Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 4: Lồng Son Trên Gác Thượng
Tiếng đục đẽo bắt đầu từ lúc trời còn tờ mờ sương, khi mặt sông Sài Gòn vẫn còn phủ một lớp khói nước xám xịt. Tôi giật mình tỉnh giấc trong chái nhà…
Nội dung chương
Tiếng đục đẽo bắt đầu từ lúc trời còn tờ mờ sương, khi mặt sông Sài Gòn vẫn còn phủ một lớp khói nước xám xịt.
Tôi giật mình tỉnh giấc trong chái nhà sau, hai bàn tay vẫn còn phảng phất mùi thuốc bắc cháy khét của đêm hôm trước. Khi tôi vội vã cài lại then áo bà ba rồi bước ra sân giếng múc nước rửa mặt, một đoàn người lạ mặt đã xuất hiện bên cầu thang phụ bằng sắt dẫn thẳng lên các tầng lầu trên.
Đúng theo lời bà Mã đêm qua, họ gồm bảy người đàn ông vạm vỡ, nước da ngăm đen vì nắng gió, bận quần cộc vải thô màu chàm. Họ đi chân trần trên những bậc thang kim loại mà không phát ra bất kỳ tiếng động nào lớn hơn tiếng thở dốc nặng nhọc. Không một tiếng chuyện trò, không một tiếng chửi thề hay cằn nhằn quen thuộc của cánh thợ thuyền. Giữa họ chỉ có những cái phất tay dứt khoát, những ánh mắt đờ đẫn trao nhau qua từng đợt chuyển hàng. Họ là những người thợ hồ câm điếc được thuê kín từ xóm lao động Chợ Lớn. Miệng họ câm lặng, tai họ điếc đặc trước mọi âm thanh trần thế, đôi bàn tay gân guốc thoăn thoắt chuyền từng sọt gạch nung đỏ au và những xô vữa nồng nặc mùi vôi sống.
"Đứng ngây ra đó làm gì? Xách thùng nước với mớ giẻ lau theo sau họ lên lầu ba."
Giọng bà Mã vang lên ngay sau lưng tôi, khô khốc và sắc nhọn. Bà đứng tựa vào cột hành lang, chiếc áo dài lụa đen buông thẳng tắp, tay cầm cỗ tràng hạt bằng gỗ mun lách cách xoay tròn.
"Dạ, con đi ngay." Tôi run rẩy cúi đầu, vội vàng múc đầy thùng nước lạnh rồi bưng chiếc sọt đựng giẻ gai bước theo dòng người thợ.
Tôi phải bước thật cẩn thận để không dẫm phải những vệt vữa ướt rớt lại trên bậc thang xoắn ốc. Càng lên cao, không khí ẩm thấp của buổi sáng càng nhường chỗ cho mùi bụi gạch nồng hắc và hơi nóng tích tụ từ mái ngói của dinh thự.
Tầng ba của tòa nhà vốn là nơi ít ai đặt chân tới. Trái ngược với vẻ âm u, nặng nề ở tầng trệt nơi gia đình họ Huỳnh tiếp khách, gian phòng áp mái này từng là nơi đón nhận nhiều ánh sáng nhất trong cả dinh thự. Căn phòng rộng thênh thang, trần nhà vát theo dáng mái ngói lợp ngói vảy cá, có bốn khung cửa sổ vòm lớn quay mặt ra bốn hướng. Qua những khung cửa ấy, người đứng bên trong có thể nhìn thấy dòng sông Sài Gòn uốn khúc tấp nập thuyền buôn, thấy những mái nhà phố xá chen chúc của giới thương nhân Hoa kiều, và đón trọn từng cơn gió lộng từ bến cảng thổi về. Nơi đây từng là thư phòng thanh nhã của cô Ba Hứa Tiểu Lan, nơi cô từng ngồi vẽ tranh thủy mặc, ngắm nhìn phố phường hoa lệ trước ngày mầm bệnh gặm nhấm thân xác cô.
Thế nhưng, buổi sáng hôm ấy, sự khoáng đạt tươi sáng cuối cùng của tầng gác thượng đang bị xóa sổ từng tấc một.
Những người thợ hồ bắt đầu công việc với tốc độ tàn nhẫn. Từng người một đứng trước các khung cửa vòm rộng mở. Họ nhúng gạch nung vào thùng nước, trét lên đó những tảng vữa trắng đặc sệt rồi bắt đầu đặt gạch chồng lên nhau.
Cắc! Cắc! Cắc!
Tiếng bay sắt gõ đều đặn vào mép gạch khô vang lên rời rạc giữa gian phòng rộng lớn. Bụi vôi bay mù mịt trong không khí, bám vào tóc, vào mi mắt tôi cay xè. Tôi quỳ gối dưới sàn gạch hoa văn rực rỡ, hai tay cầm giẻ lau vội những giọt vữa rơi vãi, nhưng ánh mắt không thể nào dời khỏi bức tường đá đang dần mọc lên.
Khung cửa sổ vòm hướng đông, nơi đón nhận những tia nắng sớm tinh khôi nhất, bị bịt kín đầu tiên. Viên gạch đỏ đặt xuống đâu, ánh sáng ngoài trời bị xé rách đến đó. Tôi trơ mắt nhìn khoảng trời xanh ngắt bên ngoài dần dần thu nhỏ lại thành một vệt dài, rồi thành một khe nứt mỏng manh, cuối cùng tắt ngấm khi người thợ dùng bay miết một đường vữa dày dặn trét kín viên gạch cuối cùng.
Căn phòng chìm dần vào bóng tối từng phần một, y hệt một người đang bị rút cạn hơi thở.
Ở góc sâu nhất của căn gác, sau một tấm bình phong gỗ khảm xà cừ đã mục ải, có tiếng sột soạt yếu ớt vang lên. Đó là góc kê chiếc giường đồng của cô Ba.
Tôi dừng tay lau sàn, nín thở lắng nghe.
Bên trong bóng tối dày đặc của góc phòng, dấy lên một âm thanh the thé, run rẩy, giống như tiếng móng tay đang tuyệt vọng cào cấu vào mặt gỗ.
"Má... Má ơi..."
Một tiếng gọi đứt quãng, nghẹn ngào như tiếng khóc của một đứa trẻ bị bỏ quên dưới đáy giếng sâu vọng ra. Giọng nói ấy khàn đặc, dính bết lại vì đờm dãi, phát ra từ một cuống họng đã bị lở loét. Hứa Tiểu Lan đang thức. Cô nghe thấy tiếng gõ của bay sắt, cô ngửi thấy mùi vôi nồng nặc đang bóp nghẹt bầu không khí quen thuộc của mình.
Cô Ba đang cố gắng bò ra khỏi giường. Tiếng vải lụa lê lết sột soạt trên sàn gạch mỗi lúc một gần hơn với mép bình phong.
"Trời... nắng... cho con... nhìn một chút..."
Tôi siết chặt chiếc giẻ lau ướt sũng trong lòng bàn tay, lồng ngực thắt lại vì một nỗi xót xa buốt nhói. Người con gái ấy từng là tiểu thư danh giá nhất nhì xứ này, từng khoác lên mình những tà lụa mềm mại nhất nhập từ Tô Châu, nay lại phải lê lết trên mặt đất lạnh lẽo, van xin một tia sáng mặt trời le lói.
Tôi toan đứng dậy bước về phía tấm bình phong, nhưng tiếng gậy gỗ của bà Mã gõ cộc xuống nền đá hoa cương ngay cạnh tai tôi đã kéo giật tôi trở về thực tại.
"Lau sàn cho sạch, con ranh! Chuyện bên trong tấm màn đó, một kẻ làm thuê như mày không có quyền bận tâm."
Bà Mã trừng mắt nhìn tôi, tròng mắt đục ngầu chứa đầy sự đe dọa tàn nhẫn. Bà quay sang nhìn tấm bình phong gỗ, cất giọng lạnh tanh, không hề có lấy nửa phần kiêng nể thân phận chủ tớ:
"Cô Ba nằm yên đó cho giữ sức. Ông lớn đã dặn, xây kín cửa là để tránh gió độc cho cô. Khí trời bên ngoài ô uế, người bệnh phong mà hít phải thì thịt da rữa nát nhanh hơn. Cô đừng có gào khóc mà làm kinh động đến bà lớn dưới lầu."
Phía sau tấm bình phong, tiếng cào cấu trên mặt sàn đột ngột ngưng bặt. Thay vào đó là một tiếng nấc nghẹn ngào, rồi tiếng thở khò khè kéo dài đau đớn. Cô Ba không van xin nữa. Có lẽ cô đã hiểu rằng những lời dặn dò của người cha quyền quý kia thực chất chỉ là một bản án chung thân được thi hành bằng vôi vữa.
Công việc xây bít tiếp tục diễn ra không một phút ngơi nghỉ. Khung cửa sổ thứ hai, rồi thứ ba lần lượt biến mất sau những lớp gạch nung đỏ lòm. Đến quá trưa, khung cửa sổ cuối cùng nhìn thẳng xuống khoảng sân rợp bóng cây sứ hoa trắng cũng bị vùi lấp.
Căn phòng áp mái bấy giờ chỉ còn mờ mịt dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn bão mà bà Mã đặt trên một chiếc đôn sứ. Bốn bề chung quanh trở thành những bức tường đá xám xịt, trát vữa thô ráp, tỏa ra mùi ẩm mốc ngột ngạt khó thở. Gió bến cảng không còn lọt vào được nữa. Tiếng xe ngựa lộc cộc trên đường phố, tiếng rao hàng của những gánh hàng rong ngoài bến chợ Đầm Sen vĩnh viễn bị chặn lại bên ngoài bức tường thành kiên cố.
Gian phòng áp mái từng ngập tràn tiếng cười đùa và hương hoa lài nay đã thực sự biến thành một chiếc lồng son kiên cố, một nấm mồ được dựng lên giữa lưng chừng trời.
Đến xế chiều, công việc chuyển sang hạng mục cuối cùng và quan trọng nhất: cánh cửa ra vào.
Hai người thợ hồ lực lưỡng khiêng một cánh cửa gỗ lim nặng trịch lên từ chiếu nghỉ cầu thang. Cánh cửa này dày đến ba tấc, nặng đến mức bốn người đàn ông phải gồng mình, gân xanh nổi chằng chịt trên cánh tay mới nhấc nổi nó vào khung bao bằng gỗ nghiến.
Tôi đứng nép vào góc tường, mở to mắt quan sát từng chi tiết của cánh cửa ấy. Một cảm giác ớn lạnh bò dọc khắp sống lưng tôi.
Mặt bên trong của cánh cửa trơn nhẵn bóng loáng, không hề có tay nắm, không có then cài, cũng chẳng có lấy một cái móc sắt để giữ chốt. Người ở bên trong nếu muốn mở cửa sẽ chẳng có bất kỳ điểm tựa nào để bấu víu hay lay chuyển. Toàn bộ cơ chế giam giữ đều được phơi bày ở mặt ngoài.
Mặt ngoài của cánh cửa gỗ lim được bọc thêm một tấm tôn sắt dày màu xám chì, tán đinh tán to bản viền quanh bốn cạnh để ngăn chặn mọi nỗ lực đục phá hoặc mài mòn. Ngay giữa cánh cửa, ba chiếc then cài bằng sắt đen to bản, mỗi then dày bằng cổ tay trẻ con, được gắn chặt vào khung tường gạch bằng những chiếc chốt tán sâu vào vách vữa. Khi ba chiếc then này được sập xuống và tra khóa đồng vào, gian phòng sẽ trở thành một khối kim loại và gỗ đá bất khả xâm phạm.
Điểm kỳ dị nhất nằm ở mép dưới cùng của cánh cửa, sát sạt với mặt sàn lát gạch.
Ở đó, người ta đã đục một khe hẹp ngang, chiều cao chỉ khoảng một gang tay, chiều dài vừa vặn bằng chiều rộng của một chiếc mâm đồng cỡ nhỏ. Phía ngoài khe hẹp có một tấm sắt trượt lên trượt xuống, có then chốt nhỏ giữ chặt bên ngoài.
Đó là con đường duy nhất nối liền không gian tăm tối bên trong với thế giới bên ngoài. Một cái khe để đẩy vào từng bát cơm nguội, từng chén thuốc đắng ngắt, và để nhận lại những chiếc bát bẩn thỉu mang theo mầm bệnh của một người sống mà đã bị coi như ma quỷ.
Tiếng búa sắt nện vào đinh tán vang lên đinh tai nhức óc:
Choang! Choang! Choang!
Mỗi nhát búa nện xuống giống như một chiếc đinh đóng chặt vào nắp quan tài. Tôi có thể nghe thấy qua khe cửa tiếng thở dốc run rẩy của cô Ba Hứa Tiểu Lan. Cô đang nép mình sát cánh cửa gỗ lim, lắng nghe những thanh âm tàn nhẫn đang dần cô lập cô khỏi cõi người.
Khi người thợ tra chiếc then sắt thứ ba vào khớp nối, tiếng sắt rít lên khô khốc: "Keng!"
Âm thanh đanh gọn ấy dập tắt tia hy vọng cuối cùng của một sinh linh.
Bà Mã bước tới gần cánh cửa vừa hoàn tất. Bà dùng bàn tay gầy guộc như cành củi khô vỗ mạnh vào mặt tôn sắt lạnh ngắt. Tiếng vỗ trầm đục vang vọng khắp hành lang trống hoác.
"Xong rồi đấy," bà lẩm bẩm một mình, giọng nói chứa đầy sự thỏa mãn tàn nhẫn.
Bà rút trong túi áo ra một bọc tiền giấy Đông Dương dày cộp, trao tận tay cho người thợ cả. Người đàn ông câm đón lấy bọc tiền, cúi rạp đầu lia lịa rồi làm dấu tay ra hiệu cho những người còn lại thu dọn bay, xô và giẻ lau. Họ lặng lẽ rút xuống cầu thang phụ, bóng lưng đổ dài trên những bức tường còn ướt vôi, biến mất nhanh chóng vào bóng chiều tà như một bầy quạ đen sau khi hoàn tất việc chôn cất một xác chết.
Hành lang tầng ba chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối, một sự im lặng rợn người đến mức tôi có thể nghe thấy tiếng tim mình đang đập thình thịch trong lồng ngực.
Bà Mã không quay lại nhìn cánh cửa gỗ lim bọc tôn nữa. Bà xoay người, đôi mắt cú vọ sắc lạnh dừng lại ngay trên khuôn mặt tôi. Ánh đèn bão hắt lên gò má cao xương xẩu của bà những vệt bóng méo mó, rùng rợn.
"Mày thấy hết rồi chứ?" Bà Mã cất giọng, từng từ nhả ra đều đặn và lạnh buốt.
"Dạ... con thấy..." Tôi run rẩy siết chặt chiếc giẻ lau ướt sũng trong tay, hai đầu gối chực quỵ xuống sàn gạch.
"Từ giờ phút này trở đi, tầng ba này là vùng đất chết. Bất kỳ kẻ nào trong dinh thự này dám bén mảng lên cầu thang sắt, nhẹ thì bị đánh què chân đuổi về quê, nặng thì tống thẳng vào đồn lính kín của người Tây. Nhưng cô Ba thì vẫn phải ăn, vẫn phải uống thuốc cầm cự qua ngày."
Bà Mã tiến lại gần tôi một bước. Mũi hài nhung đen của bà dẫm lên một vệt vôi trắng còn sót lại trên sàn, nghiến nát vụn vữa thành bột mịn.
"Ông lớn và bà lớn đã chọn mày. Mày là đứa nhà nghèo dưới quê lên, không cha không mẹ che chở, mạng mày mỏng như tờ giấy lộn. Mày sẽ là kẻ duy nhất được phép bước chân lên đây mỗi ngày hai cữ, sáng và tối."
Tôi mở to mắt nhìn bà Mã, hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng:
"Bà... bà dặn con... chăm sóc cô Ba?"
"Chăm sóc?" Bà Mã cười khẩy, nụ cười làm những nếp nhăn quanh miệng bà giật giật gớm ghiếc. "Đừng dùng những từ ngữ hoa mỹ đó. Mày chỉ có một nhiệm vụ: nấu cơm bưng lên, sắc thuốc bưng lên, trượt tấm sắt đẩy khay vào rồi cài then lại ngay lập tức. Cấm mày mở miệng nói chuyện với thứ bên trong. Cấm mày thò tay qua khe cửa. Nếu để mầm cùi lây dính vào người, tao sẽ đích thân ném mày xuống bến sông cho cá rỉa."
Nói đoạn, bà Mã thọc tay vào túi áo lụa, lôi ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau nặng trịch, rỉ sét loang lổ. Bà chìa chùm chìa khóa ra trước mặt tôi.
"Cầm lấy. Bắt đầu từ sáng mai, mạng của cô Ba và cái mạng rách của mày đều nằm sau cánh cửa này."
Tôi run rẩy giơ hai bàn tay chai sạn ra đón lấy chùm chìa khóa đồng. Kim loại lạnh buốt chạm vào da thịt khiến toàn thân tôi khẽ rùng mình.
Bà Mã quay lưng, chiếc áo lụa đen quét trên nền gạch sột soạt, chậm rãi bước xuống cầu thang sắt uốn lượn. Tiếng gậy gỗ nện xuống sàn thưa dần, xa dần rồi tắt hẳn ở tầng dưới.
Tôi đứng trơ trọi một mình giữa hành lang tầng áp mái tối tăm, tay nắm chặt chùm chìa khóa nặng trịch.
Trước mặt tôi, cánh cửa gỗ lim bọc tôn sắt sừng sững như một bức tường thành kiên cố. Ba chiếc then sắt đen trũi cài chặt ngang thân cửa, lạnh lùng ngăn cách hai thế giới. Và sát mép sàn gạch lạnh buốt, khe trượt hẹp đen ngòm há miệng ra trong bóng tối, im lìm chờ đợi khay cơm nguội đầu tiên của buổi sáng ngày mai.