Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 24: Mùi Hương Hoa Nhài Trong Đêm Bảo Vệ Trực

Nhiều thập kỷ trôi qua, thành phố thay da đổi thịt đến mức người già như tôi đôi lúc ngỡ mình đang sống giữa một giấc mộng lạ lùng. Những đại lộ rợp bóng…

Nội dung chương

Nhiều thập kỷ trôi qua, thành phố thay da đổi thịt đến mức người già như tôi đôi lúc ngỡ mình đang sống giữa một giấc mộng lạ lùng. Những đại lộ rợp bóng me xưa kia dần mọc lên những khối nhà bê tông cao chọc trời, xe cộ gầm rú suốt ngày đêm bằng động cơ bóng loáng thay cho tiếng lọc cọc của xe thổ mộ hay tiếng chuông leng keng của tuyến xe điện cũ. Tòa dinh thự tráng lệ số 97 đường Phó Đức Chính cũng không còn bị bỏ mặc cho cỏ dại và rêu phong gặm nhấm như cái dạo tôi ghé qua sau ngày đất nước thống nhất.

Cánh cổng sắt uốn hoa văn cầu kỳ đã được quét lại một lớp sơn đen bóng. Tấm biển đồng lớn gắn bên trụ cổng khắc dòng chữ trang trọng: Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Họ Huỳnh biến mất khỏi xứ này, để lại sau lưng một cơ ngơi nguy nga gồm ba tòa nhà liên hoàn, mang đậm phong cách kiến trúc Pháp kết hợp nét trang trí Á Đông rực rỡ. Người ta đến đây nườm nượp mỗi ngày. Khách ta, khách tây, các cô cậu sinh viên mỹ thuật mang theo giá vẽ và sổ tay, tụ tập dưới những vòm cuốn hành lang râm mát. Những gian phòng từng nực mùi thuốc bắc, mùi dầu cù là và tiếng đếm bạc lách cách của các bà lớn nay được cải tạo thành phòng trưng bày tranh sơn dầu, tranh lụa, tượng điêu khắc và đồ gốm cổ.

Ánh đèn rọi hiện đại chiếu rọi lên từng bức tranh, soi rõ nét cọ tài hoa của các danh họa. Khách tham quan bước đi rón rén trên sàn gạch men nhập từ Pháp về, trầm trồ trước những ô cửa kính màu phong cách Baroque lấp lánh ánh sáng ngũ sắc. Họ bàn tán về ba cục, màu sắc, trường phái ấn tượng hay hiện thực. Chẳng một ai trong số họ biết rằng, bên dưới những lớp vôi vàng mới quét và những tấm ván ốp tường láng bóng kia, từng giọt máu và mủ hoại tử của một thiếu nữ mười sáu tuổi đã ngấm sâu vào từng thớ gạch, mục rữa cùng với sự suy tàn của một gia tộc giàu sang bậc nhất xứ Nam Kỳ.

Tôi chống chiếc gậy tre mòn vẹt, lưng còng rạp xuống gần sát đất, bước chầm chậm qua khoảng sân lát đá xám. Tóc tôi đã bạc trắng như cước, hai mắt mờ đục vì thời gian và những giọt nước mắt khóc mướn suốt nửa đời người. Mỗi bước chân tôi bước trên nền gạch này đều nặng trịch, bởi vì từng tấc đất nơi đây đều níu giữ một mảnh ký ức rách nát của tôi.

Dưới tán cây cổ thụ sum suê gần khu nhà sau, hai người đàn ông mặc đồng phục bảo vệ màu xanh đậm đang ngồi uống trà đá trên chiếc ghế đá hoa cương. Một người đứng tuổi, tóc muối tiêu, tên Năm; người kia còn khá trẻ, da ngăm đen, bảng tên cài trên ngực áo ghi chữ Tuấn. Tôi chọn một chiếc ghế gỗ mục gần đó, vờ như một bà lão mỏi chân ngồi nghỉ, lặng lẽ nghiêng tai lắng nghe câu chuyện thì thầm của họ.

Tuấn bưng ly trà đá lên uống một ngụm lớn, hai mắt thâm quầng lộ rõ vẻ mệt mỏi sau một đêm thức trắng. Cậu ta liếc nhìn lên tầng ba của tòa nhà chính, giọng hạ thấp xuống chừng nửa nốt:

- Chú Năm, con nói thiệt với chú, hết tháng này cho con đổi ca ngày đi. Trực ca ba kiểu này chắc có ngày con đứt gân máu chết quá. Đêm nào cũng đúng giờ đó, tim con đập muốn rớt ra ngoài lồng ngực.

Chú Năm châm một điếu thuốc lá, nhả ra làn khói xám đục bay là là mặt đất. Ánh mắt ông dán chặt vào những ô cửa sổ hình vòm trên tầng cao nhất, nơi các cánh cửa gỗ chớp vẫn khép hờ hờ. Ông chậm rãi gõ ngón tay lên mặt bàn đá:

- Mày mới vô làm được ba tháng, gặp vậy đã muốn xin rút rồi sao? Đám bảo vệ đời trước truyền miệng nhau cả mấy chục năm nay, có ai chết vì mấy cái tiếng đó đâu. Cứ ngậm miệng lại, coi như tai điếc mắt đui là xong chuyện.

- Sao mà điếc được chú! - Tuấn rùng mình, hai cánh tay nổi đầy gai ốc - Đêm qua, đúng mười hai giờ đêm, con đi tuần một mình ở hành lang tầng hai. Cả tòa nhà đã tắt hết đèn chiếu sáng, chỉ chừa lại mấy cái bóng đèn ngủ màu vàng hiu hắt ở góc cầu thang. Gió ngoài trời không có một chút, vậy mà các cánh cửa sổ cứ rung bần bật từng chặp. Rồi con nghe rõ mồn một... tiếng chân người đi.

Tôi ngồi bên cạnh, bàn tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào đầu gậy tre. Từng lời của Tuấn như chiếc kim nhọn đâm thẳng vào màng nhĩ tôi.

Tuấn nuốt nước bọt đánh ực một cái, nói tiếp:

- Tiếng bước chân trần kéo lê bẹt bẹt trên sàn gạch bông, y hệt người ta bị liệt nửa thân dưới ráng lết đi. Nó bắt đầu từ phía cuối hành lang tầng ba, đi chầm chậm ngang qua các phòng trưng bày tranh cổ, rồi dừng lại ngay đầu cầu thang xoắn ốc. Con đứng ở tầng dưới, rọi đèn pin lên thì không thấy ai hết. Cầu thang trống trơn. Nhưng cái bóng của bậc thang lại in lên tường một vệt đen dài ngoằng, uốn éo như con rắn.

Chú Năm thở dài, khói thuốc cay nồng phả ra từ kẽ răng:

- Tiếng bước chân đó tao nghe mòn tai mười mấy năm nay rồi. Nhưng cái ghê nhất không phải bước chân, mà là tiếng cào. Mày đã nghe tiếng móng tay cào lên cánh cửa gỗ lim chưa?

Tuấn run rẩy lắc đầu, mặt cắt không còn hạt máu.

- Cứ đêm nào mưa rả rích, hơi nước bốc lên từ lòng đất - Chú Năm trầm giọng kể, ánh mắt đăm chiêu nhìn về dĩ vãng - Là trên tầng áp mái lại phát ra tiếng cào sột soạt. Ban đầu nhẹ hều, giống như chuột cắn ván. Nhưng nghe kỹ lại thì khác hẳn. Đó là tiếng những đầu ngón tay không có móng, những mẩu xương cụt cọ xát liên tục vào mặt gỗ dày. Nó cào từng nhịp, từng nhịp, kèm theo tiếng thở phì phò nghẹn ứ đờm dãi. Có bữa tao leo lên tận nơi, đứng trước cánh cửa phòng kho đóng kín mít, áp tai vô khe cửa thì nghe tiếng nấc nghẹn ngào từ bên trong vọng ra. Giọng của một đứa con gái trạc mười lăm, mười sáu tuổi. Nó khóc rấm rứt, kêu đau, kêu lạnh.

Trái tim già nua của tôi co thắt lại từng cơn buốt nhói. Hứa Tiểu Lan. Nàng vẫn ở đó. Nàng chưa từng được giải thoát khỏi bốn bức tường giam hãm ấy. Năm xưa, khi những ngón tay nàng bắt đầu rụng từng đốt vì chứng cùi hủi quái ác, nàng cũng thường dùng những mẩu thịt u sùi ấy đập vào khe cửa gỗ, khóc lóc van xin tôi mở chốt sắt để nàng được nhìn thấy ánh mặt trời.

Tuấn ôm lấy hai bả vai, run rẩy nói:

- Còn chiếc thang máy cổ thì sao chú? Con nghe mấy anh ca trước đồn, cái lồng sắt đó ban đêm tự chạy?

- Chuyện đó có thật một trăm phần trăm - Chú Năm gật đầu xác nhận - Chiếc thang máy đó là loại cổ nhất Sài Gòn, lắp đặt từ hồi đầu thế kỷ trước, dùng khung sắt rèn hoa văn tinh xảo của bên Pháp chở qua. Ban đêm bảo tàng ngắt toàn bộ cầu dao tổng khu thang máy để phòng chập điện cháy nổ. Nhưng cứ hễ điểm đúng canh ba, cái ròng rọc sắt trên trần nhà lại tự động quay cót két.

Chú Năm ngừng lại một chút, dập tắt mẩu tàn thuốc xuống gạt tàn rồi nói tiếp:

- Bánh răng cơ khí rít lên từng tràng chói tai. Dây cáp sắt rung lên bần bật, kéo chiếc lồng sắt từ tầng trệt chầm chậm trồi lên. Nó không dừng ở tầng một hay tầng hai, mà chạy thẳng một mạch lên tầng cao nhất. Khi lồng sắt chạm sàn tầng ba, tiếng cửa sắt xếp kéo ra một cái 'rầm'. Sau đó là khoảng lặng chết chóc chừng năm phút, rồi cửa sắt tự khép lại, lồng thang lại từ từ tụt xuống đáy tầng trệt. Cứ như thể có một vị khách vô hình vừa bước vào thang máy, nhờ nó đưa lên căn phòng trên đỉnh dinh thự để trở về giường ngủ của mình.

Tôi nhắm nghiền mắt lại. Hình ảnh ngày xưa ùa về rõ mồn một. Chiếc thang máy sắt đó từng là niềm kiêu hãnh tột bậc của ông chủ Huỳnh. Thuở Tiểu Lan chưa phát bệnh, mỗi lần nàng mặc chiếc đầm ren trắng mua từ Paris, nàng thường đứng trong chiếc lồng sắt ấy, cười giòn tan vẫy tay chào người làm bên dưới. Chiếc thang máy rực rỡ ánh đồng thau ấy đã từng đưa một nàng tiểu thư đài các lên đỉnh cao danh vọng, rồi cũng chính nó trong những đêm tối âm u sau này, đã lặng lẽ vận chuyển những thùng vôi bột, những thang thuốc bắc hôi nồng và đồ tiếp tế cho một kẻ phế nhân bị dòng tộc chối bỏ.

Tuấn khẽ nuốt nước bọt, ghé sát vào tai chú Năm:

- Chú Năm, chuyện đêm qua... con chưa kể hết cho chú nghe. Rạng sáng nay, lúc khoảng hai giờ mười lăm, hệ thống an ninh phòng chống trộm của bảo tàng đột nhiên báo động.

Chú Năm nhíu mày, nét mặt lập tức trở nên căng thẳng:

- Báo động ở khu vực nào? Gian trưng bày cổ vật gốm sứ hả?

- Không chú. Chuông cảm biến nhiệt và hồng ngoại rú liên hồi ở gian phòng áp mái tầng ba. Cái phòng bị niêm phong cửa gỗ, ghi biển cấm vào để chứa tranh cũ mục đó.

Tôi mở trừng mắt, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào vạt áo bà ba thô ráp. Căn phòng áp mái ấy chính là phòng biệt lập năm xưa của Tiểu Lan. Nơi có cánh cửa gỗ khoét một khe hở bốn đốt ngón tay, nơi tôi đã ngồi hàng ngàn đêm nghe nàng thở dài qua kẽ vách.

- Chuông reo ba hồi liên tiếp - Tuấn lắp bắp, giọng run rẩy như sắp khóc - Con với anh Bình trực phòng máy giật bắn người. Tụi con tưởng có kẻ trộm đột nhập từ mái ngói xuống để trộm tranh quý. Con lập tức bật màn hình camera an ninh số 14, cái mắt thần gắn ngay góc hành lang chiếu thẳng vào cửa phòng áp mái.

- Rồi thấy cái gì? Có bóng người leo rào không? - Chú Năm dồn dập hỏi.

- Không có ai hết chú ơi. Màn hình trắng xóa những hạt nhiễu xám xịt. Cánh cửa gỗ dày cộm vẫn đóng chặt, ổ khóa đồng to tướng bên ngoài không hề suy suyển. Nhưng cảm biến hồng ngoại trên tường vẫn liên tục nhấp nháy đèn đỏ báo hiệu có vật thể di chuyển mang theo thân nhiệt bất thường. Con với anh Bình chỉnh độ phân giải camera lên mức nét nhất. Và rồi... tụi con thấy một thứ trôi nổi giữa không trung.

Tuấn dừng lại, lồng ngực phập phồng vì nỗi kinh hoàng vừa trỗi dậy.

- Thứ gì? Nói lẹ lên! - Chú Năm gắt nhẹ.

- Một dải lụa trắng, chú Năm. Một dải lụa trắng tinh, dài thượt, buông thõng từ khe thông gió trên trần nhà xuống, lơ lửng giữa hành lang. Nó không rớt xuống đất, cũng không bay dạt theo luồng gió của máy hút ẩm. Nó trôi bồng bềnh, uốn lượn chầm chậm như dải mây. Rồi ngay trước ống kính camera, dải lụa đó từ từ bay ngang qua, lướt sát sạt mặt kính mắt thần. Lúc nó lướt qua, con nhìn thấy rõ trên mép dải lụa có những vệt ố vàng khè, loang lổ như vết mủ khô dính máu.

Tuấn run rẩy rút trong túi áo ra một cuốn sổ tay bìa da màu đen - cuốn sổ trực ban an ninh của bảo tàng. Cậu ta lật vội vài trang rồi chỉ ngón tay run rẩy vào những dòng chữ viết vội bằng mực xanh:

- Chú coi nè. Anh Bình ghi rõ ràng vô biên bản trực ban rạng sáng nay: '02:15 sáng, hệ thống báo động tầng ba kích hoạt ba lần không rõ nguyên nhân. Camera ghi nhận hiện tượng dải sáng trắng chuyển động. Đi kiểm tra thực tế: Cửa khóa nguyên vẹn. Nhưng không khí quanh hành lang tầng ba bốc mùi nồng nặc.'

- Mùi gì? - Chú Năm trầm giọng hỏi, dù dường như ông đã đoán trước được câu trả lời.

- Mùi thuốc bắc đắng ngắt trộn lẫn với mùi hoa nhài rữa nát. Mùi tanh tưởi đến mức anh Bình vừa bước tới đầu cầu thang đã phải ôm ngực nôn thốc nôn tháo. Tụi con sợ quá, không dám bước tới gần cánh cửa đó nửa bước, phải chạy thục mạng xuống phòng bảo vệ ngồi chờ tới sáng.

Hai người đàn ông chìm vào sự im lặng nặng nề. Gió trưa từ sông Sài Gòn thổi qua những tán lá me xào xạc, mang theo cái nóng hầm hập của đô thị, nhưng chiếc ghế đá nơi họ ngồi dường như đang tỏa ra một luồng khí lạnh thấu xương.

Tôi ngồi bất động, nước mắt từ đôi mắt mờ đục cứ thế lặng lẽ chảy tràn xuống những nếp nhăn nheo trên gò má già nua.

Dải lụa trắng ấy chính là mảnh khăn tang mà ngày xưa bà chủ lớn đã ném qua khe cửa, ép Tiểu Lan phải tự thắt cổ để giữ gìn thanh danh cho gia tộc. Mùi thuốc bắc và hoa nhài ấy chính là mùi của sự cùng quẫn, mùi của một sinh mệnh bị chôn sống giữa nhung lụa và bạc vàng.

Người đời đã biến tòa nhà này thành bảo tàng nghệ thuật. Họ sơn son thếp vàng, họ treo lên đó những bức tranh lộng lẫy để ca ngợi cái đẹp, ca ngợi sự thanh cao của kiếp nhân sinh. Nhưng họ không tài nào xóa đi được tiếng bước chân tật nguyền của nàng. Nàng vẫn đang kéo lê thân xác tàn tạ qua từng căn phòng trưng bày tranh lộng lẫy mỗi đêm. Nàng vẫn đang đưa những ngón tay rụng đốt cào xé lên cánh cửa gỗ lim, cố tìm một lối thoát mà một thế kỷ trôi qua vẫn chưa từng mở ra cho nàng.

Chú Năm thở dài một hơi thật sâu, đứng dậy vỗ vai Tuấn:

- Thôi, chuyện tới đâu hay tới đó. Lát nữa tao với mày lên phòng giám đốc báo cáo lại, đề nghị cho mời thầy về cúng một mâm cơm chay. Trăm năm rồi... người ta ở đây trước khi tụi mình sinh ra, xua đuổi làm sao đặng.

Hai người bảo vệ thu dọn bao thuốc lá và ly nước rồi bước nhanh về phía cổng trước.

Sân sau của viện bảo tàng chỉ còn lại mình tôi ngồi trơ trọi dưới bóng cây già. Tôi ngước nhìn lên ô cửa sổ thứ chín mươi chín ở góc cao nhất của tòa dinh thự.

Ánh mặt trời gay gắt ban trưa rọi thẳng vào khung cửa vòm phong cách Baroque, soi tỏ những lớp bụi dày bám trên mặt kính ố màu.

Phía sau lớp kính mờ mờ bụi bặm ấy, giữa bóng tối thăm thẳm của gian phòng áp mái, một bóng hình mỏng manh màu trắng vẫn đứng lặng lẽ nhìn xuống sân. Không có nanh vuốt của loài quỷ dữ. Không có ánh mắt hận thù đỏ ngầu như người đời thêu dệt trong những cuốn phim kinh dị rẻ tiền.

Nơi đó chỉ có một dáng người cô độc đến nao lòng, tựa đầu vào chấn song sắt han rỉ, chờ đợi một tiếng gọi thân quen giữa cõi nhân gian đã hoàn toàn quên lãng nàng.

Tôi run rẩy đưa bàn tay già nua lần vào đáy túi vải thô, chạm vào chiếc lược đồi mồi đã mòn gãy mất ba chiếc răng. Đã đến lúc tôi phải bước lên những bậc thang xoắn ốc ấy, trở lại nơi bi kịch bắt đầu để đối diện với nàng lần cuối cùng.

Chương khác

Xem thêm