Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 3: Vệt Đỏ Vô Thanh Trên Tay Nàng
Gian bếp ở tầng bán hầm của dinh thự họ Huỳnh luôn chìm trong một thứ ánh sáng nhờ nhờ, nhớp nháp mồ hôi than củi và bốc lên mùi ẩm mốc của những góc…
Nội dung chương
Gian bếp ở tầng bán hầm của dinh thự họ Huỳnh luôn chìm trong một thứ ánh sáng nhờ nhờ, nhớp nháp mồ hôi than củi và bốc lên mùi ẩm mốc của những góc tường không bao giờ đón được ánh mặt trời. Gạch lát nền ở đây đã mòn vẹt, trũng xuống từng vũng tích tụ cặn bẩn của dầu mỡ, nước vo gạo và nước rỉ từ những bao tải thuốc bắc xếp cao ngất ngưởng sát chân tường đá tảng.
Tôi ngồi xổm trên một chiếc đôn gỗ con ven lò than, hai bàn tay run run kẹp chặt que củi đượm lửa để chụm vào lòng lò gang. Chiếc siêu đất nung màu nâu thẫm đang ùng ục sôi, từng đợt bọt thuốc màu cánh gián sủi tăm trào lên chạm vào vành nắp, phả ra khói đắng nghét. Đó là liều thuốc cữ tối dành cho cô Ba Tiểu Lan. Bà Mã dặn tôi phải canh đúng ba chén nước lã sắc còn một chén đặc sánh, không được để tắt lửa, cũng không được để trào ra ngoài dù chỉ một giọt.
Bên cạnh tôi là những gói giấy bản gói sẵn các vị thuốc được cột bằng chỉ đỏ. Tôi không biết mặt chữ Nho in mờ ngoài bìa, song mùi vị thì tôi đã nhận ra rành rọt sau mấy ngày loanh quanh dưới bếp: rễ phòng phong khô khốc như vỏ cây mục, bột chu sa đỏ au nặng trịch mùi khoáng chất, nhựa nhũ hương tanh tưởi và những lát nấm phục linh trắng bệch như những mảnh xương vụn. Toàn những thứ độc dược đắt đỏ được bốc từ hiệu thuốc danh tiếng nhất vùng Chợ Lớn, dùng để chặn đứng cơn rữa nát của da thịt.
Phía sau bức vách ngăn bằng gỗ ván ép ngăn cách gian đun nấu với phòng kiểm kê sổ sách của người nhà dưới, có tiếng xì xào vọng lại.
Lúc đầu, tôi ngỡ đó là tiếng gió rít qua ô thông hơi trổ ra hông hào nước. Nhưng rồi tiếng kim loại va vào nhau lách cách kéo theo một giọng đàn ông trầm đục vang lên, khiến tôi bất giác ghìm chặt que củi trong tay, nín thở lắng tai nghe.
"Cái trát của Tòa thị chính gửi xuống lần này gắt lắm," người đàn ông nói, giọng mang âm sắc khàn đặc của người Quảng Đông già dặn. Đó là tiếng của chú Kính, người quản gia phụ trách việc giao tế bên ngoài dinh thự. "Thằng mật thám người Tây cùng hai tên thầy thuốc của Sở Vệ sinh Dịch tễ đã lượn lờ trước cổng sắt từ sáng sớm. Tụi nó ngửi thấy mùi rồi. Nếu tuần này ông lớn không đưa người ra trình diện kiểm tra dịch hạch theo luật bảo hộ, chúng sẽ điều lính mã tà đến phong tỏa toàn bộ dãy phố Phó Đức Chính."
Tiếng ho khan ngắt quãng của bà Mã vang lên ngay sau đó, theo sau là tiếng gậy gõ côm cốp xuống nền gạch tàu:
"Phong tỏa cái gì mà phong tỏa? Tiền của ông lớn rải từ dinh Thống đốc tới tận bàn làm việc của viên Chánh thanh tra y tế, chứ có phải ít ỏi đâu mà để mấy con chó săn ấy sủa bậy? Cứ bảo là cô Ba đã theo tàu thủy sang Hương Cảng dưỡng bệnh từ hai tháng trước rồi."
"Bà nói thì dễ lắm," giọng chú Kính lộ rõ vẻ hoảng hốt, hạ thấp xuống thành một chuỗi âm thanh the thé. "Mấy đợt trước còn mua chuộc bằng hối lộ được, chứ kỳ này dịch phong hủi bùng lên ở miệt Chợ Quán, chính quyền thuộc địa đang rà soát từng nhà buôn lớn. Người Pháp sợ bệnh hủi lan sang khu công chức của họ bên đường Catinat. Họ có danh sách theo dõi. Tên của cô Ba nằm chình ình trong cuốn sổ điều tra bệnh truyền nhiễm của bệnh viện Chợ Rẫy, do chính tay viên bác sĩ người Pháp từng đến đây khám hồi đầu năm ghi lại!"
Bàn tay tôi vô thức siết chặt thanh củi nẹp than. Đầu củi bén lửa cắn vào da thịt làm tôi giật thót, nhưng tôi không dám nhúc nhích. Nỗi sợ hãi làm hai khớp đầu gối tôi tê dại trên nền đá ẩm ướt.
Bệnh phong.
Cái từ ngữ ghê tởm ấy khi thốt ra từ miệng chú Kính giống như một nhát búa giáng thẳng vào lồng ngực tôi. Ở quê tôi, miệt sông nước miền Tây nghèo đói, người ta gọi đó là bệnh cùi, bệnh hủi - một thứ tội vạ do trời trừng phạt, một tai ương dơ bẩn khiến cả một dòng họ bị nguyền rủa đời đời kiếp kiếp.
Ký ức kinh hoàng của năm tôi mười hai tuổi chợt tràn về trong tâm trí. Năm đó, trong xóm nghèo của tôi có một người đàn bà bán chiếu tên Lượm bỗng nhiên rụng mất đốt ngón tay trỏ. Ban đầu người ta chỉ nghĩ bà bị ghẻ lở, nhưng rồi mặt bà sưng vù lên, sống mũi xẹp lép, hai vành tai xệ xuống như tai lừa và khắp người mọc đầy những cục u đỏ lừ tứa nước vàng. Dân làng không cho bà bước chân lên đường cái. Họ cầm gậy gộc, dùng đá ném đuổi bà ra tận bãi tha ma hoang vu ngoài đồng ngập.
Rồi một buổi sáng sớm mịt mù sương muối, tiếng còi xe hơi của đội y tế chính quyền thuộc địa vang lên xé toạc sự tĩnh lặng của làng quê. Lính mã tà bồng súng lưỡi lê, mặc áo kaki vàng, đeo mạng che kín mặt xông vào bãi tha ma. Họ dùng dây thừng trói gập hai tay bà Lượm, xốc nách lôi xềnh xệch bà ném lên thùng xe tải bịt kín bạt thép. Người nhà bà Lượm quỳ lạy khóc lóc van xin dọc bờ đê, nhưng đám lính chỉ lạnh lùng vung báng súng nện xuống bùn đất xua đuổi.
Bà Lượm bị áp giải đưa thẳng về trại phong Bến Sắn, hoặc tống ra tận vùng Quy Hòa ngoài biển xa - những nơi mà người đời kháo nhau là mồ chôn sống của những kẻ mang xác chết biết đi. Kẻ nào đã bước chân vào cổng sắt của những trại phong đó thì xem như tên tuổi bị bôi xóa vĩnh viễn trên cõi đời này, thân nhân không được nhận xác, mả mồ không người cúng giỗ. Người ta đồn rằng ở đó, bệnh nhân sống chen chúc trong những gian nhà tranh mục nát, nhìn từng ngón tay, ngón chân của mình rụng dần cho tới khi trơ xương, rồi bị quẳng xuống những cái hố vôi chôn tập thể.
Tôi cắn chặt môi dưới, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sống lưng. Một gia tộc giàu sang tột đỉnh, nắm giữ một nửa huyết mạch buôn bán lúa gạo và bất động sản của cả Nam Kỳ lục tỉnh như nhà họ Huỳnh, làm sao có thể chấp nhận để ái nữ của mình bị tống vào những nơi địa ngục trần gian ấy?
Nếu chính quyền Pháp đưa quân tới bắt Hứa Tiểu Lan đi, tiếng tăm của họ Huỳnh sẽ sụp đổ tan tành theo từng đốt ngón tay rữa nát của cô Ba. Thương giới Sài Gòn sẽ quay lưng lại với họ, người ta sẽ thì thầm chỉ trỏ rằng đồng tiền của gia tộc này kiếm được từ những việc bất nhân nên con cái mới phải gánh chịu nghiệp báo ô uế nhường này.
Bên kia vách ván, giọng bà Mã chùng xuống, mang theo một nỗi hận thù cay đắng:
"Tất cả cũng tại con bé cứng đầu. Ngày xưa nếu nó chịu nghe lời ông bà lớn gả cho cậu ấm bên hội buôn Triều Châu thì đâu đến nỗi này. Cứ khăng khăng đòi thêu thùa, đòi học đàn, để rồi cái nghiệp chướng nó vận vào thân lúc nào không hay."
"Hôm đó tôi cũng có mặt ở thư phòng," chú Kính thở dài thườn thượt, tiếng thở nặng trĩu những ưu tư đen tối. "Trời xui đất khiến thế nào mà đúng vào ngày ông lớn tiếp viên Đốc lý thành phố. Cô Ba ngồi bên khung cửi lụa đỏ thêu cành mẫu đơn. Cây kim thêu bằng bạc cắm phập vào đầu ngón tay trỏ của cô, cắm sâu đến tận xương tủy mà cô vẫn ngồi cười nói, mặt không biến sắc. Máu chảy ròng ròng ướt đỏ cả cành hoa thêu dở mà cô không hề biết đau, không hề giật mình rút tay lại."
Bà Mã chậc lưỡi, tiếng gậy gỗ lại gõ nhè nhẹ:
"Mất cảm giác. Đó là dấu hiệu đầu tiên của loài quỷ dữ đòi xác. Tới lúc cô gãi rách cả một mảng da trên bắp tay mà trơ trơ như cào vào khúc gỗ lim thì ông lớn mới chết điếng. Mời thầy thuốc Tàu giỏi nhất về châm cứu, ông thầy vừa nhìn thấy những vết dát đỏ vô thanh không ngứa, không rát, ấn móng tay vào không có phản xạ liền lắc đầu quày quậy, vội vã thu dọn hòm thuốc chuồn thẳng cửa sau."
Tôi ngồi im phăng phắc bên lò than, từng lời từng chữ như những giọt chì nóng chảy rót thẳng vào tai.
Vệt đỏ vô thanh. Một vết đổi màu trên da thịt mềm mại của người con gái, không hề có tiếng kêu gào, không hề có cơn sốt đùng đùng báo trước, nhưng nó lại là bản án tử hình tàn khốc nhất. Bàn tay từng cầm kim thêu những bức họa tinh xảo làm rạng danh gia tộc, nay đã biến thành một bàn tay trơ lỳ trước cảm giác, mục ruỗng từ bên trong xương tủy. Đó là lý do tại sao ban trưa, khi bàn tay sưng húp ấy chạm vào mu bàn tay tôi qua khe cửa, nó lạnh buốt và vô hồn đến rợn người. Cô Ba không còn cảm nhận được hơi ấm của con người, cũng không còn cảm nhận được sự đau đớn khi các đầu ngón tay của mình tự rụng rời đi từng mẩu nhỏ.
"Thế chuyện cái trát của Tòa ba giải quyết êm đẹp chưa?" Bà Mã hỏi, giọng hạ thấp tối đa.
Chú Kính im lặng một lúc lâu. Tiếng giấy tờ sột soạt vang lên, kèm theo mùi mực in thuộc địa hăng hắc bốc qua khe ván:
"Xong rồi. Ông lớn phải chi ra một nghìn đồng bạc Đông Dương cho tay cò mật thám, thêm hai hũ vàng lá cho tên bác sĩ trưởng khoa của bệnh viện Chợ Lớn. Chiều hôm qua, tờ giấy báo tử chính thức đã được đóng triện đỏ."
Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Tờ giấy báo tử?
"Họ ghi nguyên do là gì?" Bà Mã hỏi.
"Bạo bệnh sởi biến chứng, xuất huyết nội tạng mà chết bất đắc kỳ tử," chú Kính đáp, giọng run rẩy một cách bất an. "Tất cả hồ sơ lưu trữ bên Tòa thị chính đã bị tiêu hủy. Trên giấy tờ của chính quyền bảo hộ, Hứa Tiểu Lan - con gái thứ ba của ông Huỳnh - đã trút hơi thở cuối cùng vào đêm rằm tháng trước. Thi hài đã được hỏa thiêu theo đúng thủ tục vệ sinh dịch tễ để tránh lây lan, tro cốt đưa về quê quán ở Triều Châu an táng. Kể từ ngày hôm qua, người mang tên Hứa Tiểu Lan trên cõi đời này không còn tồn tại nữa."
Một khoảng lặng ghê rợn bao trùm lấy gian phòng nhỏ bên kia vách.
Tôi ngồi chết trân, sống lưng cứng đờ. Một con người còn đang sống, vẫn hàng ngày thở những hơi thở khò khè đau đớn trên căn gác áp mái, vẫn đợi từng âu cháo nóng và bát thuốc bắc đắng ngắt, nhưng trên danh nghĩa của thế giới bên ngoài, cô đã là một cái xác vô hình từ lâu. Sự giàu có tột bậc của họ Huỳnh đã mua được cả mạng sống lẫn cái chết của chính con gái họ. Họ xóa tên cô khỏi sổ bộ của người sống, chôn vùi sự tồn tại của cô dưới một đống tiền vàng và những con dấu triện đỏ chót của quan thầy thuộc địa.
Bức tranh gia đình trong phòng khánh tiết hiện lên rõ mòn mọt trước mắt tôi. Khuôn mặt bị dao rọc nát nham nhở để lộ ra những sợi vải ba nâu xám xơ xác không phải là một hành vi phá hoại ngẫu nhiên. Đó là một nghi thức khai tử tàn nhẫn. Họ đã tự tay rạch bỏ dung mạo của cô con gái út ra khỏi dòng dõi, biến cô thành một bóng ma không mặt, một vết nhơ cần phải giấu nhẹm vào bóng tối vĩnh viễn.
"Làm vậy là đúng," giọng bà Mã đanh lại, lạnh lùng đến mức tàn nhẫn. "Thà để thiên hạ tưởng nó đã chết vì bệnh sởi, còn hơn để người ta biết nhà họ Huỳnh có một con hủi. Danh giá của dòng họ này không thể bị một đứa con gái hủy hoại. Nhưng mà Kính này, con bé vẫn còn thở ở trên lầu ba kia kìa. Mấy ngày nay, ban đêm nó cứ rên rỉ, đập đầu vào cửa đòi mẹ. Tiếng rên của nó vọng qua khe cửa sổ thông gió lọt ra ngoài phố, lỡ có người đi đường nghe thấy thì sao?"
Chú Kính thở dài, âm thanh nghe như tiếng một bao cát nặng trịch bị ném xuống sàn:
"Tôi đã bàn với ông lớn rồi. Ngày mai, tốp thợ hồ người Hoa ở Chợ Lớn sẽ đến. Toàn là người câm điếc, không biết nói tiếng An Nam, cũng chẳng đọc được mặt chữ. Họ sẽ mang gạch nung và vữa kín lên tầng áp mái. Phải xây bít toàn bộ các khung cửa sổ nhìn ra phố. Căn phòng đó phải biến thành một cái hòm kín mít, không một giọt ánh sáng lọt vào, không một tiếng động nào có thể thoát ra ngoài."
"Còn cánh cửa ra vào?"
"Thay bằng cửa gỗ lim dày ba tấc, mặt ngoài bọc thêm một lớp tôn sắt. Không có then khóa bên trong. Ba then sắt then cài bên ngoài, chỉ chừa đúng một cái khe hẹp sát mặt đất vừa vặn đẩy một chiếc khay cơm. Con bé đó sẽ vĩnh viễn không bao giờ được nhìn thấy bầu trời nữa."
Tiếng nước thuốc trong siêu đất sôi trào ra ngoài cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi.
Xèo!
Nước thuốc đen ngòm tràn xuống than hồng, bốc lên một làn khói mù mịt khét lẹt và tiếng xèo xèo đanh gọn. Tôi giật bắn mình, vội vàng lấy vạt áo bọc lấy quai siêu đất nhấc ra khỏi lò than. Tiếng động dưới bếp làm cuộc nói chuyện bên kia vách ván im bặt.
Cánh cửa ván ép kẽo kẹt mở ra. Bà Mã chống gậy bước ra ngoài, đôi mắt cú vọ quét một lượt từ chiếc siêu thuốc đang bốc khói nghi ngút trên nền gạch cho tới khuôn mặt tái mét, ướt đẫm mồ hôi của tôi. Ánh nhìn của bà sắc lẻm như muốn lột trần từng thớ thịt trong đầu tôi để xem tôi đã nghe thấy những gì.
"Mày làm cái gì mà để thuốc trào ra thế kia?" Bà gằn giọng, từng bước nện gậy xuống sàn tiến lại gần tôi.
Tôi run rẩy quỳ sụp xuống, hai tay chắp lại trước ngực, đầu cúi sát gối:
"Dạ... dạ con lỡ tay gạt phải que củi, lửa bốc mạnh quá... Con xin bà tha tội cho con, thuốc vẫn còn đủ một chén lớn, chưa cạn đâu ạ."
Bà Mã dừng lại ngay trước mặt tôi. Mũi hài nhung đen của bà chỉ cách trán tôi một gang tay. Mùi xạ hương nồng nặc trên vạt áo bà xộc vào mũi tôi, quyện với mùi thuốc bắc cháy khét tạo thành một thứ tử khí ngột ngạt.
"Mày có tai thì để mà nghe lời tao bảo, chứ đừng có đem tai đi hứng chuyện trời đất," bà Mã nói chậm rãi, từng âm tiết rít qua kẽ răng vàng ệch vì khói thuốc phiện. "Người hầu trong cái nhà này sống lâu hay chết yểu, là ở chỗ biết câm, biết điếc. Những chuyện trên lầu ba, nếu mày để lọt ra ngoài nửa lời, thì không phải chỉ có mình mày bị tống vào trại phong đâu. Cả cái nhà mày dưới quê, từ thằng cha tới con mẹ mày, ông lớn chỉ cần phất tay một cái là cả đám trôi sông trôi biển không còn một mảnh xương. Hiểu chưa?"
"Dạ... dạ con hiểu, con nhớ kỹ lời bà dạy rồi ạ," tôi run rẩy đáp, trán dán chặt xuống mặt gạch lạnh buốt.
"Rót thuốc ra chén rồi mang lên lầu cho cô Ba ngay. Đêm nay gió chướng thổi mạnh, liệu mà cài chặt mấy cái then cửa gỗ."
Nói xong, bà Mã quay lưng bước đi, bóng lưng còng còng của bà đổ dài trên bức tường vôi ố vàng dưới ánh đèn dầu leo lét.
Tôi chống tay lên nền gạch, chật vật gượng dậy. Đôi chân tôi mềm nhũn, run lẩy bẩy như vừa trải qua một cơn thập tử nhất sinh. Tôi với lấy chiếc bát sứ men xanh đặt trên kệ, nghiêng chiếc siêu đất nung trút thuốc ra. Dòng nước thuốc màu nâu đen đặc quánh chảy vào lòng bát, bốc lên hơi nóng hầm hập.
Tôi nhìn vào bề mặt đen ngòm của bát thuốc bắc. Trong làn khói mờ ảo, tôi như nhìn thấy lại đôi mắt vô hồn của cô Ba qua khe cửa hẹp ban trưa. Người con gái ấy đã chết trên giấy tờ, bị chính cha mẹ ruột dùng tiền bạc và quyền lực bôi xóa khỏi thế gian. Cô bị giam cầm trong bóng tối, cơ thể từng ngày bị một thứ mầm bệnh gặm nhấm mục ruỗng, nhưng tâm trí vẫn khắc khoải đợi chờ một ngày người mẹ mở cửa đến đón về.
Cô Ba không hề biết rằng, chỉ ngày mai thôi, những người thợ hồ câm điếc sẽ đem gạch vữa lên bịt kín những ô cửa sổ cuối cùng hướng về phía trần gian. Căn phòng trên gác thượng sẽ trở thành một nấm mồ xây bằng đá và vôi sống, nơi chôn vùi một sinh linh còn đang thở.
Tôi nâng khay đồng đựng bát thuốc nóng, từng bước nặng nề tiến về phía chân cầu thang sắt uốn lượn dẫn lên bóng tối mịt mùng của tầng cao nhất. Ngoài trời, tiếng sấm đầu mùa bắt đầu ì ùng vọng lại từ phía sông Sài Gòn, báo hiệu một cơn giông đen kịt sắp đổ ập xuống nóc dinh thự 97 Phó Đức Chính.