Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 1: Cửa Son Vàng Ngọc Của Dinh Thự Họ Hứa

Mùi sình lầy sông Tiền vẫn còn bám chặt dưới móng chân tôi, khô cứng lại thành từng vệt xám ngoét. Tôi ngồi co ro trên chiếc xe kéo lộc cộc lăn bánh qua…

Nội dung chương

Mùi sình lầy sông Tiền vẫn còn bám chặt dưới móng chân tôi, khô cứng lại thành từng vệt xám ngoét. Tôi ngồi co ro trên chiếc xe kéo lộc cộc lăn bánh qua những con phố lát đá của khu Chợ Lớn rồi quẹo sang vùng trung tâm Sài Gòn, nơi những hàng cây dầu cao vút che khuất ánh nắng gay gắt ban trưa. Người đàn ông dắt tôi đi là một tài phủ họ Huỳnh, nét mặt lạnh như phiến đá hộc, suốt dọc đường từ bến tàu Lục Tỉnh về đây không hề mở miệng nói lấy nửa lời. Tay tôi siết chặt bọc quần áo may bằng vải ú thô, thứ tài sản duy nhất mẹ dúi vào tay trước khi chiếc ghe tam bản tách bến đưa tôi rời xa biền chuối sau hè.

Chiếc xe dừng lại trước cánh cổng sắt đồ sộ sơn đen viền đồng của ngôi dinh thự số 97 đường Phó Đức Chính.

Tôi ngước mắt nhìn lên. Tòa nhà nguy nga sừng sững chiếm trọn một góc phố lớn, vươn cao ba tầng lầu với lớp vôi vàng sậm rực rỡ dưới nắng nhưng toát ra vẻ thâm u lạnh lẽo. Vô số ô cửa sổ lớn nhỏ san sát nhau trải dài khắp các mặt tường kính màu, cánh chớp gỗ khép hờ, tựa hồ những con mắt câm lặng đang dõi xuống khoảng sân rộng thênh thang. Người ta đồn rằng cả tòa nhà có tới gần một trăm ô cửa sổ, mỗi ngày mở ra đón gió sông Sài Gòn, gom về cơ man nào là vàng bạc cho nhà họ Hứa - gia tộc buôn bán bất động sản và lúa gạo giàu nứt đố đổ vách. Nhưng lúc đứng dưới chân bậc thềm đá hoa cương trơn láng, tôi chỉ thấy gió thổi qua các vòm ban công phát ra những tiếng rít u buồn.

Viên tài phủ dẫn tôi đi vòng qua lối cửa ngách dành cho người làm, tiến sâu vào khu nhà phụ nằm khuất sau những rặng cau kiểng. Không khí ở đây hoàn toàn khác với cái ồn ào bụi bặm ngoài phố. Sự tĩnh mịch đè nặng lên từng viên gạch lát nền mang hoa văn kỷ hà xanh xám. Mọi bước chân của đám gia nhân đều nhẹ bưng, không một tiếng cười đùa, không một câu chào hỏi. Khi đi ngang qua gian giặt giũ, tôi thấy vài cô hầu trạc tuổi mình đang cúi đầu vò áo, mắt dán chặt xuống thau gỗ, tuyệt đối không liếc nhìn người lạ.

Chúng tôi dừng lại trước một căn phòng nhỏ ở tầng trệt, nơi khói trầm hương từ chiếc lư đồng tỏa ra nghi ngút. Sau chiếc bàn gỗ mun chạm trổ cầu kỳ là bà quản gia Mã, một phụ nữ trạc năm mươi, tóc búi gọn sau gáy cài trâm đồi mồi, gương mặt phủ một lớp phấn trắng bệch nhưng đôi mắt lại sắc lẹm.

Bà Mã buông chiếc bút lông xuống nghiên mực, ngước nhìn tôi từ đầu đến chân. Cái nhìn săm soi lướt qua manh áo vá vai, dừng lại ở hai bàn tay chai sần vì cấy lúa của tôi.

"Tên họ là gì?" Giọng bà khô khốc, phát âm theo giọng Quảng Đông lơ lớ.

"Dạ, con tên Châu Mai. Mười bảy tuổi." Tôi lí nhí, hai đầu gối run lên bần bật.

"Cha con mượn của hiệu buôn ba trăm đồng bạc Đông Dương. Hạn ba năm không trả nổi cả vốn lẫn lời. Giờ có người chịu chuộc tờ văn tự nợ, đổi lại con phải ở đây làm việc trọn đời, sống thác do họ Hứa định đoạt. Có hiểu rõ chưa?"

Tôi nuốt nước miếng, gật đầu thật chậm. Ba trăm đồng bạc đó đã mua đứt mười năm bốc thuốc cho người cha bại liệt và cứu mấy đứa em tôi khỏi cảnh bị bán xới vào lò gạch. Mẹ tôi đã quỳ sụp dưới chân viên tài phủ mà khóc nức nở khi nhận lại tờ giấy nợ bị xé làm đôi. Trước khi đi, bà dặn tôi phải cắn răng mà chịu, người ta bảo làm gì thì làm nấy, nhà giàu quyền thế ngút trời, cãi lời chỉ có rước xác về đồng.

Bà Mã đẩy một tờ giấy đỏ điều sang phía tôi. Trên đó viết chi chít những hàng chữ Nho đen nhánh cùng vài dòng chữ Pháp ngay ngắn. Bà ấn ngón tay cái bên phải của tôi vào chén mực chu sa đỏ au, rồi đè mạnh xuống góc dưới bản văn tự. Vệt mực đỏ tươi in hằn lên mặt giấy, đỏ quạch như một giọt máu tươi vừa rỏ xuống.

"Kể từ giờ này, con là người của gác trên," bà Mã nói, cất tờ giấy vào tráp gỗ khóa kín. "Nhiệm vụ của con khác với đám người hầu ngoài kia. Không quét dọn hoa viên, không phụ việc bếp núc, không bước chân ra khỏi cổng dinh thự nửa bước."

Bà đứng dậy, chiếc áo dài lụa đen sột soạt theo từng cử động. Bà ra hiệu cho tôi bưng chiếc khay đồng đặt sẵn trên bàn phụ. Trên khay có một âu cháo yến đậy nắp men hoa lam, một bát thuốc bắc đen đặc bốc khói nghi ngút và một chiếc chuông đồng nhỏ không có lưỡi lắc.

"Đi theo ta."

Tôi ôm chặt chiếc khay đồng, cẩn thận từng bước chân theo sau bà quản gia. Chúng tôi bước vào tiền sảnh tráng lệ của dinh thự. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy một chiếc lồng sắt lớn với những song chắn bằng đồng uốn lượn hình hoa lá tinh xảo, nằm ngay cạnh cầu thang uốn lượn bằng đá cẩm thạch. Đó là chiếc thang máy chạy bằng điện, thứ máy móc kỳ lạ mà chỉ những nhà giàu sang bậc nhất Sài Thành mới có thể lắp đặt. Nhưng bà Mã không chạm vào chiếc thang máy đó. Bà rẽ sang cầu thang bộ hẹp lát gỗ lim nằm khuất sau bức bình phong khảm xà cừ.

Chúng tôi leo lên lầu một, rồi lầu hai. Càng lên cao, ánh sáng từ những ô kính màu trên trần vòm càng nhạt dần. Tiếng động của cuộc sống trần thế phía dưới - tiếng xe ngựa gõ móng trên đường, tiếng người làm cọ rửa xoong chảo - dần dần tắt lụi. Đến chiếu nghỉ của tầng ba, bà Mã dừng lại trước một cánh cửa sắt rèn uốn hình hoa cúc dây, trên cửa khóa bằng một sợi xích sắt to bản.

Bà rút chùm chìa khóa bên hông, tra vào ổ. Tiếng kim loại va vào nhau rợn người vang lên trong khoảng không gian tĩnh mịch. Cánh cửa sắt nặng nề mở ra, để lộ một dãy hành lang dài hun hút, trần nhà thấp hơn hẳn các tầng dưới.

Không khí ở đây đặc quánh một thứ mùi kỳ lạ khiến cuống họng tôi lợm giọng. Mùi thuốc bắc ngai ngái trộn lẫn với mùi vôi bột mới rắc, mùi lưu huỳnh nồng nặc và một mùi tanh ngọt lờ lợ lẩn khuất phía sau hương trầm cố ý xông lên mù mịt. Hai bên tường không có một bức tranh hay chiếc gương nào, chỉ có vôi quét trắng toát, lạnh buốt như vách hầm mộ.

Cuối hành lang là một cánh cửa gỗ lim dày cộp, then cài bên ngoài làm bằng đồng thau sáng bóng. Phía dưới chân cánh cửa có khoét một khe hẹp hình chữ nhật, chỉ vừa đủ đẩy một chiếc khay ăn nằm ngang, bên ngoài che bằng một tấm nẹp sắt trượt lên trượt xuống.

Bà Mã đứng lại cách cánh cửa ba bước chân, đưa khăn tay lên che mũi. Ánh mắt bà nhìn cánh cửa gỗ chứa đầy sự ghê sợ và kiêng dè tột cùng.

"Nghe cho kỹ đây," giọng bà hạ thấp xuống thành tiếng thì thầm sắc nhọn. "Phía trong là đại tiểu thư Hứa Tiểu Lan. Con được mua về cốt để hầu hạ tiểu thư ăn uống, thay rửa và dọn dẹp qua khe cửa này. Mỗi ngày ba bữa đẩy khay cơm thuốc vào, sau đó chờ tiểu thư đẩy khay cũ ra thì mang xuống tầng trệt giao cho phòng giặt riêng."

Tôi run rẩy nhìn khe cửa đóng kín mít: "Thưa bà... con có được mở cửa vào quét dọn không?"

"Cấm tiệt!" Bà Mã quay ngoắt lại, trừng mắt nhìn tôi khiến tôi lạnh toát sống lưng. "Chìa khóa then cài này do chính tay ông lớn giữ. Con tuyệt đối không được gõ cửa, không được tìm cách nhìn qua khe hẹp, không được hé răng hỏi han bất cứ điều gì vượt quá phận sự. Nếu bên trong không có tiếng gọi, con chỉ việc để khay xuống rồi lui ra hành lang chờ đợi."

Bà nhìn chiếc khay tôi đang cầm, rồi nhìn thẳng vào mắt tôi: "Tiểu thư mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo. Quan Tây mà biết thì họ sẽ cho lính tới bắt đi đày biệt xứ ra ngoài Cù Lao Dung ngay lập tức. Cả họ Hứa này xem như tiêu tan danh giá. Mạng của con, mạng của cả nhà con dưới quê nằm gọn trong việc con giữ kín cái miệng của mình. Nhớ lấy."

Nói xong, bà Mã không nán lại thêm một nhịp thở nào. Bà giật lùi từng bước rồi quay lưng rảo bước thật nhanh về phía cánh cửa sắt rèn, bỏ lại tôi trơ trọi giữa hành lang gió lùa hun hút. Tiếng khóa xích lách cách một lần nữa vang lên từ phía xa. Tôi bị nhốt lại trên tầng gác này cùng với căn phòng bí mật.

Gió từ ô thông gió trên cao thổi vào làm vạt áo tôi phần phật. Xung quanh vắng lặng tới mức tôi có thể nghe rõ từng nhịp tim đập dồn dập sau lồng ngực mình. Bát thuốc trên khay đồng bắt đầu nguội dần, tạo thành một lớp màng mỏng màu nâu sẫm trên bề mặt.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, rón rén bước tới gần cánh cửa lim.

Mùi tanh ngọt kỳ dị kia bốc ra từ khe cửa dưới chân rõ rệt hơn bao giờ hết. Đó là mùi của bông băng ẩm ướt, mùi của máu mủ thối rữa hòa lẫn với dầu tràm và bột chu sa. Dưới sàn gạch sát chân cửa, tôi thấy những vệt ố màu nâu xỉn đã khô cứng, dù ai đó đã cố dùng vôi bột cọ rửa nhưng vẫn không sao xóa hết dấu vết loang lổ.

Tôi quỳ sụp hai gối xuống sàn đá lạnh ngắt. Đặt chiếc khay đồng sang bên cạnh, tay tôi run run đưa lên tấm nẹp sắt chắn ngang khe cửa. Tấm sắt lạnh như một tảng băng.

Tôi từ từ kéo tấm nẹp lên. Một luồng hơi ấm nóng, ngột ngạt và nồng nặc mùi thuốc bắc xộc thẳng vào mặt tôi.

Bên trong tối om, không có một đốm đèn. Toàn bộ các ô cửa sổ trong căn phòng đó chắc hẳn đã bị đóng chặt bằng những tấm gỗ dày, ngăn tuyệt đối ánh sáng mặt trời lọt vào. Tôi ghé sát mặt xuống sàn, đẩy nhẹ chiếc khay đựng bát thuốc và âu cháo yến trượt qua khe hẹp.

"Thưa... thưa cô Ba," tôi cất tiếng, giọng run rẩy ngập ngừng trong cổ họng. "Bà Mã bảo con mang cơm thuốc lên cho cô."

Chiếc khay trượt vào trong một nửa rồi dừng lại. Tôi đợi.

Thời gian trôi qua nặng nề. Không có tiếng đáp lại. Trong bóng tối sâu thẳm của căn phòng, chỉ có tiếng gió rít qua những khe ván ép trên tường. Tôi toan rụt tay về thì bất ngờ nghe thấy một âm thanh lạ lùng.

Đó là tiếng thở.

Một tiếng thở khò khè, nặng nhọc và đứt quãng, như thể không khí đang phải đi qua một cái cuống họng bị cào rách tơi bời. Tiếp sau tiếng thở là âm thanh sột soạt của vải vóc cọ xát trên nền gạch tàu, chầm chậm trườn tới gần khe cửa.

Có thứ gì đó đang di chuyển về phía tôi. Nó không bước đi bằng hai chân. Nó lê lết, trườn từng tấc một trên sàn nhà lạnh lẽo.

Tôi nín thở, lùi giật người lại phía sau một gang tay, nhưng mắt vẫn dán chặt vào khe hở đen ngòm. Mùi thịt rữa lẩn khuất trong thuốc bắc đậm đặc đến mức tôi phải cắn chặt môi để ngăn cơn buồn nôn đang dâng lên nghẹn ứ.

Âm thanh dừng lại ngay sát phía bên kia cánh cửa gỗ.

Rồi, từ trong bóng tối mịt mùng, một bàn tay từ từ thò ra qua khe hẹp, đặt lên mép khay đồng.

Tôi chết lặng. Máu trong người tôi dường như đông cứng lại.

Bàn tay đó không còn mang hình dáng của một bàn tay con người. Nó không có những ngón tay thuôn dài của một tiểu thư khuê các lá ngọc cành vàng. Toàn bộ các đầu ngón tay đã bị rụt ngắn lại, sưng húp và biến dạng thành những cục u sần sùi màu tím tái, lớp da bóng nhẫy nứt nẻ rỉ ra những giọt nước vàng nhờ nhờ. Móng tay đã rụng hết tự bao giờ, chỉ để lại những lớp vảy sừng gồ ghề, trơ trọi.

Bàn tay biến dạng ấy mò mẫm trên khay đồng, run rẩy chạm vào thành âu cháo. Những đốt xương cụt cọ xát vào mặt kim loại phát ra tiếng lách cách khô khốc.

Và rồi, từ phía sau cánh cửa lim đóng kín, một giọng nói thều thào cất lên. Tiếng nói méo mó, nghẹt đặc vì vòm họng đã bị tàn phá, nghe khô khốc như tiếng lá mục bị nghiền nát dưới gót giày:

"... Ai... đó? Có phải... mẹ... cho người tới... đón Lan không?..."

Bàn tay sùi sụt u cục ấy bỗng quờ quạng trong không khí, vô tình quệt ngang qua mu bàn tay tôi. Làn da lạnh ngắt, nhớp nháp chất dịch tanh lợm chạm vào da thịt tôi khiến tôi giật bắn người, ngã ngửa ra sau sàn hành lang. Chiếc khay đồng bị kéo thụt vào trong bóng tối, và tấm nẹp sắt phía trong rơi sập xuống với một tiếng cắc khô khốc, cắt đứt hoàn toàn tiếng thở nghẹn ngào bên kia bức vách.

Chương khác

Xem thêm