỉnh dầm trần tầng hầm xuống tận đáy móng cọc nhồi sâu dưới lòng đất.
Khối kiến trúc này chẳng hề gánh vác bất kỳ một tấn tải trọng nào từ hệ khung dầm bên trên. Nó được tính toán với độ rỗng có chủ đích, một kết cấu buồng giam được đúc liền khối để bảo bọc một khoảng không gian kín tuyệt đối bên trong lòng công trình.
Tôi gí sát mắt vào màn hình máy đo, chỉnh tần số quét xuống dải 24 kHz để tăng khả năng đâm xuyên của chùm sóng âm vào sâu hơn trong khoang rỗng. Những tín hiệu phản hồi bậc hai bắt đầu hiện lên mờ nhạt trên góc quét phụ.
Bên trong khoang rỗng không hoàn toàn chỉ có không khí. Đồ thị cho thấy có những điểm tán xạ tập trung mang hệ số phản xạ đặc trưng của kim loại nặng. Một kết cấu xích sắt, hoặc những thanh giằng thép buôn lỏng nằm lơ lửng giữa buồng rỗng, kèm theo một khối vật thể có tỷ trọng không đồng nhất nằm tựa vào vách trong của trụ.
Hai tay tôi bắt đầu run lên. Tiếng máy đo kêu tít tít từng hồi đơn điệu giữa khoảng không ngập nước, dội ngược vào bốn bức tường hầm ẩm mốc nghe như nhịp tim của một kẻ đang hấp hối. Tôi tắt nguồn máy đo, cẩn thận tháo hai đầu dò kim loại rồi nhét toàn bộ thiết bị vào túi bạt chống nước bên hông.
Tiếng bíp của máy vừa dứt, tầng hầm lại chìm vào sự im lặng tuyệt đối.
Chỉ còn tiếng nước rỉ tí tách từ các mối nối ống cấp thoát nước cũ nát trên trần hầm rơi xuống mặt nước đen ngòm. Giọt nước rơi trúng mép bốt lính trận rỗng ruột chìm dưới đáy bùn, tạo ra những vòng sóng tròn lan rộng, chạm vào thành trụ bát giác rồi tan biến.
Trong sự tĩnh lặng ngột ngạt ấy, hơi thở của tôi phả ra từng luồng khói mờ đục dưới ánh đèn pin công trường. Mùi lưu huỳnh nồng nặc bốc lên từ kẽ nứt của lớp vữa trộn xỉ sắt xộc thẳng vào mũi, hăng hắc và chua chát.
Tôi nhớ đến người ông cựu binh già nằm co quắp trên giường bệnh của bệnh viện cựu chiến binh bang California vào mùa đông năm đó. Cơ thể ông teo tóp chỉ còn da bọc xương sau những đợt xạ trị ung thư phổi, nhưng ngón tay trỏ của bàn tay phải vẫn giữ nguyên một thói quen kỳ lạ: ông liên tục gõ đầu móng tay xuống thành giường sắt theo những nhịp điệu ngắt quãng.
Những đêm ông mê sảng trong cơn sốt, ông thường nắm chặt lấy cổ tay tôi, lẩm bẩm bằng thứ tiếng Anh khàn đặc pha lẫn những từ ngữ quân sự thời chiến. Ông bảo rằng những người lính thông tin đóng quân tại Building President năm 1972 đều phải học thuộc lòng những quy ước liên lạc thô sơ nhất bằng tiếng gõ kim loại. Khi hệ thống điện đàm tầng ngầm bị ngắt kết nối trong các cuộc tập kích hoặc khi các cửa chì chống áp lực bị đóng sập hoàn toàn từ bên ngoài, cách duy nhất để xác định xem còn người sống sót sau những bức tường bê tông cốt thép hay không là dùng búa gõ vào các đường ống dẫn nước hoặc bề mặt kết cấu.
Ba nhịp ngắn. Ba nhịp dài. Ba nhịp ngắn.
Tín hiệu cấp cứu SOS đơn giản nhất của hệ thống mã Morse quốc tế. Người lính bên ngoài gõ ba tiếng, nếu bên trong còn người tỉnh táo, họ sẽ dùng vật cứng gõ trả lại đúng ba nhịp tương ứng để xác nhận vị trí cần cứu hộ.
Lời kể của ông nội từng trôi qua tai tôi như những mảnh hồi ức vụn vặt của một tâm thần bị chấn thương chiến tranh tàn phá. Nhưng đứng trước lớp vữa đầy những vết móng tay người cào cấu hóa thạch này, từng câu chữ của ông bỗng đông kết lại thành một áp lực nặng nề đè chặt lên lồng ngực tôi.
Tôi đưa tay xuống thắt lưng da công hộ, ngón tay chạm vào cán gỗ của chiếc búa gõ kiểm định kết cấu bằng thép hợp kim tôi luôn mang theo bên người. Cán búa bọc cao su nhám dính chặt vào lòng bàn tay tôi. Đầu búa nhỏ bằng thép tôi cứng, một đầu bằng dùng để thử độ cứng nẩy của bê tông, một đầu nhọn dùng để cạo lớp rỉ sét bám trên cốt thép.
Tôi rút chiếc búa ra khỏi bao da. Trọng lượng nửa ký kim loại trong tay đem lại một điểm tựa thực tế giữa không gian nửa thực nửa mộng của tầng ngầm hoang phế.
Tôi nhìn chằm chằm vào khoảng vữa phẳng nằm giữa những vết cào sâu nhất, nơi lớp gel âm học vẫn còn đọng lại thành một mảng nhớt màu xanh lơ lọt thỏm giữa lớp rêu mốc xám đen.
Cả đời làm thợ phá dỡ, tôi đã gõ búa lên hàng vạn mét khối bê tông. Tôi nghe tiếng vang của gạch vữa để đoán biết vết nứt chân chim ngầm, nghe tiếng đanh thép của dầm cầu để biết cốt thép bên trong còn giữ được bao nhiêu phần trăm khả năng chịu kéo. Âm thanh của vật liệu xây dựng không bao giờ biết nói dối.
Tôi hít một hơi sâu, điều hòa nhịp thở đang dồn dập trong cuống họng. Cánh tay tôi nâng lên, giữ đầu búa cách bề mặt cột trụ khoảng mười centimet.
*Cạch.*
Tiếng gõ kim loại đầu tiên vang lên đanh gọn. Âm thanh xuyên qua lớp vỏ hai mươi tư centimet, tạo ra một tiếng trầm đục phía sau buồng rỗng giống như gõ vào một chiếc thùng phuy rỗng bị chôn dưới bùn lầy.
Tôi dừng lại đúng một giây, giữ cho cổ tay bất động. Mặt nước dưới ngực phẳng lặng như gương.
*Cạch.*
Tiếng gõ thứ hai nối tiếp, âm vang dội ngược lại lớp màng nhĩ đang căng cứng của tôi. Bụi vôi mục từ kẽ nứt li ti rơi lả tả xuống mặt nước, tạo thành những đốm trắng mờ trôi dạt quanh thân trụ.
Lại một giây ngừng nghỉ kéo dài như vô tận. Tim tôi đập mạnh đến mức có cảm giác lồng ngực sắp nổ tung dưới áp lực nước lạnh.
*Cạch.*
Nhát búa thứ ba kết thúc chuỗi tín hiệu.
Tôi lập tức ghì chặt cán búa, thu tay về sát ngực, toàn bộ cơ thể bất động giữa làn nước ngập. Đôi tai tôi căng hết công suất, cố gắng lọc bỏ tiếng nước rỉ từ trần cao và tiếng mạch máu đang gào thét hai bên thái dương.
Không gian xung quanh hoàn toàn im bặt.
Chỉ còn lại sự im lìm chết chóc của một nấm mồ bê tông bị niêm phong suốt bốn mươi tư năm qua. Không một chuyển động. Không một tiếng vọng lạ thường nào xuất hiện. Âm thanh của nhát búa vừa rồi dường như đã bị khối kiến trúc khổng lồ nuốt chửng hoàn toàn vào lòng đất Chợ Lớn.
Tôi thở hắt ra một hơi dài, một cảm giác chua chát kèm theo sự tự giễu dâng lên trong họng. Rốt cuộc tôi đang trông đợi điều gì dưới đáy tầng hầm ngập ngập rác rưởi này? Những câu chuyện mê sảng của một cựu binh già hấp hối trên giường bệnh, hay những ảo giác do tình trạng thiếu oxy và khí độc bốc lên từ bùn lầy tạo ra? Chẳng thể nào có bất kỳ sinh linh nào tồn tại được bên trong một khoang bê tông kín bưng không có lối thoát suốt hơn bốn thập kỷ. Những người bị chôn vùi trong đêm mùa xuân năm 1972 ấy, nếu thực sự có thật, cũng đã hóa thành những nắm xương tàn lạnh ngắt từ trước khi tôi cất tiếng khóc chào đời.
Tôi buông thõng cánh tay cầm búa xuống mép nước, chuẩn bị quay người bước về phía thang dây để thoát khỏi cái hầm ngục ngột ngạt này.
Đúng lúc mũi ủng của tôi vừa xoay đi nửa vòng trên nền bùn nhão, một âm thanh vang lên.
*Tong.*
Âm thanh kim loại sắc nhọn, khô khốc và lạnh buốt đập thẳng vào tai tôi.
Tôi đứng khựng lại, toàn bộ xương sống cứng đờ như bị điện giật.
Âm thanh đó phát ra không phải từ phía sau lưng tôi, không phải từ trần nhà, mà xuất phát từ vị trí sâu bên trong tâm của cột trụ thứ năm trăm ba mươi mốt. Nó nằm ngay sau lớp vỏ vữa hai mươi tư centimet tôi vừa gõ búa lúc nãy.
Đó là tiếng của một thanh kim loại, hoặc một đầu móng tay sắc nhọn, gõ trực diện từ phía bên trong khoang rỗng đập ngược ra bề mặt vách đá.
Một giây im lặng chết chóc trôi qua giữa đáy hầm.
*Tong.*
Tiếng gõ thứ hai vang lên, đanh gọn và rõ ràng hơn tiếng thứ nhất. Lực gõ mạnh đến mức làm lớp vôi bột bám bên ngoài kẽ nứt trước mặt tôi khẽ rùng mình rơi xuống.
Nước đen dưới chân tôi dường như đang rung chuyển theo tần số của âm thanh đó. Tôi chôn chân tại chỗ, đôi mắt mở trừng trừng nhìn vào vệt gel màu xanh nhạt dính trên vách đá. Khoảng cách giữa mắt tôi và nơi phát ra âm thanh chỉ vỏn vẹn chưa đầy nửa mét qua lớp vỏ bê tông mỏng mảnh.
Và rồi, nhịp gõ thứ ba hạ xuống.
*Tong.*
Ba tiếng gõ sắc lạnh, đều đặn từng nhịp một, chuẩn xác tuyệt đối theo đúng khoảng cách thời gian và cấu trúc của ba nhịp búa mà tôi vừa phát đi.
Một lời hồi đáp rành rọt gửi ra từ cõi chết.
Cơn ớn lạnh chạy dọc từ gót chân lên đến đỉnh đầu, làm toàn bộ lông tơ trên cánh tay tôi dựng đứng. Đầu óc tôi trống rỗng hoàn toàn, mọi định luật vật lý, mọi nguyên lý xây dựng và kinh nghiệm phá dỡ suốt mười lăm năm qua tan biến thành mây khói trước ba tiếng gõ kim loại quái dị đang vang vọng trong lòng khối bê tông đúc đặc.
Có một thứ gì đó đang ở bên trong.
Một thứ gì đó đã nằm im lìm trong khoang rỗng này suốt bốn mươi tư năm, chờ đợi nhát búa của một kẻ mang dòng máu của người lính năm 1972 đến đánh thức.
Mặt nước xung quanh tôi bỗng sủi bọt tăm li ti. Những bọt khí mang mùi tanh tưởi của xác chết động vật và mùi máu tanh nồng nặc từ chân móng cọc nhồi trồi lên bề mặt, vỡ tanh tách quanh người tôi. Trên bề mặt vách trụ, nơi ba tiếng gõ vừa dứt, một đường nứt chân chim mới toanh bắt đầu nứt toác ra, chạy ngoằn ngoèo xẻ đôi lớp vữa đầy vết cào xé.
Từ khe nứt vừa hé mở, một luồng khí lạnh buốt như băng giá từ bên trong khoang rỗng xì ra ngoài, tạt thẳng vào mặt tôi cùng với một chuỗi âm thanh xích sắt rỉ sét bị kéo lê loảng xoảng trên nền đá cứng.
Bàn tay tôi siết chặt cán búa đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Nỗi sợ hãi tột cùng bỗng chốc biến thành một cơn cuồng nộ hoang dại dồn ứ nơi lồng ngực.
Tôi lùi lại hai bước giữa làn nước đen ngòm, mắt không rời khỏi khe nứt đang rỉ ra thứ nước bùn màu đỏ quạch. Đôi bàn tay đeo găng cao su buông rơi chiếc búa gõ kiểm định xuống đáy nước, lập tức thò ra phía sau lưng, với lấy báng chiếc máy khoan búa hạng nặng chạy pin công suất lớn đang được treo cố định trên đai an toàn.
Tôi phải phá tan lớp vỏ phong ấn này. Tôi phải nhìn thấy tận mắt thứ tội ác ghê tởm mà ông nội tôi và những người lính năm xưa đã che giấu dưới lòng đất tòa nhà này, dù cái giá phải trả có là sự sụp đổ của toàn bộ khối chung cư mười ba tầng trên đầu tôi.