Chung Cư 727 - Chương 14: Phong Thủy Đô Thị Mỹ Dùng Trấn Giữ Tòa Nhà
Cơn mưa dầm rả rích giữa đêm cuối năm đổ xuống đại lộ Trần Hưng Đạo biến mặt đường thành tấm gương đen sẫm phản chiếu ánh đèn vàng vọt của khu phố Chợ…
Nội dung chương
Cơn mưa dầm rả rích giữa đêm cuối năm đổ xuống đại lộ Trần Hưng Đạo biến mặt đường thành tấm gương đen sẫm phản chiếu ánh đèn vàng vọt của khu phố Chợ Lớn. Khối nhà mười ba tầng của chung cư 727 đứng trơ trọi giữa màn nước xối xả, lớp vôi vữa bên ngoài ngấm no nước mưa bắt đầu mềm nhũn, bong tróc từng mảng lớn rơi lịch bịch xuống nền bê tông tầng trệt. Mùi hôi thối của rác rưởi lưu cữu hàng chục năm cùng mùi ẩm mốc nồng nặc bốc lên từ các hốc tường nứt toác, xộc thẳng vào mũi tôi qua lớp khẩu trang than hoạt tính dày ba lớp.
Tôi luồn qua hàng rào tôn bao quanh công trường, bấm chốt đèn pin công nghiệp gắn trên mũ bảo hộ. Luồng ánh sáng trắng xanh quét dọc theo hành lang tầng trệt ngập ngụa nước bẩn. Tôi bước từng bước nặng nề hướng về phía cầu thang bộ phía Tây. Nhóm thợ của Thắng và Bình rút lui để lại toàn bộ giàn giáo dựng dở dang, những thanh sắt han rỉ kêu kin kít mỗi khi gió mưa thổi thốc qua các ô cửa sổ vỡ nát. Tôi không chọn đi thang máy công vụ tạm bợ ngoài trời vì nguồn điện đã bị ngắt hoàn toàn sau sự cố cháy lưỡi cưa trên tầng mười hai. Lối duy nhất để tiếp cận vùng lõi là đôi chân của chính mình.
Bậc thang bê tông dẫn từ tầng trệt lên các tầng trên đã mòn vẹt mép, lớp đá mài trơ trọi những thanh cốt thép rỉ sét ngoi lên chực chờ đâm rách đế ủng. Nước mưa từ tầng mười ba xối thẳng xuống theo các khe hở sàn nứt nẻ, chảy thành dòng đặc quánh bùn đất dọc theo sống lưng các vách tường chịu lực. Càng lên cao, không khí càng ngột ngạt và nặng trĩu áp suất âm kỳ dị. Cứ mỗi tầng lầu vượt qua, tiếng còi xe bên ngoài mặt đường Trần Hưng Đạo lại nhỏ dần đi một bậc, nhường chỗ cho tiếng nước rỉ tí tách và tiếng rít rền rĩ của những luồng gió bị ép qua các ống thông hơi chật hẹp.
Tầng bốn, tầng năm rồi tầng sáu trôi qua trong bóng tối quánh đặc. Toàn bộ các hộ dân đã dọn đi hết từ đợt cưỡng chế di dời khẩn cấp, để lại những căn phòng trống hoác không còn cửa ra vào. Quần áo rách, bàn ghế gãy mục, khung ảnh gia đình bỏ xó và vô số mảnh xà bần nằm la liệt dọc lối đi chung. Đến tầng bảy, dòng nước chảy xiết từ cầu thang đột ngột rẽ sang một hướng khác, biến mất hút vào một lỗ thủng lớn trên sàn hành lang. Tôi dừng lại lấy hơi, điều chỉnh quai đeo của ba lô đồ nghề trên vai. Chiếc búa đục mini bằng thép tôi cùng cuộn dây thừng bện hai mươi mét nặng trịch ghì sát vào lưng tôi, nhắc nhở về nhiệm vụ sống còn mà cuốn sổ da của Thomas đã vạch ra.
Tôi tiếp tục leo lên tầng tám.
Cửa ngõ dẫn vào hành lang tầng tám gần như bị bít kín bởi một đống phế thải sinh hoạt cao ngang thắt lưng. Nước mưa từ trần nhà dột xuống tạo thành những vũng nước tù đọng đen ngòm, sủi bọt khí tanh tưởi khắp mặt sàn xi măng. Tôi rút cây xà beng ngắn giắt bên hông, gạt từng bó giẻ rách mục nát và những tấm ván ép mốc xanh để mở đường bước vào. Đế ủng cao su của tôi dẫm lún sâu vào lớp bùn nhão, phát ra những tiếng bì bõm ướt át vang dội khắp dãy hành lang hun hút không một bóng người.
Dưới ánh đèn pin lướt qua mặt sàn, hàng chục chiếc ống tiêm nhựa cũ kỹ trơ kim tiêm rỉ sét cắm xiên vẹo giữa các kẽ rác và xác chuột chết khô. Nơi đây từng là góc khuất trú ngụ của những kẻ nghiện ngập lang thang suốt nhiều năm trước khi lệnh tháo dỡ được ban hành. Mỗi bước đi đòi hỏi sự cẩn trọng cao độ; một cú trượt chân hay một mũi kim đâm thủng lớp cao su bảo hộ đều có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Tường vôi hai bên hành lang ngấm đẫm nước mưa nhũn ra như bột trét ẩm, sờ tay vào là từng mảng bột vôi rụng lả tả, để lộ phần gạch thẻ đỏ quạch bám đầy rêu đen ẩm ướt.
Tôi lần theo sơ đồ Thomas đã vẽ trong cuốn sổ tay, tiến sâu vào trung tâm của tầng lầu. Theo bản vẽ quân sự năm 1972, vị trí giếng trời trung tâm nằm chính xác tại điểm giao giữa bốn khối nhà, tạo thành một ống rỗng thẳng đứng xuyên suốt từ đỉnh mái tầng mười ba cắm xuống lòng đất. Khi đứng cách tâm giếng trời khoảng năm mét, một luồng gió lạnh buốt từ dưới bốc ngược lên tạt thẳng vào mặt tôi, mang theo mùi tanh nồng của kim loại rỉ sét và chất dịch thối rữa quen thuộc mà tôi từng ngửi thấy trên tầng mười hai.
Miệng giếng trời tầng tám hiện ra trước mắt tôi như một cái hố đen ngòm khổng lồ.
Đây thực chất là một phễu hút rác tự phát mà hàng trăm hộ dân từng sử dụng suốt hơn bốn mươi năm qua. Khung giếng hình vuông mỗi cạnh rộng hơn bốn mét, xung quanh được vây bằng một lan can sắt bảo vệ thấp tè, rỉ ngoen rỉ ngoét và xiêu vẹo. Toàn bộ phần lòng giếng phía dưới tối om sâu hoắm, không một tia sáng nào từ bên ngoài có thể lọt vào được. Tiếng nước mưa dầm từ các tầng trên rơi tõm xuống đáy sâu vọng lại những âm thanh trầm đục, khô khốc.
Tôi cúi người xuống, rọi đèn pin kiểm tra kết cấu mép sàn bê tông quanh miệng giếng. Bê tông ở đây bị phong hóa nặng nề, lớp bảo vệ đã biến mất hoàn toàn, trơ trọi các sợi thép gỉ đan chéo nhau nham nhở. Nước tù đọng trên sàn tầng tám đang cuồn cuộn đổ dồn về miệng giếng này như một chiếc phễu khổng lồ.
Bỗng nhiên, gót ủng của tôi đạp trúng một mảng rêu nhớt bám trên mép gạch vỡ.
Lực ma sát biến mất trong chớp mắt. Toàn bộ trọng lượng cơ thể tôi cùng ba lô đồ nghề nặng trịch mất thăng bằng, đổ ập về phía khoảng không hun hút. Tôi vội vã vung tay chộp lấy thanh lan can sắt để tìm điểm tựa, nhưng mối hàn gỉ mục ở chân cột không chịu nổi lực giật, gãy rắc một tiếng khô khốc. Tôi ngã chúi đầu xuống miệng giếng trời.
Gió rít bạt mạng bên tai. Bản năng sinh tồn khiến tôi co gập người, hai tay ôm chặt lấy đầu và lồng ngực.
Rầm!
Một cú va đập cực mạnh giáng thẳng vào lưng và hông tôi, làm phổi tôi nghẹn ứ, không khí bị tống ngược ra ngoài thành một tiếng thét nghẹn ngào. Tôi không rơi tự do xuống tận đáy móng. Thân thể tôi mắc kẹt lại trên một tấm lưới thép chắn rác cũ kỹ căng ngang trục giếng ở cao độ ngang tầm sàn tầng tám. Tấm lưới bằng sợi thép đường kính năm milimét đan ô vuông, phủ đầy một lớp rác dày cộm gồm túi nilon, vải vụn, bao bì nhựa và xác động vật thối rữa đóng thành bánh nhầy nhụa. Cú rơi làm tấm lưới chùng hẳn xuống, phát ra những tiếng cót két ghê rợn khi các mối neo sắt cắm vào dầm bê tông bốn góc giếng bị kéo căng hết mức.
Bụi rác và mùi xú uế bốc lên nồng nặc làm mắt tôi cay xè. Chiếc đèn pin gắn trên mũ bảo hộ may mắn không bị vỡ, luồng ánh sáng vẫn hắt xiên lên vách tường bê tông ẩm ướt đối diện. Tôi nằm bất động mất vài chục giây để lấy lại nhịp thở, lắng nghe tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực. Từng khớp xương ê ẩm như vừa bị một khối tạ nghiền nát, nhưng xương cốt dường như vẫn nguyên vẹn, không có dấu hiệu gãy nứt.
Tôi cẩn thận chống tay nhổm dậy, kiểm tra độ chắc chắn của tấm lưới chắn rác dưới chân. Lớp rác mục rữa dưới lưng tôi phát ra tiếng sột soạt nhớp nháp. Tấm lưới này vốn được ban quản trị chung cư lắp đặt từ nhiều thập kỷ trước để ngăn rác thải cỡ lớn rơi xuống làm tắc nghẽn đáy cống tầng hầm. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ xuống phần kết cấu chịu lực của chính tấm lưới, tôi nhận ra một điều hoàn toàn bất thường đối với một công trình dân dụng tiêu chuẩn.
Lớp rác bẩn bên trên chỉ là vỏ bọc bên ngoài. Ngay sát dưới những ô lưới thép chắn rác thông thường là một mạng lưới dây cáp bọc đồng chằng chịt, đan kết dày đặc như một mạng nhện kim loại khổng lồ bám chặt lấy lõi công trình.
Những sợi cáp này to bằng ngón tay cái người lớn, vỏ ngoài bọc một lớp cao su lưu hóa màu đen đã nứt nẻ vì thời gian, để lộ ra những bó dây đồng đỏ au sáng quắc bên trong, không hề bị rỉ xanh dù ngâm trong nước mưa dầm và axít từ rác thải suốt nửa thế kỷ. Chúng không được giăng mắc ngẫu nhiên. Từng đường dây đều bắt nguồn từ bốn góc cột bê tông cốt thép chịu lực chính của trục giếng trời, chạy chéo góc đan xen vào nhau theo một trật tự hình học vô cùng chặt chẽ. Mỗi nút giao của các sợi cáp đều được cố định bằng một khớp nối đồng thau đúc nguyên khối, trên bề mặt có dập nổi các ký hiệu quân sự bằng chữ cái tiếng Anh và con số kỹ thuật.
Tôi quỳ gối trên đống rác mục, đưa tay chạm vào khớp nối kim loại gần nhất.
Một cảm giác tê rần chạy dọc từ đầu ngón tay truyền thẳng lên cổ tay tôi. Đó là một dòng điện cảm ứng cực yếu nhưng liên tục, chứng tỏ hệ thống tiếp địa và thu dẫn năng lượng này vẫn đang duy trì sự sống. Mạng lưới cáp đồng này chính là cái mà Thomas đã ghi chú trong cuốn sổ tay: *Lõi cân bằng áp suất*. Chúng được quân đội Mỹ thiết kế để gom toàn bộ chấn động cơ học và dòng năng lượng tản mác từ mười ba tầng lầu dồn thẳng vào trục rỗng trung tâm.
Tôi bật thêm cây đèn pin cầm tay công suất lớn, rọi sâu hơn xuống phần phễu hút nằm giữa tầng tám và tầng sáu. Càng xuống sâu, lòng giếng trời càng thu hẹp lại theo dạng một hình nón cụt lộn ngược. Bốn vách tường bê tông bao quanh giếng không được trát phẳng mà xây giật cấp, từng lớp gạch thẻ lồi lõm tạo thành các gờ rãnh định hướng cho dòng nước mưa và không khí xoáy tròn khi rơi xuống.
Giữa khoảng không hun hút bên dưới tấm lưới chắn rác, cách vị trí tôi đang ngồi khoảng hai mét về phía vách tường hướng Nam, một vật thể lạ mắc kẹt giữa các vòng cáp đồng rỉ sét lập tức thu hút ánh nhìn của tôi.
Đó là một dải vải dài, bị kẹp chặt giữa khớp nối kim loại ba chạc và một thanh giằng thép neo vào tim cột.
Tôi trườn người cẩn thận trên mặt lưới chắn rác, phân bổ đều trọng lượng để tránh làm đứt những mắt lưới đã mục gỉ. Nước mưa từ trên đỉnh đầu tiếp tục dội xuống, xối qua khe mũ bảo hộ chảy ròng ròng xuống cổ áo tôi lạnh toát. Tôi vươn cánh tay phải ra hết mức, luồn các ngón tay qua khe hở của mạng cáp đồng để chạm tới dải vải.
Đầu ngón tay tôi chạm vào thớ vải.
Một luồng hơi lạnh thấu xương lập tức truyền qua lớp găng tay bảo hộ dày cộm, cắm phập vào da thịt tôi như một mũi kim băng. Cơn buốt giá đột ngột đến mức các cơ bắp ở cánh tay tôi co giật mạnh, suýt chút nữa khiến tôi buông tay ngã nhào xuống đáy sâu. Tôi nghiến chặt răng, nắm lấy mép vải và giật nhẹ.
Vải không hề bị mủn. Dù bị vùi lấp dưới hàng tấn rác rưởi ứ đọng, bùn đất đen ngòm và nước mưa xối xả suốt hơn bốn mươi năm, chất liệu của nó vẫn giữ nguyên độ dai và độ trơn láng đặc trưng của lụa tơ tằm thượng hạng. Tôi kéo mạnh thêm một lần nữa. Khớp nối kim loại kêu rít lên một tiếng khô khốc rồi nhả mép vải ra.
Tôi thu tay lại, đưa dải vải lên sát trước mặt để soi đèn pin.
Đây là một vạt áo dài bằng lụa trắng.
Vạt áo bị xé rách nham nhở ở phần viền tà, bề mặt vấy đầy những vệt bùn đất đen sì lẫn cặn dầu máy công nghiệp. Nhưng bên dưới lớp bùn nhầy nhụa đó, sắc trắng ngà nguyên thủy của tấm lụa vẫn hiện rõ mồn một. Khi tôi dùng ngón tay miết nhẹ lên bề mặt vải, nó tỏa ra một cảm giác ươn ướt, nhớp ráp kỳ dị, như thể tấm lụa này vừa mới được vớt lên từ một vũng máu tươi chưa kịp khô. Hơi lạnh từ thớ vải tỏa ra xung quanh làm hạ nhiệt độ cục bộ trong lòng giếng trời, biến hơi thở của tôi thành từng làn sương mỏng phả ra giữa không trung.
*Vạt áo của vật tế.*
Câu chữ trong cuốn sổ da của Thomas dội thẳng vào tâm thức tôi. Đây chính là mảnh áo của người phụ nữ tầng mười ba mà bà Năm thợ may đã nhắc tới. Đêm hôm đó năm 1972, khi gieo mình vào lòng giếng trời này, thân thể bà ta đã va đập dữ dội vào hệ thống dây cáp đồng tầng tám. Cú va chạm kinh hoàng đã xé rách vạt áo dài, để lại dấu tích này kẹt cứng giữa nút thắt của mạng lưới dẫn truyền năng lượng.
Tôi cẩn thận gấp gọn vạt áo dài dính bùn, nhét sâu vào túi trong của áo khoác bảo hộ, cài chặt nút bấm kim loại. Hàn khí từ vạt áo ngấm qua lớp vải kaki dày, áp thẳng vào lồng ngực tôi làm tim tôi nhói lên từng cơn buốt nhức. Cỗ máy trấn yểm này không chỉ vận hành bằng kim loại và bê tông. Nó lấy sinh mạng và huyết nhục làm chất xúc tác để trói buộc cấu trúc hình học của toàn bộ tòa nhà.
Tôi ngẩng đầu lên, tiếp tục soi đèn pin rà soát đường đi của các sợi cáp đồng.
Từ nút thắt ba chạc nơi vạt áo vừa được gỡ ra, một sợi cáp đồng có đường kính lớn nhất - bọc lớp vỏ cách điện màu đỏ sẫm đã ngả sang màu nâu đen - tách khỏi mạng nhện trung tâm. Thay vì chạy thẳng xuống đáy móng như các sợi cáp tiếp địa thông thường, sợi cáp đỏ này bẻ một góc vuông chín mươi độ, chạy men theo dầm chịu lực của sàn giếng trời rồi đâm xiên xuống phía dưới.
Đường đi của nó nhắm thẳng vào cao độ tầng bảy.
Tôi rọi đèn theo hướng đi của sợi cáp. Luồng ánh sáng trắng xanh chiếu xuyên qua màn mưa dầm, rọi thẳng vào một khối kiến trúc kỳ quặc nằm ngay bên dưới vị trí tôi đang ngồi. Tại tim trục tầng bảy, nơi lẽ ra phải là một khoảng không gian trống để thông gió cho hành lang, lại xuất hiện một bức tường ngăn dày bất thường. Bức tường này xây bằng gạch thẻ đặc, không có bất kỳ cửa sổ hay lỗ thông khí nào, bịt kín hoàn toàn một góc của giếng trời.
Sợi cáp đồng lớn nhất bắt nguồn từ nút thắt giếng trời đâm thẳng qua lớp vữa xám xịt, cắm sâu vào tâm của bức tường ngăn tầng bảy đó.
Gió đêm lại thốc mạnh từ dưới đáy giếng lên, mang theo tiếng rên rỉ trầm đục phát ra từ sâu bên trong khối gạch thẻ tầng dưới. Tiếng động nghe như tiếng kim loại bị bẻ cong dưới một tải trọng khổng lồ, rền rĩ và ngột ngạt. Bức tường đó đang giấu một thứ gì đó bên trong tim trục, một mắt xích then chốt điều khiển toàn bộ dòng chảy áp lực của tòa nhà trước khi truyền xuống chân móng.
Tôi nắm chặt thanh giằng sắt bên mép giếng, bắt đầu dùng cả hai tay và hai chân bám vào các gờ bê tông để leo ngược trở lại sàn tầng tám. Tấm lưới sắt dưới chân rung lên bần bật theo từng cử động của tôi. Tôi phải xuống tầng bảy ngay lập tức. Búa tạ và máy đục đã sẵn sàng trong bao tải đồ nghề dưới chân cầu thang. Bức tường ngăn kỳ quặc kia không thể tiếp tục đứng vững nếu tôi muốn phá vỡ cỗ máy này trước khi trời sáng.