Chung Cư 727 - Chương 6: Cuốn Sổ Bọc Da Dưới Sàn Gỗ
Đầu dẹp của thanh xà beng cắm phập vào khe nứt giữa hai tấm ván sàn. Một tiếng *rắc* khô khốc vang lên, xé rách sự im ắng ngột ngạt của căn hộ không số.…
Nội dung chương
Đầu dẹp của thanh xà beng cắm phập vào khe nứt giữa hai tấm ván sàn.
Một tiếng *rắc* khô khốc vang lên, xé rách sự im ắng ngột ngạt của căn hộ không số. Lớp gỗ thông nhập khẩu từ thập niên sáu mươi đã bị mục ruỗng bởi độ ẩm Chợ Lớn và nấm mốc, vụn ra thành từng mẩu vụn màu nâu xám bám đầy đầu ngón tay tôi. Nhưng lớp liên kết bên dưới thì không hề mục. Dưới lớp ván mặt, một tấm lót bằng gỗ sồi dày hơn hai phân vẫn nằm trơ trơ, được ghìm chặt vào đà sắt bằng những con bu-lông lục giác bạt đầu.
Tôi đặt ngọn đèn pin nằm nghiêng trên sàn, để vệt sáng quét ngang mặt gỗ. Ánh đèn rọi rõ những vết đục nham nhở quanh mép từng con ốc. Người thi công năm xưa cố tình phá hỏng đầu ren sau khi siết chặt, biến khoảng sàn này thành một khối đóng kín vĩnh viễn, ngăn không cho bất kỳ ai dùng cờ-lê hay mỏ-lết mở ra từ phía trên.
Tôi rút con dao rọc giấy cán thép trong túi đồ nghề ra, đẩy lưỡi dao carbon sắc lẹm dài thêm ba nấc.
Bằng cách tì đầu gối lên mép đà bê tông, tôi dùng mũi dao khoét sâu vào lớp keo hắc ín đen sì trám quanh chu vi tấm ván sồi. Thứ keo dán công nghiệp này đã cứng quắt lại sau hơn bốn mươi năm, giòn như thủy tinh vụn nhưng vẫn bám dính lấy mép kim loại. Từng nhát rọc miết xuống tạo ra âm thanh ken két buốt óc, hất tung những hạt bụi hắc ín khét lẹt xộc thẳng vào mũi.
Gió từ ban công phía sau lưng thổi thốc vào phòng qua khung cửa chớp mục nát. Tấm rèm vải vụn bay phần phật, đập vào tường từng nhịp khô khốc. Phía trên đầu tôi, hình bóng đen kịt của người phụ nữ với mười ngón tay cào xé vẫn in nguyên trên mảng vữa tróc, lạnh ngắt và câm lặng.
Sau mười phút cạo sạch lớp keo trám, tôi nhét đầu dẹp xà beng vào điểm giao nhau giữa hai thanh đà chịu lực.
Tôi hít sâu một hơi, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào cán thép, bẩy mạnh lên trên.
*Rắc! Ken két!*
Thanh đà sắt rên rỉ dưới lực đòn bẩy. Con bu-lông đầu tiên bật tung gốc, kéo theo một mảng bê tông sàn vỡ vụn. Tấm gỗ sồi cong lên, để lộ ra khoảng rỗng tối om nằm kẹp giữa lớp sàn hoàn thiện và bản bê tông chịu lực của tầng mười ba.
Một luồng khí lạnh ngắt, sực mùi mỡ bò bảo quản vũ khí và sáp ong xông thẳng vào mặt tôi.
Tôi buông xà beng, đưa tay trần luồn sâu vào hốc tối bên dưới.
Ngón tay tôi quét qua lớp cát khô lót đáy, rồi chạm phải một bề mặt kim loại vuông vức, lạnh buốt. Khối kim loại nặng trịch, không hề xê dịch khi tôi dùng một tay kéo thử. Tôi phải dùng cả hai tay, luồn các ngón vào gờ mép sắc nhọn của nó rồi gồng lưng nhấc bổng ra ngoài.
Đó là một hộp đạn dã chiến bằng thép mạ kẽm của quân đội Mỹ, loại M2A1 chuyên đựng đạn súng máy 50 caliber.
Thân hộp sơn màu xanh ô-liu đã bong tróc từng mảng lớn vì gỉ sét, nhưng quai xách và nắp khóa gài vẫn còn nguyên vẹn. Điều bất thường nhất nằm ở đường viền nắp hộp: toàn bộ khe hở chạy dọc bốn cạnh đều được trát kín bằng một dải sáp niêm phong màu đỏ thẫm dày cộp, trên bề mặt sáp dập nổi ba dấu mộc tròn của Cục Công binh Lục quân Hoa Kỳ - MACV.
Chính là thứ này. Vật mà ông nội tôi đã nhắc đến trong những cơn mê sảng trên giường bệnh ở California trước khi ông nhắm mắt: chiếc hộp niêm phong để lại sau lưng bức tường phía Tây.
Tôi quỳ xuống lớp mùn cưa, ngón tay run rẩy rút lưỡi dao rọc giấy, tỉ mẩn cạo vỡ từng mảng sáp đỏ. Lớp sáp phong vụn ra dưới mũi thép, để lại mùi dầu thông ngai ngái. Tôi dùng cán búa nện mạnh vào then cài rỉ sét.
*Tách.*
Cái khóa bật mở. Nắp thép bật tung lên với một tiếng rít kim loại chói tai.
Bên trong hộp không có đạn dược hay súng ngắn. Dưới lớp giấy dầu chống ẩm vàng ố phủ kín đáy hộp, một bọc vải dù màu rằn ri hiện ra, được buộc chặt bằng dây dù dã chiến.
Tôi mở từng nút thắt dây dù. Bên trong bọc vải là một cuốn sổ tay bìa bọc da bò màu nâu sẫm, kích thước khoảng bằng bàn tay, góc bìa bọc kim loại đã xỉn màu. Kèm theo cuốn sổ là một ống đồng chứa bản vẽ kỹ thuật đường kính chừng bốn mươi mi-li-mét, hai đầu bịt kín bằng nắp ren ren vặn chặt.
Tôi cầm cuốn sổ da lên. Bìa da cứng đờ, nứt nẻ thành những đường vân chằng chịt do thời gian. Tôi lật mở trang đầu tiên.
Chữ viết bên trong hoàn toàn bằng mực đen không phai, viết bằng tiếng Anh với nét chữ nghiêng đều đặn, sắc nét của một sĩ quan công binh được đào tạo bài bản. Nhưng xen kẽ giữa các đoạn văn bản quân sự là những ký tự chữ Hán được vẽ vụng về bằng bút lông, kèm theo các ghi chú bằng chữ Quốc ngữ viết tay với nét mực tím nhạt hơn.
Ngay trang tiêu đề, một dòng chữ in hoa đậm đập vào mắt tôi:
*DỰ ÁN ĐIỀU HÒA ĐỊA KỸ THUẬT VÀ PHONG THỦY ĐÔ THỊ - KHU PHỨC HỢP BUILDING PRESIDENT (1969 - 1972)* *Bộ phận phụ trách: Phân đội Công binh Đặc biệt MACV phối hợp Văn phòng Cố vấn Địa lý Chợ Lớn.* *Sĩ quan ghi chép: Đại úy Thomas Campbell.*
Thomas Campbell. Tên của ông nội tôi.
Bàn tay tôi run lên bần bật khiến những trang giấy mục khẽ rung theo nhịp thở. Tôi ghé sát mặt vào ngọn đèn pin, đọc ngấu nghiến từng dòng nhật trình kỹ thuật bị chôn giấu suốt gần nửa thế kỷ.
Những trang đầu tiên ghi chép từ năm 1960, khi tòa nhà còn thuộc quyền kiểm soát của doanh nhân Nguyễn Tấn Đời:
*"Ngày 14 tháng 8 năm 1960. Công trường Building President đình chỉ thi công vô thời hạn tại tầng thứ mười ba. Ba công nhân người Hoa tử nạn liên tiếp do sập giàn giáo phía trục thông gió hướng Tây. Không phát hiện lỗi kết cấu từ nhà thầu Pháp. Các toán thợ nề Chợ Lớn đồng loạt bỏ việc sau khi phát hiện mạch nước ngầm dưới đáy móng có màu đen như dầu hắc và phát ra mùi tanh của cá ươn thối rữa.*
*Chủ đầu tư Nguyễn Tấn Đời bí mật mời một thầy phong thủy tên Lương Bá Kỳ từ khu vực Chùa Bà Chợ Lớn đến trấn trạch. Nhận định của Lương: Tòa nhà 13 tầng xây dựng đè thẳng lên 'Hắc Thủy Huyệt' - một nhánh rẽ của mạch âm khí xuất phát từ kinh Tàu Hủ chạy ngầm dưới lòng đường Trần Hưng Đạo. Con số 13 mang tính chí dương của phương Tây lại vô tình kích hoạt thế phản phệ của huyệt đạo. Tầng mười ba không thể hoàn thiện bằng vật liệu thông thường nếu không có vật tế để phong bế miệng huyệt."*
Tôi lật tiếp các trang sau. Giấy viết chuyển sang loại giấy kẻ ô quân đội Mỹ, nét chữ của ông nội tôi xuất hiện dày đặc từ đầu năm 1970, khi quân đội Mỹ tiếp quản toàn bộ tòa nhà làm nơi lưu trú cho sĩ quan:
*"Ngày 22 tháng 11 năm 1971. Mức độ lún lệch tại trục số 4 vượt ngưỡng an toàn ba phần trăm. Hệ thống thang máy trung tâm liên tục mất nguồn dù máy phát điện dự phòng hoạt động bình thường. Lính gác tại trạm kiểm soát tầng trệt báo cáo hiện tượng sóng âm tần số thấp phát ra từ lòng đất vào khoảng hai giờ sáng mỗi ngày, gây buồn nôn và ảo giác cho toàn bộ nhân sự trực ban.*
*Đội công binh số 5 nhận lệnh can thiệp. Báo cáo mật từ Đại tá Miller: Không thể phá bỏ tòa nhà vì vị trí chiến lược ngay cửa ngõ Chợ Lớn. Phải áp dụng phương án của Lương Bá Kỳ đề xuất trước khi ông ta biến mất: Tạo một 'mỏ neo' nhân tạo trên tầng cao nhất để khống chế xung lực từ đáy hầm."*
Tôi lật mạnh sang trang tiếp theo. Một sơ đồ vẽ tay chi tiết trải rộng trên hai mặt giấy.
Đó là bản vẽ mặt cắt đứng của tòa nhà 727. Một đường nét đứt màu đỏ chạy thẳng tắp từ tâm của tầng hầm bị niêm phong, xuyên qua trục thông gió trung tâm, đâm thẳng lên căn hộ góc phía Tây tầng mười ba - chính là căn phòng tôi đang ngồi.
Ở điểm cuối của đường nét đứt, ngay vị trí bức tường đối diện tôi, ông nội tôi đã vẽ một vòng tròn kép bằng mực đỏ, kèm theo ghi chú lạnh lùng bằng bút chì:
*"Điểm đối trọng: Vách tường chịu lực căn hộ 13-B. Áp dụng kỹ thuật liên kết sinh học và vật liệu silicate mác 400. Mỏ neo phong tỏa hoàn tất vào 23:45 ngày 28 tháng 3 năm 1972."*
Cổ họng tôi đắng ngắt. Dưới đáy sơ đồ, có một bức ảnh đen trắng nhỏ cỡ ba-bốn được ghim bằng ghim bấm đã rỉ sét.
Bức ảnh chụp một người phụ nữ Việt Nam còn rất trẻ, mặc áo dài trắng, mái tóc đen dài buông xõa qua vai. Đôi mắt cô nhìn thẳng vào ống kính máy ảnh, sâu thẳm và trống rỗng đến mức khiến lồng ngực tôi thắt lại. Bên dưới mép ảnh ghi một cái tên ngắn ngủi bằng tiếng Việt viết tay của ông nội: *Trần Thị Nhàn - Thư ký văn phòng liên lạc MACV.*
Họ Trần.
Tôi nhìn xuống bàn tay mình, ngón tay tôi run rẩy chạm vào mép bức ảnh đã ố vàng. Mẹ tôi cũng họ Trần. Khi ông nội rời khỏi Sài Gòn vào năm 1972, cha tôi mới chỉ là một đứa trẻ sơ sinh được gửi lại cho một gia đình lao động tại Quận 5 nuôi dưỡng, mang họ mẹ. Suốt bao nhiêu năm lớn lên, tôi chỉ biết cha tôi là con lai của một sĩ quan Mỹ đã bỏ đi, chưa từng ai nhắc đến gốc gác thực sự của người đàn bà sinh ra ông.
Một dòng ghi chép ngắn ngủi ở góc dưới cùng của trang giấy khiến hơi thở tôi hoàn toàn tắc nghẽn:
*"Nhàn đã tình nguyện - hoặc bị ép buộc phải tình nguyện sau khi biết quá nhiều về hoạt động ngầm của đơn vị. Cái chết của cô ấy không phải do treo cổ như hồ sơ lưu trữ bên ngoài. Lương Bá Kỳ đã dùng một thuật ngữ cổ để mô tả việc này: 'Đinh Trấn Hồn'. Cơ thể người sống bị cố định vào bê tông ướt khi đổ vách dầm để giữ nguyên phách lực ngay tại điểm đối nghịch với miệng huyệt ngầm. Căn phòng phải được khóa kín, không bao giờ được phép dỡ bỏ trước khi đáy hầm được lấp đầy bằng chì lỏng."*
*Cạch.*
Một tiếng động nhỏ vang lên ngay phía sau lưng tôi, cắt đứt dòng suy nghĩ.
Tôi lập tức giật mình quay ngoắt lại, tay nắm chặt thanh xà beng, ngọn đèn pin quét vội một vòng quanh căn phòng tối.
Cửa sổ chớp vẫn đóng kín. Tấm rèm vải rách rưới vẫn lay động theo từng cơn gió luồn qua khe gỗ. Không có một ai ngoài tôi.
Nhưng khi ánh đèn quét qua vách tường đối diện, nơi có vệt ố đen hình người, tim tôi đập dồn dập trong lồng ngực.
Bề mặt bê tông nơi in bóng người phụ nữ dường như sẫm màu hơn lúc nãy. Những mẩu vật chất màu nâu đen bám trong mười đường rãnh cào sâu hoắm đang rỉ ra những giọt chất lỏng đặc quánh, chậm rãi chảy dọc xuống chân tường, rơi lộp bộp xuống lớp mùn cưa mục nát ngay cạnh chỗ tôi quỳ.
Từ dưới sàn nhà, qua khoảng trống mà tôi vừa bẩy tung tấm ván sồi, một âm thanh trầm đục lại truyền lên.
*Cốc.*
Lần này không phải tiếng gõ từ dưới đáy móng xa xôi. Âm thanh vọng lên ngay từ lòng trục kỹ thuật chạy ngầm sát vách tường căn hộ, đanh và lạnh, như tiếng một vật cứng đang va đập liên hồi vào thành ống thép rỉ sét.
Tiếng gõ dừng lại sau ba nhịp, rồi một tiếng rít dài kẽo kẹt vang lên, giống hệt như tiếng một dây cáp tải đang bị kéo căng hết mức dưới sức nặng của một khối vật chất khổng lồ.
Tôi đứng bật dậy, lưng dựa chặt vào mép bàn thờ xi măng mục nát giữa phòng.
Chiếc hộp đạn nằm mở toang dưới chân tôi, cuốn sổ tay bọc da và ống bản vẽ kỹ thuật vẫn nằm trên lớp vải dù. Tôi không thể mang những thứ này rời khỏi tòa nhà vào lúc này. Dưới chân cầu thang, nhóm thợ của Văn và đám bảo vệ dân phòng có thể đang túc trực, và nếu những tài liệu mật này lọt ra ngoài, việc phá dỡ sẽ bị đình chỉ, hoặc tệ hơn, người ta sẽ san phẳng toàn bộ khối nhà bằng thuốc nổ mà không hề biết bên dưới lớp móng đang giam giữ thứ gì.
Tôi nhìn ra ngoài ban công.
Bầu trời Chợ Lớn lúc này đã chuyển sang màu tím thẫm của đêm muộn. Những ánh đèn cao áp từ đại lộ Trần Hưng Đạo hắt lên màn sương mù lờ mờ bao phủ quanh khối bê tông 13 tầng. Tòa nhà 727 đứng trơ trọi giữa lòng đô thị như một cái xác khô khổng lồ, toàn bộ cư dân đã sơ tán sạch sẽ, chỉ còn lại những căn phòng rỗng tuếch và những hành lang hun hút gió.
Đêm nay là đêm cuối cùng trước khi dàn máy nén khí và búa thủy lực hạng nặng được cẩu lên tầng thượng để bắt đầu chiến dịch san phẳng công trình. Nếu khối dầm tầng mười ba bị đập vỡ trước khi tầng hầm được xử lý, theo những gì cuốn sổ của ông nội ghi chép, toàn bộ sự cân bằng mong manh kéo dài bốn mươi năm qua sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Tôi cúi xuống, nhặt cuốn sổ da bọc lại cẩn thận vào lớp vải dù rồi nhét sâu vào túi trong của áo khoác bảo hộ, kéo khóa kín mít. Ống đồng đựng bản vẽ kỹ thuật được tôi gài chặt vào đai lưng quần.
Tôi lấy chiếc bật lửa Zippo ra, bật nắp.
Ngọn lửa vàng bùng lên, soi rõ khuôn mặt tôi phản chiếu trong mẩu gương vỡ gắn trên cánh tủ quần áo mục nát góc phòng. Đôi mắt tôi mang màu nâu xám nhạt thừa hưởng từ ông nội, nhưng gò má và làn da lại mang trọn vẹn nét khắc khổ của người Chợ Lớn.
Tôi sẽ không đi xuống.
Tôi nhặt thanh xà beng lên, kéo lê đầu thép trên sàn gạch phát ra những tiếng ken két khô khốc, rồi bước chậm rãi về phía góc phòng đối diện với ban công. Tôi ngồi thụp xuống, tựa lưng vào khối dầm bê tông chịu lực, đặt chiếc đèn pin đã bật sáng ở chế độ tiết kiệm năng lượng ngay cạnh chân mình.
Gió đêm bắt đầu thổi mạnh hơn, rít từng hồi buốt tai qua các lỗ gạch vỡ trên tường. Tôi nhìn chằm chằm vào khoảng tối mênh mông ngoài mép ban công nứt toác, hai tay siết chặt cán xà beng lạnh ngắt, chuẩn bị bước vào đêm dài nhất trên nóc tòa nhà ma ám.