Chung Cư 727 - Chương 13: Đội Thi Công Mỹ Trước Khi Rút Đi
Căn phòng trọ tôi thuê nằm sâu trong con hẻm đường Huỳnh Mẫn Đạt, cách chung cư 727 chừng bốn trăm mét. Đó là một gian phòng ẩm thấp chừng mười lăm mét…
Nội dung chương
Căn phòng trọ tôi thuê nằm sâu trong con hẻm đường Huỳnh Mẫn Đạt, cách chung cư 727 chừng bốn trăm mét. Đó là một gian phòng ẩm thấp chừng mười lăm mét vuông, vách tường bong tróc từng mảng vôi lớn để lộ lớp gạch đỏ mục ruỗng. Bên ngoài, hơi nóng hầm hập của Chợ Lớn về đêm bốc lên từ lòng cống, quyện với mùi dầu mỡ chiên xào và khói xe nồng nặc.
Tôi cởi chiếc áo bảo hộ bám đầy bụi xi măng, ném mạnh xuống góc sàn gạch hoa cũ. Bụi đá li ti bay lên, lơ lửng dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn bàn kỹ thuật công suất lớn. Cả hai khớp vai tôi rã rời sau cú giằng co với cưa đĩa trưa nay trên tầng mười hai. Lớp da ngón tay rỉ máu đã khô cứng lại, kéo căng từng thớ thịt rát buốt mỗi lần tôi gập đốt ngón.
Trên chiếc bàn gỗ ép ọp ẹp, tôi trải phẳng tấm bản vẽ thiết kế gốc của Building President mà tôi sao chép lại từ kho lưu trữ của Sở Xây dựng. Cạnh đó là cuốn sổ tay bọc da màu xanh rêu sẫm tìm thấy trong hốc tường căn hộ tầng mười ba, cùng chiếc kính lúp kỹ thuật và cây thước đo tỷ lệ bằng thép không gỉ.
Bìa da của cuốn sổ cứng quắt vì ngấm nước mưa và hơi ẩm qua hơn bốn mươi năm. Lớp nấm mốc xanh xám bám chặt trên từng đường chỉ khâu bằng sợi gai dù quân sự. Khi tôi cẩn thận lật từng trang giấy dó ngả màu vàng sẫm, mùi lưu huỳnh, mùi mực in gốc dầu cùng thứ mùi tanh lợm đặc trưng của xác động vật chết khô bốc lên xộc thẳng vào mũi.
Tôi bật công tắc chiếc đèn bàn, bẻ gập cổ đèn kim loại để luồng sáng trắng rọi thẳng vào bề mặt giấy.
Những trang đầu tiên chứa đầy các sơ đồ đo đạc trắc địa của khu vực Quận 5 vào năm 1968, do công binh thuộc Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam lập nên. Từng nét vẽ bằng mực đen sắc nhọn thể hiện mạng lưới đường cống ngầm, các rạch nước tù đọng nối ra kênh Tàu Hủ, cùng những trục đường huyết mạch bao quanh Building President. Nhưng càng đi sâu vào các trang giữa, các ký hiệu kỹ thuật thuần túy bắt đầu biến dạng.
Người vẽ không dùng hệ quy chuẩn kiến trúc hiện đại thông thường. Những đường gióng trục cao độ không đo bằng mét hay feet, mà được tính toán dựa trên tọa độ thiên văn và các đồ hình bát quái kết hợp hình học dị thường.
Tôi dùng kính lúp soi vào trang bản vẽ mặt cắt đứng của tòa nhà. Bên dưới dòng tiêu đề "Sơ đồ ba trí kết cấu Building President - Hiệu chỉnh tháng 3 năm 1972", một dòng chữ viết tay bằng mực bút máy màu xanh đen hiện rõ nét chữ nghiêng quen thuộc của ông nội tôi:
*Hệ thống thu gom dòng chuyển vị - Cấu trúc mười ba tầng lập thể.*
Mắt tôi bám chặt vào từng con số. Tòa nhà có tổng cộng mười ba tầng nổi, năm trăm ba mươi căn phòng ngủ. Trước đây, khi nhìn vào hồ sơ lưu trữ dân sự, tôi nghĩ con số năm trăm ba mươi phòng đơn thuần là kết quả của việc chia nhỏ không gian nhằm tối đa hóa diện tích cho thuê của ông Nguyễn Tấn Đời. Nhưng nhìn vào mặt bằng phân ba phòng trên bản vẽ này, cấu trúc thực sự lộ diện với một trật tự bệnh hoạn.
Mỗi tầng lầu không hề được ba trí đối xứng qua trục hành lang trung tâm. Các vách ngăn phòng bằng gạch xi măng vát một góc nghiêng mười hai độ năm mươi lăm phút so với phương vị bắc nam. Nếu nối tâm của tất cả bốn mươi căn hộ trên mỗi tầng lại với nhau bằng một nét vẽ liên tục, đường cong đó tạo thành một hình xoắn ốc Fibonacci thu hẹp dần về phía tâm.
Và tâm điểm của toàn bộ hệ thống xoắn ốc đó rơi trúng vào một điểm duy nhất: trục giếng trời và phễu xả rác trung tâm.
Tôi với tay lấy cây compa thép, đặt mũi nhọn vào tâm giếng trời trên bản vẽ tầng một rồi quay từng vòng đồng tâm ra ngoài mép tường bao. Từng đường cung quét qua các vị trí đặt giường ngủ của sĩ quan Mỹ năm xưa. Cứ mỗi tầng nâng cao lên, bán kính của hình xoắn ốc lại nở rộng ra đúng ba gang tay kỹ thuật.
Đây không phải sơ đồ phân bổ nhà ở dân dụng. Toàn bộ năm trăm ba mươi căn phòng được xây dựng cố ý như những cánh đón sóng của một chiếc ăng-ten khổng lồ.
Chiếc ăng-ten này hướng thẳng lên bầu trời Sài Gòn, nhưng không tiếp nhận sóng vô tuyến. Từng góc nhọn mười hai độ của mỗi vách tường gạch đóng vai trò như một phễu gom gió và âm thanh. Trong suốt những năm tháng chiến tranh bom đạn rền vang, nỗi sợ hãi, tiếng rên xiết của thương bệnh binh, oán hận và tử khí của cả vùng đô thị Chợ Lớn bị hút vào các khung cửa sổ hướng tây nam, cuốn dọc theo các hành lang dài hun hút thiếu dưỡng khí, rồi ép chặt vào trục thông gió trung tâm.
Tôi hít một hơi thật sâu, lồng ngực thắt nghẹn lại. Bụi giấy cũ bay lơ lửng dưới ánh đèn khiến cuống họng tôi khô khốc.
Khối kiến trúc này là một cỗ máy ngưng tụ sinh khí và tử khí nhân tạo. Người Mỹ vào năm 1972 hiểu rất rõ vị trí phong thủy hiểm hóc của khu đất số 727. Nằm ngay giao lộ của các mạch nước ngầm đục ngầu thông ra kênh rạch, công trình này hứng trọn luồng xung sát từ các ngả đường đổ về. Thay vì dùng các biện pháp hóa giải truyền thống, các kỹ sư quân sự cùng chuyên gia huyền thuật phương Tây đã biến toàn bộ khối nhà mười ba tầng thành một cái vòi hút ngược.
Họ gom sạch năng lượng sống của người cư ngụ, ép nó chảy xuôi theo phương thẳng đứng.
Tôi lật tiếp sang trang sau. Giấy dó ở trang này mỏng dính, dính bết vào nhau bởi một lớp keo chống thấm màu hổ phách. Tôi dùng đầu dao trổ nhẹ nhàng tách mép giấy. Một bản vẽ chi tiết hơn đập vào mắt tôi: sơ đồ áp suất năng lượng dọc theo chiều cao mười ba tầng.
Ở cột chú giải bên phải, Thomas ghi chú chi tiết bằng tiếng Anh quân sự pha lẫn thuật ngữ hình học thần bí. Từng nét chữ gãy gọn, dứt khoát hằn sâu xuống thớ giấy:
*Tầng 13: Đỉnh thu chấn động. Điểm hội tụ của áp lực âm. Vật tế giữ vai trò chốt khóa chuyển hóa sinh khí thành lực ép thẳng đứng.*
*Từ tầng 12 xuống tầng 2: Hệ thống mười một tầng tiêu giảm động năng. Mỗi sàn bê tông cốt thép dày hai mươi phân đóng vai trò như một lớp màng ngăn thẩm thấu ngược, ngăn không cho áp lực oán linh trào ngược trở lại không gian đô thị.*
*Tầng 1 và tầng hầm: Điểm tiếp nhận cuối cùng. Huyệt mộ trung tâm.*
Dưới sơ đồ, một dòng ghi chú bằng bút máy mực xanh đậm hơn, nét chữ run rẩy hơn hẳn những trang trước, được Thomas viết bổ sung vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 1972:
*Quy tắc tháo dỡ bắt buộc: Tuyệt đối không được phá vỡ cấu trúc theo trật tự từ trên xuống dưới. Mỗi tầng bê tông bị đánh sập từ trên cao sẽ lập tức phá hủy một lớp màng ngăn giảm áp. Khi mất đi sức nặng đối trọng của tầng trên, toàn bộ áp lực oán linh dồn nén suốt nhiều năm sẽ không tiêu biến ra không khí. Chúng sẽ bị nén cưỡng bức xuống các tầng thấp hơn với mật độ tăng theo cấp số nhân.*
Tôi buông rơi cây bút chì trên tay. Chiếc bút lăn lông lốc trên mặt bàn gỗ rồi rơi xuống nền đất với một tiếng cạch khô khốc.
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng tôi.
Từ đầu tuần đến nay, theo đúng quy trình phá dỡ công trình thông thường được duyệt bởi ban chỉ huy công trường, đội thợ của chúng tôi đã tiến hành đập phá từ tầng mười ba xuống. Chúng tôi dùng búa tạ đánh vỡ các bức tường bao, cắt bỏ các dầm giằng mái, đục tung sàn bê tông căn hộ của người phụ nữ áo trắng.
Chúng tôi tưởng rằng đập bỏ từ đỉnh tháp là phương án an toàn nhất để tránh sập đổ cục bộ cho các hộ dân chung quanh. Nhưng đối với cỗ máy phong thủy này, việc phá hủy tầng mười ba và bắt đầu cưa cắt dầm tầng mười hai đồng nghĩa với việc chúng tôi vừa giật tung hai nắp van xả áp lực quan trọng nhất.
Thay vì giải phóng tòa nhà, nhát búa của chúng tôi đã đẩy toàn bộ khối oán khí bị giam hãm suốt nửa thế kỷ dồn ngược xuống dưới.
Đó là lý do tại sao trưa nay, khi lưỡi cưa đĩa chạm vào thanh dầm thép tầng mười hai, dầu máy lại bốc cháy và bê tông rỉ ra thứ nước nhờn đen ngòm. Đó cũng là lý do bộ giàn giáo tự nhiên rung chuyển dữ dội dù không hề có gió lốc. Lực nén không mất đi. Nó đang bị dồn ép với cường độ khủng khiếp hơn vào các tầng bên dưới, biến từng thanh dầm cốt thép còn lại thành những chiếc lò xo chịu tải quá mức.
Nếu chúng tôi tiếp tục dùng máy xúc và búa thủy lực đập phá tầng mười một và tầng mười theo tiến độ cơ học, áp lực dồn nén xuống tầng trệt và tầng hầm sẽ vượt qua giới hạn chịu đựng của kết cấu ngầm. Khối móng bê tông của Building President sẽ vỡ tung từ bên trong lòng đất, kéo theo sự sụp đổ thảm khốc của toàn bộ cấu trúc xuống mạng lưới cống ngầm Chợ Lớn.
Tôi đứng bật dậy khỏi bàn, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm. Hơi thở tôi dồn dập, ngực phập phồng trong không gian bức bối của căn phòng trọ.
Trên tường, chiếc đồng hồ kim trôi dần về phía ba giờ sáng. Tiếng tích tắc khô khốc rơi vào màn đêm tĩnh mịch như tiếng đếm ngược của một khối thuốc nổ đặt ngầm dưới chân thành phố.
Tôi cúi sát mặt xuống trang giấy, đọc lại từng dòng chữ của Thomas. Người lính công binh Mỹ năm xưa không chỉ ghi lại cơ chế của cỗ máy, ông còn phác thảo một lối thoát hiểm bằng mực đỏ ở trang cuối cùng của cuốn sổ.
Nét mực đỏ vạch một đường thẳng tắp xuyên suốt qua tâm điểm của tòa nhà. Đường nét đó bắt đầu từ mép tường tầng mười ba, đâm xiên qua sàn các tầng rồi cắm thẳng vào khoảng không gian giếng trời nằm giữa tầng tám và tầng sáu. Tại vị trí đó, Thomas vẽ ba vòng tròn đồng tâm lồng vào nhau, kèm theo một ký hiệu viết tắt của quân đội: *Lõi cân bằng áp suất.*
Bên cạnh ba vòng tròn là dòng chữ nắn nót:
*Muốn triệt tiêu lực nén trước khi chạm tới đáy móng, phải cắt đứt mạch dẫn sinh khí tại điểm giao thoa giữa tầng tám và tầng sáu. Nơi giếng trời thu hẹp lại thành một phễu hút, mạng cáp nối lõi chịu lực với hệ thống tiếp địa ngầm vẫn còn hoạt động. Tìm thấy vạt áo của vật tế, mới có thể phá vỡ mắt xích dẫn truyền.*
Vạt áo của vật tế.
Hình ảnh bóng áo dài trắng lướt qua mép giàn giáo trưa nay và câu chuyện của bà Năm thợ may lập tức ráp nối lại với nhau trong đầu tôi. Người phụ nữ ấy đã lao mình vào lòng giếng trời. Khi rơi xuống qua các tầng lầu, cơ thể bà ta bị xé rách bởi các khung lưới bảo vệ và những đường dây cáp kỹ thuật giăng ngang khoảng không.
Trục giếng trời không phải là một khoảng trống vô hại dùng để lấy sáng và thông gió. Nó là một đường ống dẫn truyền trực tiếp chất lỏng và năng lượng từ đỉnh tháp xuống tận tim móng. Suốt bốn mươi năm qua, hàng tấn rác rưởi, nước thải sinh hoạt của các hộ dân lấn chiếm cùng bùn đất từ các cơn mưa nhiệt đới đã lấp đầy cái phễu đó. Nhưng sâu bên dưới đống xà bần mục rữa ấy, mạng lưới dẫn truyền sinh khí của quân đội Mỹ vẫn nguyên vẹn.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ phòng trọ. Phía xa, qua những mái tôn nhấp nhô của khu phố người Hoa, bóng đen sừng sững của chung cư 727 hiện lên mờ ảo giữa màn sương đêm Sài Gòn. Tòa nhà như một khối bia mộ khổng lồ cắm thẳng vào lòng đất, không có lấy một đốm sáng, im lìm đến rợn người.
Nhóm thợ của Thắng và Bình đã bỏ việc. Ban chỉ huy công trường có thể sẽ tạm dừng thi công một vài ngày để thuê đội thợ khác hoặc đưa máy xúc cần dài vào can thiệp. Nếu họ đưa máy cơ giới hạng nặng vào đập phá bừa bãi các tầng giữa mà không ngắt mạch dẫn năng lượng ở trục giếng trời, thảm họa sụp đổ là điều chắc chắn sẽ xảy ra.
Thời gian không còn nhiều. Tôi không thể chờ đợi đến sáng mai để nghe những lời giải thích quan liêu từ ban quản lý dự án. Họ chỉ nhìn thấy những khối bê tông mác 250 đã hết niên hạn sử dụng, những vết nứt nẻ cơ học và những chỉ số tải trọng trên giấy tờ kỹ thuật dân dụng. Không một ai trong số họ tin vào sự tồn tại của một cỗ máy trấn yểm đang gồng mình tích tụ áp lực chết chóc dưới đáy móng.
Tôi với lấy chiếc đèn pin công nghiệp gắn trên mũ bảo hộ, kiểm tra lại dung lượng pin. Luồng ánh sáng trắng xanh quét qua vách tường phòng trọ, rực rỡ và sắc lạnh. Tôi nhét cuốn sổ da vào túi nilon chống nước, cuộn chặt rồi nhét sâu vào túi trong của chiếc áo khoác kaki sờn rách. Cạnh đó, tôi nhét thêm một chiếc búa đục mini bằng thép tôi, một cuộn dây thừng cứu sinh dài hai mươi mét và đôi găng tay cao su cách điện dày dặn.
Cửa phòng trọ khép lại sau lưng tôi bằng một tiếng cạch nhẹ.
Hẻm vắng tanh không một bóng người. Nước cống đen ngòm rỉ qua các nắp đậy bằng gang, bốc lên mùi hôi thối quen thuộc của đô thị vùng trũng. Tôi rảo bước thật nhanh, đôi ủng da nện cồm cộp trên mặt đường nhựa lồi lõm, hướng thẳng về phía khối bê tông mười ba tầng đang chìm trong bóng tối dày đặc của đại lộ Trần Hưng Đạo.
Tâm điểm của dòng chảy sinh khí đang nằm đợi tôi ở khoảng không giếng trời giữa tầng tám và tầng sáu. Tôi phải leo lên đó trước khi bình minh ló dạng, trước khi những nhát búa tiếp theo giáng xuống làm nổ tung phần móng sâu bên dưới lòng đất.