Chung Cư 727 - Chương 20: Hài Cốt Dưới Nền Bê Tông
Dòng nước đen ngụa dầu mỡ từ bên trong khoang ngầm 13B vẫn ồ ạt tuôn qua bậu cửa chì, xối xả đập vào hai ống ủng bảo hộ của tôi. Mùi xú khí nén chặt bốn…
Nội dung chương
Dòng nước đen ngụa dầu mỡ từ bên trong khoang ngầm 13B vẫn ồ ạt tuôn qua bậu cửa chì, xối xả đập vào hai ống ủng bảo hộ của tôi. Mùi xú khí nén chặt bốn mươi năm nay thoát ra ngoài mang theo vị tanh lợm của kim loại rỉ sét xen lẫn mùi ngai ngái nồng nặc của bùn đáy cống.
Tôi đứng tựa lưng vào mép tường bê tông ngoài khoang đệm, chờ cho áp suất gió rít qua khe cửa dịu bớt. Đôi bàn tay tôi bọc trong găng cao su dính đầy muội than đen sì từ mỏ cắt oxy-acetylene. Nhịp tim tôi đập thình thịch từng hồi vào lồng ngực, dội lên thái dương cảm giác căng tức khó tả. Khi luồng gió hút ngược chấm dứt, căn hầm rơi vào một sự im lặng nặng nề, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt tong tỏng từ các thanh giằng sắt trên trần rớt xuống mặt sàn ngập ngụa.
Tôi tháo bình ắc quy đeo hông, siết chặt lại gioăng cao su chống nước của chiếc đèn pin công trường đội đầu, rồi ấn công tắc. Ánh sáng vàng chói lóa quét thành một vệt dài xuyên thẳng qua khoảng hở của cánh cửa chì vừa bung xích.
Tôi hít một hơi sâu, nín thở đẩy mạnh tấm cửa sang một bên.
Bản lề cọ vào nhau rên lên kin kít. Lực cản của khối nước tù đọng bên trong khiến cánh cửa nặng tựa một khối đá tảng. Tôi phải gồng cứng cơ vai, đạp gót ủng vào gờ bê tông mới mở được một khoảng trống đủ để lách người qua. Tôi bước thụt xuống.
Mặt sàn phía bên kia cánh cửa chì dốc thoai thoải xuống dưới đáy móng. Vừa đặt chân qua bậu cửa, mặt nước lạnh ngắt lập tức dâng cao vượt qua đầu gối, rồi nhanh chóng nuốt chửng lấy hông tôi. Nước ngập sâu đến tận thắt lưng.
Cái lạnh thấu xương của nước ngầm thẩm thấu qua lớp vải bạt chống thấm, táp thẳng vào da thịt khiến từng thớ cơ trên đùi tôi co rút dữ dội. Tôi rùng mình, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nước ở đây đặc quánh hơn bình thường, nổi váng dầu đen kịt và lẫn đầy những vụn mục rữa trôi nổi bập bềnh theo từng bước chân tôi di chuyển.
Không gian bên trong khoang 13B rộng lớn vượt xa mọi dự tính ban đầu của tôi.
Trên bản đồ kỹ thuật lưu trữ của tòa nhà Building President do công ty Nguyễn Tấn Đời lập năm 1960, khu vực đáy móng này hoàn toàn không tồn tại. Đơn vị thi công dân dụng chỉ ghi chú đây là tầng đất nền gia cố bằng cọc nhồi bê tông đặc để chống lún cho khối nhà mười ba tầng bên trên. Nhưng thực tế hiện ra trước mắt tôi là một khoảng hầm ngầm mênh mông, vòm trần uốn cong theo lối kiến trúc hầm trú bom quân sự ngập chìm trong bóng tối dày đặc.
Tôi ngửa đầu, quét chùm sáng đèn pin lên vòm trần bê tông phía trên.
Trần hầm thấp lè tè, cách mặt nước tôi đang đứng chừng hơn hai mét. Lớp vữa trát ngoài đã bong tróc từng mảng lớn do hơi ẩm tích tụ suốt nửa thế kỷ, để lộ ra những bó cốt thép gỉ sét đỏ quạch to bằng ngón tay cái, cong vênh và mục rỗng như xương sườn của một con quái thú khổng lồ phơi xác. Nước ngưng tụ trên trần tạo thành hàng ngàn giọt nước đùng đục, chực chờ rơi lộp độp xuống mặt nước tù đọng bên dưới.
Nhưng điều khiến tôi lạnh gáy không nằm ở sự xuống cấp của bê tông cốt thép.
Dọc theo những thanh dầm chịu lực chạy ngang trần hầm, nơi gánh toàn bộ tải trọng hàng chục ngàn tấn của khối nhà phía trên, chi chít những vệt quét đen sì, bóng nhờn và không hề bị nước mưa làm phai mờ.
Tôi lội bì bõm tiến lại gần một cột dầm góc, giơ cao bàn tay găng cao su sờ vào bề mặt chất liệu ấy.
Mùi nhựa đường bốc lên khét lẹt, xộc thẳng vào xoang mũi tôi. Chất nhựa đường này không dùng để chống thấm thông thường. Khi tôi dùng đầu ngón tay cạo nhẹ lên bề mặt, lớp nhựa bong ra để lộ một thứ bột màu xám trắng lổn nhổn bên trong.
Đó là tro xương. Tro xương tán mịn trộn lẫn với hắc ín đặc quánh, tạo thành một hỗn hợp keo dính chặt vào thớ đá dăm của bê tông.
Bằng thứ hỗn hợp rùng rợn này, người ta đã vẽ nên hàng loạt ký tự, đồ hình kỳ dị chạy dọc suốt chiều dài của các thanh dầm trần. Chúng không thuộc về bất kỳ bản vẽ kết cấu chịu lực nào của ngành xây dựng. Những vòng tròn đồng tâm lồng vào các khối bát quái méo mó, những đường ngoằn ngoèo tựa như mạch máu chảy lan ra từ các góc tường, điểm xuyết bằng những chữ số la mã và ký hiệu quân sự viết tắt nguệch ngoạc.
Tôi rút cuốn sổ tay bọc da cũ kỹ của người lính công binh Mỹ từ túi áo ngực được bọc kín trong túi nilon chống nước. Tôi lật giở từng trang giấy ố vàng dưới ánh đèn pin leo lét.
Những hình vẽ tay trong sổ tay trùng khớp đến từng góc cạnh với những vệt tro xương nhựa đường trên trần hầm này.
Trang viết năm 1972 của Thomas có đoạn ghi chép vội bằng bút mực xanh:
*"Toàn bộ cấu trúc chịu lực tầng trệt và đáy móng không được thiết kế để nâng đỡ tòa nhà theo chuẩn mực kiến trúc. Chúng là một mạng lưới phong tỏa. Mỗi thanh dầm là một thanh chặn huyệt vị. Họ dùng tro cốt của những người chết không thừa nhận trộn vào hắc ín để khóa chặt các luồng tử khí phát sinh từ điểm chết của khu đất. Đội công binh nhận lệnh từ ban chỉ huy MACV biến tầng hầm này thành một cái lồng bát giác ngầm."*
Tôi hạ cuốn sổ xuống, cất lại vào túi ngực rồi kéo khóa cẩn thận. Một luồng ớn lạnh bò dọc sống lưng.
Những gì ông nội tôi từng thì thào trên giường bệnh ở California trước lúc trút hơi thở cuối cùng hoàn toàn là sự thật trần trụi. Đội công binh Mỹ năm ấy không chỉ xây dựng một trạm cư xá sĩ quan đơn thuần. Họ đã kết hợp kiến trúc bê tông cốt thép phương Tây với những thuật trấn yểm phong thủy phương Đông tàn độc nhất nhằm đè bẹp một thứ gì đó nằm sâu bên dưới lòng đất Sài Gòn.
Mỗi một đồ hình tro xương trên dầm bê tông này là một mắt xích trong mạng lưới giam cầm ấy. Khi tòa chung cư 727 bị di dời, khi những bức tường ngăn tầng trên bị phá dỡ, cân bằng lực của trận đồ trấn yểm này bắt đầu rạn nứt, khiến các thanh dầm phải oằn mình gánh chịu những xung lực vô hình từ bên dưới.
Tôi tiếp tục lội sâu hơn vào lòng hầm.
Nước ngập đến rốn. Dưới chân tôi, lớp bùn đáy dày cộp và trơn trượt như mỡ trăn khiến mỗi bước đi trở nên vô cùng nhọc nhằn. Bùn ngập quá mắt cá chân, níu chặt lấy đế ủng bảo hộ, tạo ra những tiếng lép bép nặng nề mỗi khi tôi nhấc chân lên. Mùi thối rữa của xác chuột chết, gián mục trôi nổi lẫn trong dòng nước đen ngòm thỉnh thoảng lại va vào bụng tôi, lạnh ngắt.
Không gian xung quanh hoàn toàn cô quạnh. Tiếng gầm rú của xe cộ trên đại lộ Trần Hưng Đạo cách đây hàng mét lớp đất và bê tông dường như bị triệt tiêu hoàn toàn. Nơi này chỉ còn lại tiếng thở hổn hển của chính tôi và tiếng nước bì bõm rẽ sóng mỗi khi tôi di chuyển.
Tôi lia chùm sáng đèn pin ra xa hơn, cố gắng xác định phương hướng giữa mê cung cột bê tông u ám.
Càng đi sâu vào trong, không khí càng trở nên đặc quánh, thiếu oxy trầm trọng. Ngọn đèn pin công trường của tôi bắt đầu rọi vào một khoảng không gian rộng thênh thang ở trung tâm hầm. Nơi này dường như được thiết kế thành một lòng chảo thoải dần, khiến mực nước ngập sâu hơn một chút, mấp mé đến ngực tôi.
Bỗng nhiên, chùm ánh sáng vàng quét qua mặt nước tù đọng phía trước mặt tôi rung lên.
Ở khoảng cách chừng bảy mét, lớp nước đen kịt có độ trong kỳ lạ, để lộ một mảng đáy bùn không bị rác thải che lấp. Dưới đáy nước tĩnh lặng ấy, chùm sáng đèn rọi trúng một vật thể màu đen nằm bất động.
Tôi dừng bước, giữ cho mặt nước ngừng gợn sóng để nhìn cho rõ.
Đó là một chiếc giày ống bốt cao cổ bằng da pha vải bạt - loại bốt trận Jungle Boots chuyên dụng của quân đội Mỹ thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Chiếc bốt chìm sâu dưới đáy nước, lớp da đen đã mốc meo và nứt nẻ, những lỗ xỏ dây bằng đồng thau hoen rỉ xanh ngắt nhưng phần đế cao su đúc hình gợn sóng vẫn còn nguyên vẹn găm chặt vào bùn đất.
Điều làm tôi chết lặng không phải là sự xuất hiện của một chiếc giày lính cũ kỹ.
Khi tôi hơi nhích ngọn đèn pin sang bên cạnh, một chiếc bốt thứ hai lộ ra, đặt song song với chiếc thứ nhất, ngay ngắn đến mức tuyệt đối.
Rồi một đôi nữa. Một đôi nữa.
Một hàng dài những đôi bốt quân sự chìm nghỉm dưới làn nước đen ngòm hiện ra rành rọt dưới ánh đèn pin công suất lớn của tôi.
Hàng chục đôi bốt lính Mỹ mục rỗng xếp ngay ngắn thành từng hàng thẳng tắp dưới đáy bùn. Chúng không hề trôi dạt hỗn loạn theo dòng nước xối xả ban nãy khi cánh cửa chì bung mở. Chúng bị ai đó găm chặt mũi giày xuống bùn sâu, đứng thẳng hàng như một trung đội lính ngầm đang dàn quân dưới đáy ngục.
Tôi tiến lại gần từng bước một cách thận trọng, cố gắng không tạo ra sóng lớn làm xáo trộn lớp trầm tích dưới đáy.
Nước lạnh buốt ép chặt vào ngực khiến lồng ngực tôi đau tức. Tôi cúi người xuống sát mặt nước, rọi thẳng luồng sáng vào đôi giày gần mình nhất.
Bên trong cổ bốt không có xương bàn chân. Chúng hoàn toàn rỗng ruột. Nhưng bên trong mỗi chiếc bốt, người ta đã nhét đầy những thỏi chì xám xịt và những lá bùa bằng đồng dát mỏng khắc kín các chữ tự ngoằn ngoèo. Trọng lượng của chì và đồng giữ cho những đôi giày đứng thẳng đứng dưới đáy nước qua hàng chục năm ròng rã, không hề bị nghiêng ngả hay dịch chuyển dù chỉ một centimet.
Tổng cộng có bốn mươi chín đôi bốt cả thảy. Bảy hàng, mỗi hàng bảy đôi. Một đồ hình thất thất bốn mươi chín vị trí được tính toán tỉ mỉ theo phép trấn trạch cổ xưa.
Tất cả những đôi bốt lính tử thần này, từ đôi đầu tiên cho đến đôi cuối cùng ở góc xa nhất, đều hướng phần mũi giày về cùng một hướng duy nhất.
Mũi giày của chúng không hướng về lối cửa thoát hiểm chì năm 1975. Chúng cũng không hướng về phía mặt tiền đường Trần Hưng Đạo.
Toàn bộ bốn mươi chín đôi bốt mục nát đều đồng loạt chỉ mũi về một góc khuất chìm sâu trong bóng tối ở phía góc tây bắc của tầng hầm - điểm đối trọng trực diện với căn phòng áp mái bí ẩn trên tầng mười ba, nơi người phụ nữ năm xưa đã nhảy lầu tự vẫn.
Tôi đứng chôn chân giữa làn nước lạnh ngắt, nhìn theo đường thẳng tắp mà những mũi giày tử thần vạch ra trong lòng hầm ngập nước.
Ở góc khuất tây bắc ấy, màn sương mù xám đục do hơi ẩm ngưng tụ dường như đặc quánh hơn bất kỳ nơi nào khác trong khoang ngầm. Ánh đèn pin của tôi quét tới đó chỉ tạo nên một quầng sáng mờ ảo, tù mù, không thể xuyên thủng được bóng tối dày đặc đang bao trùm lấy một khối kiến trúc đồ sộ nằm ẩn mình phía sau những rặng cột chịu lực.
Từ sâu thẳm góc hầm đó, một làn sóng ngầm khẽ chuyển động dưới chân tôi, mang theo một mùi hương trầm cũ kỹ hòa lẫn trong vị tanh nồng của bùn lầy, báo hiệu sự tồn tại của một công trình dị thường đang đợi tôi bước tới.