Chung Cư 727 - Chương 23: Giải Cứu Vong Linh Tầng 13

Luồng khí xì ra từ vết rạn trên mặt khối trụ thứ năm trăm ba mươi mốt mang theo mùi của bùn đáy kênh rạch lâu năm trộn lẫn với lưu huỳnh và tử khí. Da…

Nội dung chương

Luồng khí xì ra từ vết rạn trên mặt khối trụ thứ năm trăm ba mươi mốt mang theo mùi của bùn đáy kênh rạch lâu năm trộn lẫn với lưu huỳnh và tử khí. Da mặt tôi tê rát, cảm giác buốt lạnh thấu vào tận xương tủy dù dòng nước đen ngập ngang cằm vẫn đang nóng hôi hổi bởi nhiệt lượng tỏa ra từ các khối bê tông mục rữa. Khe nứt chân chim xé toạc lớp vữa trát ngoài, rỉ ra những giọt dịch đặc quánh màu rỉ sét, sủi bọt lép bép trên nền đá xám xịt.

Tôi không lùi bước nữa. Đôi chân bọc trong ủng cao su lún sâu vào tầng bùn quánh dưới đáy móng cọc, giữ chặt trọng tâm cơ thể giữa dòng nước ngập. Tôi tháo chiếc máy khoan búa hạng nặng SDS-Max chạy pin công suất cao khỏi đai an toàn phía sau lưng. Thân máy màu đỏ sẫm nặng hơn tám ký, trang bị đầu mũi khoan bốn chấu bọc hợp kim tungsten dài bốn mươi phân chuyên dùng để phá vỡ các khối đá granite và bê tông cốt thép khối lớn.

Tôi gạt chốt khởi động sang chế độ búa đập kết hợp xoay tròn. Tiếng mô tơ không chổi than rít lên một âm thanh chói gắt, xé toang không gian đặc quánh, ẩm mốc của gian hầm ngập nước. Hai tay tôi siết chặt tay cầm bọc cao su chống rung, nâng mũi khoan áp thẳng vào trung tâm của vết rạn, ngay phía dưới những vết móng tay hóa thạch đang hằn sâu trên mặt đá.

Ngón trỏ tôi bóp chặt cò tiếp điện.

Mũi khoan thép lao thẳng vào khối bê tông với tần số đập ba nghìn lần mỗi phút. Âm thanh búa đập dội vào vách đá nổ bung như tiếng súng máy trong căn phòng kín. Những mảnh vụn vôi gà xé toạc, văng rát rạt vào tấm kính chắn giọt bắn trên mũ bảo hộ của tôi. Bụi đá mịn hòa cùng dòng nước đen ngòm biến thành một thứ bùn xám nhờ nhờ, bắn tung tóe lên vai áo bảo hộ.

Lớp vữa ngoài dày hai mươi tư centimet cứng hơn rất nhiều so với mọi khối bê tông mác bốn trăm thông thường mà tôi từng xử lý trong mười lăm năm làm nghề. Bên trong lớp vữa thô ráp kia, các kỹ sư quân sự thời trước đã trộn lẫn vụn xỉ than, bột thạch anh mịn và những sợi dây đồng bện nhỏ nhằm triệt tiêu chấn động sóng âm và gia cố liên kết vật liệu. Càng khoét sâu vào bên trong, mũi khoan càng rung lên bần bật, phản chấn qua cánh tay làm các khớp vai tôi rêm rức từng cơn.

Nước mắt tôi ứa ra, cay xè vì hơi vôi sống phản ứng với nước bốc lên mù mịt. Mùi hôi thối nồng nặc tích tụ hơn bốn thập kỷ trong lòng khối trụ đặc bỗng chốc thoát ra ngoài theo rãnh xoắn của mũi khoan, xộc thẳng qua lớp than hoạt tính của mặt nạ phòng độc. Đó là mùi của xác thịt phân hủy bị sấy khô trong môi trường yếm khí, trộn lẫn với mùi tanh của máu súc vật và hóa chất ướp xác dùng trong các bệnh viện dã chiến thập niên bảy mươi.

Mũi khoan xuyên sâu được mười lăm phân. Rồi mười tám phân.

Một tiếng rạn khô khốc vang lên từ bên trong.

*Rắc.*

Đầu mũi hợp kim bất ngờ sụp hẫng về phía trước, trượt sâu thêm năm phân vào một khoảng rỗng vô hình. Khối vữa dày phía trước mặt tôi rung chuyển dữ dội. Những đường nứt chằng chịt lan nhanh như mạng nhện từ tâm lỗ khoan, chạy dọc theo các cạnh bát giác của khối trụ khổng lồ. Nước đen từ bên ngoài lập tức tràn vào khe nứt, tạo thành những xoáy nước nhỏ cuốn theo vụn đá và bọt khí li ti.

Tôi buông cò máy khoan, thở dốc từng ngụm khí nghẹn ứ. Lồng ngực tôi phập phồng dữ dội dưới lớp áo bảo hộ sũng nước. Đặt chiếc máy khoan lên mép dầm thép nhô ra bên cạnh, tôi rút chiếc búa tạ cán ngắn giắt bên hông, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào hai bàn tay, vung một nhát giáng thẳng vào mảng bê tông trung tâm đã bị khoan rỗng.

Mảng tường đá vỡ vụn. Một mảng vữa diện tích nửa mét vuông đổ sụp vào bên trong, để lộ ra một khoang rỗng tối om nằm ngay tại tâm điểm của cột trụ thứ năm trăm ba mươi mốt.

Một làn gió buốt giá từ bên trong khoang rỗng tạt thẳng vào mặt tôi. Dòng nước ngập dưới chân tôi bắt đầu cuộn xoáy, rít lên từng hồi ghê rợn khi tràn qua lỗ thủng vừa mở, đổ ầm ầm vào bên trong khoảng tối sâu hoắm.

Tôi tháo chiếc đèn pin chống nước siêu sáng gắn trên mũ bảo hộ, bật nấc chiếu gom chùm sáng cực đại rồi rọi thẳng luồng ánh sáng trắng lạnh lẽo vào bên trong lỗ hổng.

Những gì hiện ra trước mắt khiến toàn thân tôi đông cứng lại, hơi thở nghẽn lại nơi cuống họng.

Khoang rỗng hình bát giác rộng khoảng hai mét vuông, được ốp kín bằng các tấm thép dập dày một phân rỉ sét màu nâu đỏ. Bốn góc của khoang rỗng được cố định bởi bốn sợi xích sắt to bản bằng cổ tay, móc chặt vào những vòng khuyên kim loại cấy sâu vào khối bê tông chịu lực.

Và ở chính giữa khoang ngục ấy, một bộ hài cốt người đang ngồi quỳ gối trên một bệ đá vuông vức.

Bộ xương đã ngả sang màu xám xịt của tro tàn, khô cứng lại dưới tác động của lớp vôi sống rải dày đặc dưới đáy bệ đá. Hai cổ tay của bộ hài cốt bị trói chặt ra phía sau lưng bằng một sợi xích sắt bọc chì, đầu xích còn lại néo chặt vào một cọc neo ghim thẳng xuống đáy móng. Hộp sọ hơi ngửa ra phía sau, hai hốc mắt sâu hoắm hướng thẳng về phía lỗ hổng nơi tôi vừa phá vỡ, hàm dưới mở toang trong một tư thế gào thét câm lặng vĩnh viễn.

Toàn bộ khung xương sườn bị ép chặt bởi những thanh giằng kim loại hình chữ X, ghim cố định thân xác vào cây cột sắt thẳng đứng cắm xuyên từ bệ đá lên tận đỉnh vòm bát giác. Trên mặt các thanh kim loại gỉ sét còn khắc chi chít những biểu tượng phong thủy bát quái và những dòng ký tự số hiệu quân sự viết bằng sơn đỏ đã bong tróc một nửa.

Tôi run rẩy đưa chùm sáng rọi xuống phần ngực của bộ hài cốt.

Giữa những rẻ xương sườn khô khốc, phủ một lớp vải mục nát màu nâu sẫm của tà áo dài truyền thống thời xưa, một sợi dây chuyền bạc mảnh mai vẫn còn nguyên vẹn, buông thõng trên nền xương xám. Mặt dây chuyền là một miếng bạc hình bầu dục bị ố đen bởi thời gian và khí lưu huỳnh, nằm áp chặt vào vị trí từng là lồng ngực của người quá cố.

Bàn tay tôi đeo găng cao su run rẩy thò qua lỗ hổng bê tông, chạm nhẹ vào bề mặt kim loại lạnh ngắt. Đầu ngón tay tôi cẩn thận gạt đi lớp bụi vôi bám dày trên mặt dây chuyền bạc.

Dưới ánh đèn pin sáng rực, những dòng chữ khắc tay tỉ mỉ hiện lên rõ mồn một:

"Lê Thị Mai - Sinh năm 1951 - Vĩnh viễn bên anh."

Cổ họng tôi khô khốc, một cảm giác đắng nghét trào ngược lên tận sống mũi. Đôi mắt tôi mờ đi khi những mảnh ghép tàn nhẫn của quá khứ tự động ráp nối lại trong đầu.

Lê Thị Mai. Tên người con gái Việt Nam trẻ tuổi trên căn phòng gác mái tầng mười ba của Building President.

Suốt hơn bốn mươi năm qua, những lời đồn thổi truyền miệng khắp khu Chợ Lớn đều nói rằng cô gái ấy đã trầm mình từ tầng cao nhất của tòa nhà xuống mặt đường Trần Hưng Đạo trong đêm quân đội đồng minh rút quân vào mùa xuân năm 1972 vì tuyệt vọng và bị phụ tình. Người ta kể về bóng ma áo trắng lướt đi trên hành lang tầng mười ba, về tiếng khóc than ai oán trong những đêm mưa gió trút xuống khu chung cư mục nát.

Tất cả chỉ là một màn kịch dối trá ghê tởm được dựng lên nhằm che đậy một tội ác man rợ của những kẻ thi công công trình năm ấy.

Cô không hề nhảy lầu tự vẫn. Cô chưa từng bước chân ra khỏi tòa nhà này để tìm đến cái chết trên mặt đường nhựa.

Người phụ nữ ấy đã bị lừa xuống tầng hầm, bị trói chặt bằng xích sắt bọc chì vào cây cột định vị long mạch, rồi bị chôn sống ngay bên trong khối bê tông tươi khi cỗ xe bồn cuối cùng xả vữa vào lòng móng công trình trong đêm định mệnh năm 1972. Đội thi công công병 của quân đội thời bấy giờ, dưới sự chỉ dẫn của những kẻ nghiên cứu thuật trấn yểm đô thị, đã dùng chính mạng sống của cô làm vật hiến tế huyệt đạo, biến thân xác cô thành một vật dẫn tâm linh để ghim chặt long mạch Sài Gòn đang rung chuyển dữ dội trước sự sụp đổ của một chế độ.

Họ đã đúc khối bê tông mác cao dày hai mươi tư centimet bọc kín xung quanh khoang sắt, để cô cào cấu trong tuyệt vọng giữa bóng tối đặc quánh, giữa tiếng rầm rập của những động cơ xe quân sự và mùi vôi sống đang sôi sục thiêu đốt dần nguồn dưỡng khí cuối cùng. Ba tiếng gõ kim loại sắc nhọn mà tôi vừa nghe lúc nãy chính là dư âm từ nhát búa hoặc chiếc then sắt mà cô đã dùng hết chút tàn lực để đập vào thành hộp thép trước khi trút hơi thở cuối cùng bốn mươi tư năm về trước.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má tôi, rơi xuống mặt kính chắn bảo hộ, hòa vào làn nước bùn tanh tưởi dưới chân.

Ông nội tôi từng ở đây. Ông từng đứng gác ngay bên ngoài cánh cửa sắt dẫn xuống gian hầm này trong đêm chiếc xe bồn xả vữa. Những cơn mê sảng đứt quãng, những tiếng nấc nghẹn ngào và đôi mắt thất thần nhìn vào khoảng không vô định của ông trước giờ lâm chung trên giường bệnh ở California không phải là di chứng của chất độc hóa học hay hội chứng sang chấn chiến tranh đơn thuần. Đó là sự cắn rứt của một kẻ đồng lõa, một người lính đã bất lực chứng kiến tội ác man rợ diễn ra ngay dưới chân mình mà không thể cất lên tiếng nói ngăn chặn.

Dòng máu đang chảy trong huyết quản tôi mang một nửa tội lỗi của những kẻ đã dựng nên cỗ quan tài bê tông này. Tòa nhà mười ba tầng với năm trăm ba mươi căn phòng suy tàn phía trên không thể sụp đổ một cách bình thường, bởi vì phần móng của nó bị đóng đinh bởi một mối oán hận quá lớn, bị trói buộc bởi những mắt xích tà thuật tàn bạo nhất mà con người từng nghĩ ra để áp đặt lên quy luật phong thủy của vùng đất này.

Tôi nghiến chặt răng, buông mặt dây chuyền bạc xuống ngực bộ hài cốt.

Luồng khí lạnh trong khoang rỗng dường như đang tụ lại quanh người tôi, vần vũ trên mặt nước đen ngòm. Những tiếng rên xiết u u bắt đầu phát ra từ các thanh giằng sắt rỉ sét, như thể hàng ngàn linh hồn bị kìm kẹp dưới chân móng suốt nửa thế kỷ qua đang cùng lúc thức tỉnh, đòi lại món nợ sinh mạng từ những kẻ xây dựng.

Nước dưới chân tôi dâng cao thêm một tấc, tràn ngập gần đến cằm. Các dầm bê tông phía trên trần gian hầm phát ra những âm thanh nứt gãy răng rắc, báo hiệu sự mất cân bằng tải trọng nghiêm trọng khi lớp vỏ ngoài của cột trụ trung tâm bị đục thủng. Đất đá vụn từ vòm trần rơi tõm xuống nước, bắn bọt tung tóe.

Thời gian của tôi không còn nhiều. Nếu không triệt tiêu cấu trúc phong ấn này ngay bây giờ, toàn bộ khối kiến trúc mười ba tầng phía trên sẽ đổ ụp xuống, chôn vùi tôi cùng bí mật đen tối của Building President vĩnh viễn dưới lòng bùn lầy Chợ Lớn.

Tôi quay người, thò tay với lấy chiếc búa tạ hạng nặng bằng thép tôi cứng nặng mười lăm cân đang được gác trên thanh giầm ngang phía sau lưng. Cán búa bằng gỗ sồi dài một mét, đầm chắc và lạnh ngắt trong lòng bàn tay tôi.

Tôi đứng thẳng người giữa dòng nước đen ngập sâu, đôi mắt mở trừng trừng nhìn vào mắt xích sắt bọc chì đang trói chặt phần xương sống của bộ hài cốt vào cây cột neo định vị long mạch.

Mắt xích đó chính là tử huyệt của toàn bộ trận đồ trấn yểm.

Chỉ cần đập tan mắt xích trung tâm, cắt đứt sự liên kết giữa cọc sắt và xương cốt của người hiến tế, phong ấn sẽ hoàn toàn sụp đổ. Linh hồn bị giam cầm của cô gái tầng mười ba sẽ được giải thoát khỏi bóng tối của khối bê tông ngột ngạt này.

Tôi giơ cao chiếc búa tạ lên khỏi mặt nước, dồn toàn bộ sức mạnh từ đôi vai, từ lồng ngực đang rực cháy sự phẫn nộ và nỗi ân hận truyền kiếp của người lính năm xưa vào nhát đánh sắp tới.

Các cơ bắp trên cánh tay tôi căng cứng như dây đàn. Tiếng rên xiết từ lòng đất dội lên chói tai, mặt nước cuộn sóng dữ dội xô mạnh vào ngực áo bảo hộ, nhưng hai bàn tay tôi vẫn giữ chặt chuôi búa thép, nhắm thẳng vào vòng xích rỉ sét lạnh buốt trước mặt.

Chương khác

Xem thêm