Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 25: Linh Hồn Mắc Kẹt Trăm Năm - Hồn Oan Được Giải
Nắng trưa rọi gay gắt xuống khoảng sân sau trải sỏi của Bảo tàng Mỹ thuật. Hai người bảo vệ đã rời đi từ lâu, bóng lưng họ khuất sau bức tường rào sơn…
Nội dung chương
Nắng trưa rọi gay gắt xuống khoảng sân sau trải sỏi của Bảo tàng Mỹ thuật. Hai người bảo vệ đã rời đi từ lâu, bóng lưng họ khuất sau bức tường rào sơn màu vàng đất. Chiếc ghế đá hoa cương nguội ngắt dưới bóng râm của cây me đại thụ. Tôi vịn tay vào thân cây xù xì, khó nhọc chống gậy đứng dậy. Khớp gối của một bà lão gần đất xa trời kêu lục khục từng tiếng khô khốc. Mỗi bước đi lúc này đều nặng nề như đang đeo chì, nhưng tôi biết mình không thể chần chừ thêm nữa.
Tôi rời khỏi bóng mát, chầm chậm bước qua thềm đá hoa cương dẫn vào tiền sảnh tòa nhà chính.
Bên trong đại sảnh, không gian lập tức chìm vào sự tĩnh lặng cách biệt hoàn toàn với cái nóng bức bối của phố thị bên ngoài. Mùi sơn dầu, mùi vải toan ẩm mốc quyện cùng hương gỗ sồi từ những khung tranh khổ lớn treo dọc các vách tường cao vút. Một vài vị khách ngoại quốc đi lại nhẹ nhàng trên nền gạch hoa men Pháp bóng loáng, tiếng gót giày gõ nhịp lách cách đều đặn rồi nhanh chóng chìm nghỉm vào vòm trần cong hình bán nguyệt. Người ta mải mê ngắm nghía những đường nét lập thể, những mảng màu đương đại lộng lẫy được xếp đặt ngay ngắn dưới ánh đèn rọi tranh tinh xảo. Không một ai để ý đến chiếc thang máy cổ nằm khuất nơi góc sảnh, bao bọc bởi những song sắt uốn hình hoa sen rỉ sét, câm lặng đứng đó như một chiếc lồng giam đã hoen ố qua cả thế kỷ.
Tôi dừng lại trước lồng thang máy ấy một hồi lâu. Qua những chấn song sắt sơn nhũ đồng đã tróc từng mảng lớn, buồng thang bằng gỗ gụ vẫn nằm im lìm ở tầng trệt. Bảng điều khiển bằng đồng thau khắc những chữ số La Mã đã mờ vẹt. Ngày xưa, mỗi bận bà chủ lớn hay các vị khách Tây quyền quý muốn lên lầu trên, người tài xế sẽ kéo chiếc cần gạt bằng đồng, dây cáp thép trên đỉnh trục sẽ rít lên ken két, nâng họ lên cao trong sự trầm trồ của kẻ ăn người ở. Còn tôi, một đứa con gái mười bảy tuổi bị bán trừ nợ từ miệt đồng bưng Cà Mau, suốt ba năm ròng rã chưa từng được phép đặt nửa bàn chân vào chiếc lồng gỗ quý giá ấy.
Đường đi của tôi là những bậc thang đá xoắn ốc ở góc tối sau lưng dãy hành lang người ở.
Tôi xoay người, hướng về phía cầu thang phụ dẫn lên các tầng trên. Tay vịn bằng sắt rèn hoa văn đã bị thời gian gặm nhấm, phủ một lớp bụi mỏng dù nhân viên vệ sinh vẫn lau chùi mỗi ngày. Tôi nắm chặt thanh sắt lạnh buốt, nhấc từng bước chân già nua lên bậc đá tam cấp.
Mỗi bậc thang trôi qua dưới mắt tôi là một thước phim ký ức ùa về quặn thắt. Cũng trên những bậc đá mòn nhẵn này, đôi bàn chân trần non nớt của tôi từng thoăn thoắt gánh từng thùng nước nóng bốc khói nghi ngút, thùng thuốc bắc sủi bọt ngai ngái đắng cay, và những thau đồng đựng vôi bột trắng xóa dùng để tẩy uế. Đôi chân tuổi mười bảy của tôi ngày đó lúc nào cũng nứt nẻ vì nước vôi ăn da, nhưng bước chân chưa bao giờ dám chậm trễ. Tôi sợ tiếng rên rỉ yếu ớt sau khe cửa sắt, sợ rằng chỉ cần tôi bước chậm một nhịp, tiểu thư của tôi sẽ chìm vào cơn co giật đớn đau mà không có lấy một giọt nước thấm giọng.
Lên đến tầng hai, các gian phòng trưng bày tranh vẫn mở toang cửa đón ánh sáng. Tranh phong cảnh miền quê, tranh thiếu nữ mặc áo dài tím, những bức tượng đồng lấp lánh phản chiếu sự bình yên giả tạo. Tôi lướt qua những thứ hào nhoáng ấy mà không liếc nhìn lấy một lần. Hướng đi của tôi là tầng cao nhất, nơi không gian triển lãm kết thúc bằng một tấm biển gỗ đề chữ "Khu vực kỹ thuật - Không phận sự miễn vào".
Tấm biển ấy chắn ngang trước cầu thang gỗ hẹp dẫn lên căn phòng áp mái. Nơi đây không có bóng dáng người trông coi. Khách tham quan chỉ dừng lại ở tầng hai chụp hình lưu niệm rồi quay xuống. Tiếng cười nói của đám người trẻ tuổi xa dần, mỏng dần, rồi tan biến hẳn dưới các tầng sâu.
Không khí xung quanh tôi bắt đầu chuyển biến.
Hơi lạnh ẩm ướt, nhớp nháp quen thuộc từ tột cùng ký ức từ từ dâng lên, bủa vây lấy từng thớ thịt. Nhiệt độ dường như tụt xuống cả chục độ so với bên ngoài. Càng bước lên cao, mùi dầu thông và sơn mài của bảo tàng càng nhạt dần, nhường chỗ cho một thứ mùi vị quánh đặc, khó tả. Mùi của những góc nhà bị bỏ quên cả trăm năm, mùi của vôi vữa mục nát, và ẩn sâu bên dưới là cái ngai ngái nồng cay của rễ cây bạch chỉ, hoàng liên trộn lẫn với dịch mủ hoại tử khô khốc.
Chân tôi run rẩy dừng lại trước cánh cửa gỗ lim dày nặng ở cuối hành lang tầng ba.
Cánh cửa dẫn vào căn phòng áp mái - nơi đặt khung cửa sổ thứ chín mươi chín nhìn thẳng ra góc ngã tư xầm uất.
Nơi đây từng có một cánh cửa sắt kiên cố với một khe hẹp nhỏ bằng bàn tay dưới chân sàn, nơi tôi từng quỳ gối đẩy từng khay cháo trắng và những dải băng vải xô vào trong bóng tối mịt mùng. Cánh cửa sắt ngục tù năm xưa đã bị người ta dỡ bỏ khi dinh thự đổi chủ, thay vào đó là cánh cửa gỗ đóng then cài hờ hững. Then sắt hoen rỉ nằm nghiêng sang một bên, để lộ một khe hở vừa đủ cho một người lách qua.
Tôi run rẩy đặt bàn tay nhăn nheo, nổi đầy đồi mồi lên mép gỗ lim. Thớ gỗ ráp rúa, lạnh buốt thấu tận tâm can.
"Két..."
Tiếng bản lề rỉ sét rên rỉ khô khốc vang vọng khắp hành lang vắng lặng, xé toạc tấm màn nhung của thời gian.
Tôi lách người bước qua ngưỡng cửa, tiến vào gian phòng áp mái.
Một luồng ánh sáng trưa chói lòa từ khung cửa sổ vòm phong cách Baroque chiếu xiên qua lớp bụi mờ mịt lơ lửng giữa không trung. Gian phòng hoàn toàn trống rỗng. Không còn chiếc giường sắt đơn độc nơi tiểu thư từng nằm quằn quại giữa những tấm drap trắng vấy máu mủ. Không còn chiếc bàn trang điểm bằng gỗ cẩm lai cẩn xà cừ nơi nàng từng lén lút ngồi ngắm nghía gương mặt kiều diễm trước khi những khối u thịt sần sùi biến nàng thành quái vật. Nền nhà lát gạch bông kiểu Pháp cổ đã nứt nẻ nhiều mảng, rêu phong bám xám xịt nơi các góc tường.
Thế nhưng, căn phòng không hề chết.
Nó đang thở. Từng nhịp thở nặng nề, dồn dập, rít qua những khe nứt của tường vôi, mang theo cái lạnh thấu xương của một linh hồn bị giam cầm vĩnh viễn giữa cõi nhân gian.
Ánh mặt trời gay gắt chiếu rọi vào mảng tường phía sau cánh cửa gỗ, nơi lớp vôi quét màu vàng nghệ đã bong tróc từng mảng lớn, trơ ra lớp gạch nung đỏ quạch và vữa hồ xám xịt. Dưới luồng sáng xiên chéo rực rỡ ấy, một sự thật trần trụi và kinh hoàng hiện rõ mồn một trước mắt tôi.
Trên mảng tường nham nhở là chi chít những vệt cào xé sâu hoắm.
Chúng không phải vết nứt do thời gian hay do sự sụt lún của nền móng dinh thự. Đó là những rãnh cào song song, kéo dài từ tầm cao ngang ngực người lớn xuôi xuống tận chân tường. Có những rãnh cào ăn sâu vào tận lớp gạch thẻ nung, đầu vết cào tù tròn một cách bất thường, hoàn toàn thiếu đi nét sắc nhọn của những móng tay lành lặn.
Đó là dấu vết để lại từ những ngón tay đã rụng hết lóng đốt, những mỏm thịt sần sùi lở loét vì chứng bệnh phong cùi tàn độc.
Trong những đêm dài bị cơn sốt hủi thiêu đốt lục phủ ngũ tạng, khi ngứa ngáy và đau đớn xé rách từng dây thần kinh tủy sống, nàng đã lê lết thân xác tàn tạ từ chiếc giường sắt đến góc tường này. Nàng đã quỳ xuống lớp gạch men lạnh lẽo, dùng những bàn tay tật nguyền bấu chặt vào tường vôi, cào cấu đến tróc da lòi thịt để tìm kiếm một chút cảm giác của sự sống, để át đi nỗi thống khổ cùng cực của một con người bị chôn sống giữa trần gian.
Sâu bên trong những kẽ rãnh cào ấy, lớp vữa vôi màu xám vẫn còn đọng lại những vệt nâu đen sẫm màu. Máu của Hứa Tiểu Lan. Máu từ những đầu ngón tay cụt lóng đã khô cứng, ngấm sâu vào cốt tường, hóa thạch cùng thời gian suốt một thế kỷ qua.
Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi lăn dài trên hai gò má nhăn nhúm. Tôi quỳ sụp xuống sàn gạch lạnh buốt, hai đầu gối run rẩy chạm vào những vụn vôi vữa rơi vãi dưới chân tường. Tôi đưa những ngón tay run rẩy chạm vào từng rãnh cào đá sỏi ấy.
- Tiểu thư ơi... Tôi về với cô rồi đây... Mai về rồi đây cô ơi...
Tiếng tôi khàn đặc, vỡ vụn giữa bốn bức tường câm lặng.
Không có tiếng gõ cửa đáp lại. Không có tiếng gào thét kinh hoàng như những người đời thêu dệt trong những câu chuyện ma mị rùng rợn.
Chỉ có một luồng gió lạnh từ khung cửa sổ Baroque đột ngột thổi thốc vào phòng. Luồng gió cuốn theo những hạt bụi li ti nhảy múa dưới vệt nắng vàng, xoay tròn quanh thân hình còng rạp của tôi. Một mùi hoa nhài khô héo rữa nát quyện chặt lấy vị thuốc bắc đắng chát xộc thẳng vào cánh mũi. Mùi hương ấy nồng nặc đến mức ngột ngạt, như thể chủ nhân của nó đang đứng ngay sau lưng tôi, nghiêng mình cúi xuống, thở hắt ra nỗi uất hận dồn nén suốt trăm năm.
Tôi gạt nước mắt, run rẩy mở chiếc túi vải thô đeo bên hông.
Từ trong túi, tôi lấy ra chiếc lược đồi mồi đã mòn vẹt, gãy mất ba chiếc răng. Chiếc lược kỷ vật mà ngày xưa nàng đã lén nhét qua khe cửa sắt cho tôi, trước cái đêm định mệnh nàng bị ép uống chén thuốc độc để giữ trọn danh dự hão huyền cho gia tộc họ Hứa giàu sang bậc nhất Sài thành. Cùng với chiếc lược, tôi rút ra một cành hoa nhài trắng muốt, tươi rói, những nụ hoa còn e ấp ngậm sương sớm mà tôi vừa xin được từ một ngôi chùa cổ ven kênh Tàu Hủ sáng nay.
Tôi gượng đứng dậy, bước từng bước run rẩy về phía bậu cửa sổ thứ chín mươi chín.
Cửa sổ mở he hé nhìn xuống đường phố bên dưới. Sài Gòn của thế kỷ hai mươi mốt đang cuộn chảy ngoài kia với những tòa nhà chọc trời bằng kính xanh ngắt, những dòng xe cộ nườm nượp nối đuôi nhau gầm rú, và những dòng người hối hả ngược xuôi trong sự phát triển phồn hoa tột đỉnh. Dưới con mắt của người đời hôm nay, tòa dinh thự này chỉ là một công trình kiến trúc cổ kính tuyệt mỹ, là nơi trưng bày nghệ thuật tao nhã, là bối cảnh chụp hình cưới rạng rỡ của những đôi lứa trẻ trung.
Họ đâu biết rằng ngay dưới chân họ, ngay trên mảng tường áp mái này, từng có một linh hồn bị bóp nghẹt đến chết trong sự ghẻ lạnh tột cùng.
Tôi đặt chiếc lược đồi mồi nằm ngay ngắn lên bậu cửa sổ bằng đá hoa cương. Bên cạnh chiếc lược, tôi nhẹ nhàng đặt cành hoa nhài trắng tinh khôi xuống.
- Cô Ba đừng buồn người đời nữa... - Tôi thì thào, giọng nghẹn lại trong cổ họng - Người ta không biết. Người ta chỉ thấy nỗi sợ hãi của cái chết, thấy lớp da thịt lở loét xấu xí mà không nhìn thấy trái tim nhân từ của cô. Họ đem nỗi đau của cô ra làm trò vui, làm phim kinh dị, làm những lời đồn thổi ma quái để mua vui cho thiên hạ... Nhưng con Mai này nhớ. Cả đời này tôi nhớ cô. Tôi nhớ bàn tay từng thêu cho tôi chiếc khăn tay lụa, nhớ tiếng cô ngâm thơ bên song sắt, nhớ cả những giọt nước mắt cô khóc vì thương cha mẹ không dám nhìn mặt con...
Gió ngoài khung cửa sổ bỗng ngừng thổi.
Không gian trong căn phòng áp mái chùng xuống, đặc quánh lại trong một khoảnh khắc tĩnh mịch tuyệt đối.
Rồi, một điều kỳ lạ xảy ra.
Mùi hôi tanh nồng nặc của dịch mủ hoại tử và vị đắng chát của thuốc bắc bỗng nhiên tan biến sạch trơn. Không khí xung quanh tôi dần trở nên trong trẻo lạ thường. Thay vào đó là một mùi hương hoa nhài thanh khiết. Nó thơm ngát, ngào ngạt lan tỏa khắp gian phòng áp mái. Tựa như mùi hương trên mái tóc mượt mà của tiểu thư Hứa Tiểu Lan vào cái ngày nàng chưa tròn mười lăm tuổi. Khi bệnh tật chưa từng chạm tới thân xác ngọc ngà của nàng.
Dưới ánh nắng trưa rực rỡ soi rọi qua ô kính màu Baroque, vệt sáng hình quạt từ từ di chuyển, phủ trùm lên cành hoa nhài trắng muốt và chiếc lược đồi mồi trên bậu cửa.
Từ nơi góc tối của mảng tường đá có những vết cào hóa thạch, một bóng hình mỏng manh màu trắng từ từ hiện lên mờ ảo trong không trung. Dáng hình ấy không còn mang những cục u sần sùi biến dạng, không còn chiếc khăn tang rách nát quấn quanh cổ họng, cũng không còn đôi bàn tay cụt lóng rướm máu.
Nơi đó chỉ là một thiếu nữ tuyệt sắc trong tà áo dài lụa trắng thêu hoa cúc đại đóa, mái tóc đen dài buông xõa ngang lưng, gương mặt thanh tú ngời sáng dưới ánh ban mai. Nàng đứng đó, lặng lẽ mỉm cười nhìn tôi, ánh mắt chan chứa sự dịu dàng và lòng biết ơn sâu thẳm.
Nàng khẽ nghiêng đầu, đưa bàn tay thon dài trắng nõn vẫy nhẹ về phía tôi.
Bên tai tôi, giữa sự tĩnh mịch vô cùng của tòa dinh thự trăm tuổi, một tiếng thở dài khe khẽ vang lên.
Tiếng thở dài ấy không còn mang sự ai oán, không còn nỗi thống khổ xé thịt nát da của kiếp nhân sinh đầy rẫy oan khiên. Đó là một tiếng thở dài nhẹ nhõm, thanh thản, tựa như một người lữ khách vừa trút bỏ được gánh nặng ngàn cân sau một chuyến đi dài dằng dặc suốt cả một thế kỷ tối tăm.
Bóng áo trắng mờ dần, tan biến vào luồng ánh sáng mặt trời chói lòa đang tràn ngập căn phòng.
Một cơn gió Nam mát rượi ùa qua khung cửa sổ thứ chín mươi chín, cuốn theo một cánh hoa nhài trắng muốt bay lên cao, lượn vòng giữa không trung rồi bay vút ra ngoài bầu trời xanh ngắt của thành phố Sài Gòn hoa lệ.
Tôi đứng tựa lưng vào bậu cửa sổ, hai hàng nước mắt tuôn rơi nhưng trên môi nở một nụ cười thanh thản. Mọi ân oán, mọi đớn đau, mọi bi kịch của gia tộc họ Hứa vàng son một thuở giờ đây đã thực sự khép lại. Tiểu Lan của tôi đã được tự do. Nàng đã rời khỏi chiếc lồng son ngục tù, bay về với mây trời bao la, nơi không còn sự kỳ thị ghê tởm, không còn nhung lụa giả tạo, chỉ còn lại sự an nghỉ vĩnh hằng cho một kiếp hồng nhan bạc phận.
Tôi quay lưng, chậm rãi bước từng bước vững chãi ra phía cửa gỗ lim, khẽ khàng kéo then cài lại sau lưng, để lại sau vách tường trăm năm một nhành hoa trắng ngát hương dưới ánh mặt trời.