Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 21: Dinh Thự Đổi Chủ Qua Trăm Năm

Sau cái đêm sấm sét xé toạc bầu trời và bóng trắng gieo mình từ khung cửa sổ thứ chín mươi chín, tòa dinh thự lộng lẫy bậc nhất Sài thành bỗng chốc biến…

Nội dung chương

Sau cái đêm sấm sét xé toạc bầu trời và bóng trắng gieo mình từ khung cửa sổ thứ chín mươi chín, tòa dinh thự lộng lẫy bậc nhất Sài thành bỗng chốc biến thành một bãi tha ma lạnh lẽo. Bình minh ngày hôm sau không mang theo chút ánh nắng nào, chỉ có bầu trời xám xịt màu tro tàn và những vũng nước mưa đùng đục đọng lại khắp khoảng sân lát đá. Cơn mưa dông đã dứt hẳn, nhưng mùi đất ẩm ướt hòa lẫn mùi thịt da thối rữa và khói nhang nồng nặc vẫn bám riết lấy từng chân tường gạch xám, không cách nào xua tan.

Nửa số gia nhân trong dinh thự đã cuốn gói trốn chạy ngay trong đêm.

Họ vứt bỏ cả tiền công tháng, vứt bỏ áo xống và chăn chiếu nơi buồng xép, xô cửa phụ tháo thân ra đường cái giữa cơn mưa tầm tã. Những người còn nấn ná lại tới sáng hôm sau cũng đều run lẩy bẩy, mặt mày xám ngoét, mắt trước mắt sau ngó nghiêng lên tầng ba rồi vội vã thu dọn hành lý xin thôi việc. Căn bếp từng đỏ lửa suốt ngày đêm để phục vụ những bữa tiệc linh đình của các quan chức thuộc địa giờ đây lạnh ngắt, tro bếp vương vãi trên nền gạch ẩm. Những chùm đèn pha lê treo lơ lửng giữa trần nhà cao vút không còn được thắp sáng, phủ một lớp bụi mờ u ám.

Tòa nhà rộng thênh thang bỗng chốc trống rỗng đến rợn người.

Tôi quỳ gối bên chậu than củi cháy dở ở hành lang tầng một, tay cầm chiếc kẹp sắt run rẩy gắp từng mẩu than hồng sang chiếc lư đồng nhỏ. Tiếng gậy chống nện cồm cộp trên nền gạch hoa khiến tôi giật bắn mình. Tôi ngẩng đầu lên, bắt gặp bóng dáng ông chủ họ Huỳnh đang chậm chạp bước qua phòng khách lớn.

Người đàn ông từng thâu tóm nửa thương cảng Chợ Lớn, từng đứng trên bậc thềm đá chỉ tay năm ngón khiến hàng trăm bạn hàng cúi rạp mình, giờ đây còng rạp lưng xuống. Tóc ông bạc trắng xác xơ chỉ sau một đêm. Đôi mắt từng sáng quắc uy quyền nay đùng đục ngấn nước, lờ đờ nhìn vào khoảng không vô định trước mặt. Bộ âu phục bằng dạ đắt tiền mặc trên người ông thùng thình như treo trên một cành cây khô gãy.

Từ căn phòng ngủ lớn ở góc đông, tiếng cười sằng sặc của bà chủ bất thần xé toạc không gian im ắng.

"Tiểu Lan... Lan con ơi! Lại đây mẹ chải tóc cho con! Tóc con dài quá, đen nhánh thế này cơ mà... Sao lại rụng hết thế này? Ai giật tóc con? Ai ném tóc con vào mặt ta?"

Tiếng cười the thé chuyển thành tiếng gào khóc thảm thiết, rồi tiếp đó là tiếng đồ sứ vỡ loảng xoảng nện mạnh xuống sàn đá. Ba người tỳ nữ chạy tán loạn ra ngoài cửa phòng, trên mặt ai nấy đều mang những vết cào rướm máu. Bà chủ đã phát điên từ nửa đêm qua. Bà ta liên tục cào rách da mặt mình, vừa gào khóc gọi tên đứa con gái vắn số vừa vốc từng nắm ngọc trai, vòng vàng ném ra ngoài cửa sổ như rải vàng mã cho người chết.

Mười giờ sáng, ba cỗ xe song mã phủ rèm đen đỗ xịch trước cổng lớn 97 Phó Đức Chính.

Quản gia Tất tất tả chạy ra mở cổng, đón vào năm thầy pháp người Hoa râu tóc dài chấm ngực, mặc áo đạo sĩ màu vàng thêu chỉ đỏ rực. Họ mang theo la bàn phong thủy bằng đồng nặng trịch, kiếm gỗ đào trừ tà, chuông đồng và hàng chục hòm gỗ đựng bùa chú, hương trầm thượng hạng thỉnh từ các ngôi miếu lớn ở Chợ Lớn về. Cả gia tộc họ Huỳnh gom chút hy vọng cuối cùng vào buổi lễ trấn trạch này nhằm đè bẹp những oán khí đang ngùn ngụt bốc lên từ tầng áp mái.

Một đàn tràng đồ sộ được lập ngay giữa giếng trời của dinh thự.

Năm chiếc bàn gỗ gụ ghép lại thành hình bát quái, phủ vải đỏ thêu hình hổ phù. Đầu lợn luộc ngậm hoa dâm bụt, mâm ngũ quả, gà trống thiến cắt tiết còn rỉ máu tươi được bày biện la liệt. Năm thầy pháp đứng dàn hàng, tay cầm chuông đồng lắc liên hồi. Tiếng chuông "leng keng, leng keng" hòa cùng tiếng gõ chập chõa chát chúa vang dội vào các vòm trần cao vút, tạo nên những âm thanh méo mó, rợn người.

Vị đạo sĩ trưởng đoàn, một người đàn ông trán hói mang kính tròn gọng bạc, bước lên phía trước bàn thờ. Ông ta nhúng đầu cành liễu vào bát nước bùa, miệng lẩm bẩm đọc chú ngữ tiếng Triều Châu trầm đục, rồi vung mạnh tay rảy nước lên bốn phương tám hướng.

"Trời tròn đất vuông, luật lệnh cửu thiên! Hồn ma bóng quế mau mau quy phục, lui về cửu tuyền!"

Vị đạo sĩ quát lớn một tiếng, tay rút thanh kiếm gỗ đào nhúng vào bát máu gà tươi, vẽ một đường kiếm sắc lẹm chỉ thẳng lên trần nhà tầng ba, nơi có căn phòng biệt lập đóng kín. Một xấp bùa giấy màu vàng viết mực chu sa được tung bổng lên không trung.

Những lá bùa lượn vòng trên nền giếng trời hun hút gió.

Đột nhiên, một luồng gió xoáy buốt lạnh từ trên đỉnh mái vòm ùa xuống. Luồng gió mang theo mùi tử khí thối rữa nồng nặc đến mức đám người đứng xem đồng loạt bịt mũi, nôn thốc nôn tháo. Những lá bùa vàng đang lơ lửng giữa chừng bỗng khựng lại giữa không trung, run rẩy bần bật.

Trước mắt bao nhiêu con người đang nín thở dõi theo, mép giấy bùa bỗng đen sì lại.

Từng vệt lửa xanh lét bùng lên từ giữa các nét chữ chu sa. Không cần mồi lửa, hàng chục lá bùa trừ tà tự bốc cháy rừng rực giữa khoảng không, tàn tro đen ngòm rơi lả tả xuống mặt bàn thờ, phủ kín mâm cỗ cúng tế.

Cùng lúc đó, một tiếng "rắc" khô khốc vang lên.

Thanh kiếm gỗ đào trên tay vị đạo sĩ trưởng đoàn gãy lìa làm đôi, nửa ngọn kiếm rơi cắm phập xuống nền gạch hoa ngay dưới chân ông ta. Vị đạo sĩ lùi lại ba bước, mặt cắt không còn một giọt máu. Chiếc kính tròn gọng bạc trượt khỏi sống mũi, rơi xuống vỡ tan tành.

Trên tầng ba, cánh cửa sổ thứ chín mươi chín bỗng đập rầm một tiếng chấn động, dù các chốt sắt đã được đóng chặt từ sáng sớm.

"Nghiệt súc! Oán khí quá nặng... Máu thịt đã hòa vào móng đá của dinh thự này rồi! Tiền bạc của ông lớn họ Huỳnh, bần đạo không dám nhận mạng này để tiêu đâu!"

Vị đạo sĩ thét lên một tiếng kinh hãi, không thèm thu dọn pháp khí hay nhận lấy tráp bạc đặt sẵn trên bàn. Ông ta ôm lấy tay áo rách, guồng chân chạy tháo thân ra phía cổng sắt lớn. Bốn người đệ tử đi cùng cũng hoảng loạn vứt bỏ chuông đồng, cờ phướn, giẫm đạp lên nhau chạy theo sư phụ, biến mất hút sau rặng cây bên ngoài phố.

Cả sảnh đường rơi vào một khoảng lặng chết chóc.

Ông chủ họ Huỳnh đứng tựa vào cây cột đá chạm trổ tinh xảo, hai đầu gối run rẩy rồi từ từ trượt ngã xuống sàn. Chiếc gậy chống bằng gỗ mun văng ra xa. Miệng ông mấp máy những âm thanh vô nghĩa, khóe môi trào ra một dòng dãi dớt đùng đục. Đột quỵ đã quật ngã người đàn ông quyền lực nhất nhì đất Nam Kỳ.

Quản gia Tất đứng chôn chân giữa đống tàn tro bùa chú đang bay lả tả. Khuôn mặt gầy gò của ông ta rúm ró lại vì tuyệt vọng. Ông ta đưa mắt nhìn quanh căn nhà tráng lệ từng chứa chấp hàng trăm kẻ hầu người hạ, nay chỉ còn lại những bóng đen hoang tàn rình rập ở các góc hành lang.

"Hết rồi... Cơ nghiệp trăm năm của nhà họ Huỳnh... đứt đoạn thật rồi..."

Quản gia Tất lẩm bẩm một mình, giọng nghẹn lại sau cuống họng. Ông ta quay sang nhìn tôi, ánh mắt đục ngầu hiện rõ vẻ thương hại lẫn hối thúc.

"Mai, mày lại đây với tao."

Tôi run rẩy bước theo quản gia Tất vào căn phòng kế toán nhỏ phía sau cầu thang máy cổ. Căn phòng này trước kia luôn ngập tràn sổ sách, tiền đồng và những thỏi bạc nén xếp ngay ngắn trong tủ sắt. Lúc này, trên bàn làm việc chỉ có một chiếc túi vải thô và vài tờ giấy đã ố vàng vì ẩm mốc.

Quản gia Tất run rẩy mở ngăn kéo bàn, lấy ra một tờ giấy có đóng dấu đỏ của tòa ba và chữ ký điểm chỉ hoa tay của cha tôi từ nhiều năm trước. Đó là tờ văn tự bán thân đã cột chặt cuộc đời tôi vào dinh thự này suốt những năm tháng thanh xuân tăm tối.

"Tờ giấy nợ của cha mày, tao xé."

Quản gia Tất đưa hai tay xé toạc tờ văn tự làm bốn mảnh, ném thẳng vào chiếc lò sưởi nguội ngắt bên cạnh. Những mảnh giấy rách nằm im lìm trên lớp muội than đen.

Ông ta cầm lấy chiếc túi vải thô trên bàn, nhét thêm vào đó một xấp tiền giấy Đông Dương cùng năm đồng bạc xòe sáng loáng, rồi ấn mạnh vào lòng bàn tay tôi. Bàn tay của ông ta lạnh ngắt, khô ráp như da rắn.

"Cầm lấy số bạc này mà chuộc thân, rồi đi ngay đi. Đón chuyến xe đò sớm nhất mà xuôi về lục tỉnh miền Tây. Về với làng mày, đổi tên đổi họ đi mà làm ăn, đừng bao giờ bước chân trở lại cái đất Sài Gòn này nữa."

Tôi nhìn quản gia Tất, nước mắt tự nhiên ứa ra, làm nhòe đi gương mặt già nua của người đàn ông đã chứng kiến toàn bộ tấn bi kịch:

"Thế còn... ông bà chủ? Còn dinh thự này thì sao hở bác Tất?"

Quản gia Tất thở dài một hơi nặng nhọc, lắc đầu cay đắng:

"Ông chủ bị tai biến, cấm khẩu rồi. Chút nữa tao phải đưa ông ấy vào nhà thương của người Pháp. Người nhà họ Huỳnh bên Hương Cảng và bên Tây đang đánh điện tín sang, bảo bán tống bán tháo hết đất đai, nhà cửa, kho bãi để gom tiền chuồn sang nước ngoài lánh nạn. Tòa dinh thự này sẽ bị niêm phong, bỏ mặc cho quỷ tha ma bắt. Mày ở lại đây chỉ có nước chôn chung huyệt với cái bóng trắng trên tầng áp mái mà thôi!"

Tôi siết chặt bọc vải thô trong tay, lồng ngực thắt lại từng cơn đau nhói. Tôi nghĩ đến Hứa Tiểu Lan. Tôi nghĩ đến cô tiểu thư xinh đẹp từng rụt rè chìa bàn tay qua khe cửa hẹp để nắm lấy ngón tay tôi, từng nài nỉ xin tôi một trái ổi xanh chát, từng ngồi co ro trên chiếc giường sắt lạnh buốt nghe tiếng bước chân người đời qua lại dưới phố. Người ta đã ruồng bỏ cô khi cô còn sống, nhốt cô vào bốn bức tường như một con thú mang mầm độc, rồi chôn giấu cái chết của cô trong sự dối trá tột cùng. Giờ đây, khi sự giận dữ của cô trỗi dậy đòi lại công bằng, toàn bộ những kẻ mang dòng máu danh giá ấy lại vội vã tháo chạy, để lại cô đơn độc giữa nấm mồ đá nguy nga này.

Tôi quay về căn buồng xép nhỏ hẹp của mình dưới chân cầu thang.

Căn phòng chỉ vừa kê một chiếc phản gỗ và một chiếc rương tre cũ kỹ. Tôi thay ra bộ quần áo gia nhân may bằng vải thô màu xám tro, mặc vào chiếc áo bà ba đen mộc mạc mà mẹ tôi đã may cho từ ngày rời quê nghèo lên xứ lạ. Đồ đạc của tôi chẳng có gì nhiều ngoài hai bộ đồ cũ, một chiếc khăn rằn và chiếc hòm gỗ nhỏ đựng mớ chỉ thêu vụn vặt.

Tôi ôm gói hành lý trước ngực, từng bước chậm chạp bước ra khỏi cửa buồng.

Trước khi rời đi, đôi chân tôi như bị níu lại, tự động bước về phía chân cầu thang lớn dẫn lên tầng ba. Tôi ngước nhìn lên khoảng tối thăm thẳm của tầng áp mái. Nơi ấy, bầu không khí dường như đặc quánh lại thành một khối băng giá khổng lồ.

Không còn tiếng gõ cửa cốc cốc đanh gọn. Không còn tiếng thở khò khè nghẹn ứ dịch mủ của người sắp chết. Giờ đây bao trùm khắp các tầng lầu là sự tĩnh lặng tuyệt đối, một thứ im lặng ngột ngạt báo trước những ngày tháng hoang tàn, mục ruỗng của một dinh thự bị nguyền rủa.

"Cô Ba ơi..." Tôi thì thầm trong miệng, nước mắt ròng ròng chảy xuống cằm. "Em đi đây... Em không thể ở lại với cô được nữa rồi. Xin cô Ba phù hộ cho em qua khỏi kiếp nạn này..."

Gió từ hành lang thốc tới, lay động những dải rèm nhung rách rưới trên các khung cửa sổ. Một tiếng kẽo kẹt mơ hồ từ chiếc thang máy cổ vang lên, tựa như một lời chào vĩnh biệt ai oán vọng ra từ lòng đất sâu.

Tôi gạt nước mắt, quay lưng bước dứt khoát về phía tiền sảnh.

Cánh cổng sắt đúc hoa văn rồng uốn lượn của dinh thự 97 Phó Đức Chính đang mở toang một nửa. Tôi bước qua ngưỡng cửa đá hoa cương thềm nhà, bước qua khoảng sân rộng đầy rêu phong và lá rụng. Tiếng gót guốc mộc của tôi nện trên nền đá khô giòn, đơn độc giữa buổi chiều tà đang dần buông xuống.

Khi tôi bước chân ra ngoài vỉa hè phố xá, bánh xe sắt của cánh cổng lớn sau lưng bỗng tự động trượt dài trên rãnh, va vào nhau một tiếng "chát" chói tai rồi khép chặt lại.

Tôi giật nảy mình, vội vã rảo bước thật nhanh về phía bến xe đò.

Phố xá Sài Gòn buổi chiều muộn vẫn ồn ả tiếng xe ngựa, tiếng còi xe hơi của người Pháp và tiếng rao hàng lanh lảnh của những người bán hàng rong. Ánh đèn đường vàng vọt bắt đầu bật sáng, soi tỏ dòng người tấp nập ngược xuôi. Không một ai trong số họ hay biết rằng, ngay sau những bức tường gạch đồ sộ của ngôi nhà chín mươi chín cửa sổ vừa xảy ra một cuộc sụp đổ kinh hoàng, chấm dứt một triều đại thương nhân lẫy lừng.

Tôi đi bộ mải miết qua mấy con phố, đôi chân trần rã rời vì kiệt sức. Khi đến gần một gốc cây me cổ thụ râm mát ven đường dẫn ra bến xe miền Tây, tôi ngồi thụp xuống một băng ghế đá công cộng để nghỉ chân, ngực đập thình thịch từng cơn vì mệt mỏi và nỗi bàng hoàng chưa tan.

Bụng tôi réo lên vì đói lả. Cả ngày hôm nay tôi chưa có một hạt cơm nào vào bụng.

Tôi run rẩy đặt bọc hành lý lên đùi, gỡ từng nút thắt của chiếc túi vải thô mà quản gia Tất đã dúi vào tay trước lúc chia tay. Tôi muốn đếm lại số tiền giấy và mấy đồng bạc trắng, xem mình có đủ tiền mua vé xe đò và mua chút bánh mì lót dạ cho chuyến hành trình dài dằng dặc về lại làng quê sông nước.

Nút thắt bằng vải thô được tháo ra.

Bên cạnh những tờ giấy bạc Đông Dương gấp mép cẩn thận và năm đồng bạc xòe sáng lấp lánh, ngón tay tôi bỗng chạm phải một vật gì đó cứng ngắc, thô ráp, nằm sâu dưới đáy túi.

Vật ấy được bọc kỹ trong một mảnh lụa trắng đã ngả sang màu cháo lòng, bốc lên một mùi hương trầm khen khét quen thuộc.

Tim tôi đập loạn xạ, từng sợi gân máu trên thái dương giật giật buốt nhói. Tôi cẩn thận dùng hai đầu ngón tay lật từng lớp lụa trắng ra.

Một vật thể hiện ra dưới ánh đèn đường vàng vọt.

Đó là chiếc lược đồi mồi sứt mẻ đã gãy đôi.

Mặt lưng chiếc lược bằng mai rùa bóng loáng nhưng đã nứt toác một đường dài, ba chiếc răng lược ở góc phải bị gãy cụt ngủn. Quấn chặt lấy những chiếc răng lược còn lại là một lọn tóc đen dài ngoằng, khô xác, bết dính những vệt dịch mủ khô cong màu nâu xỉn.

Chiếc lược này tôi biết quá rõ.

Chính là chiếc lược do bà chủ mua tặng Tiểu Lan năm nàng tròn mười lăm tuổi, vật duy nhất nàng ôm khư khư trước ngực trong những ngày nằm quằn quại chờ chết trên chiếc giường sắt nơi căn phòng biệt lập. Đêm qua, khi bóng trắng gieo mình xuống sân sau, người ta chỉ tìm thấy chiếc lược này trôi giữa vũng nước ngập bùn lầy.

Quản gia Tất tuyệt đối không thể bỏ chiếc lược ma quái này vào túi tiền cho tôi. Ông ta sợ hãi mọi thứ dính dáng đến căn phòng tầng ba hơn bất kỳ ai trên đời.

Không một người sống nào dám chạm tay vào vật tùy táng ấy.

Chiếc lược đồi mồi nằm im lìm giữa đống bạc trắng, lạnh ngắt như một tảng băng vừa vớt lên từ đáy giếng sâu.

Gió chiều thổi qua rặng me ven đường làm những chiếc lá nhỏ bay rụng lả tả, đậu lên tà áo bà ba của tôi. Giữa tiếng ồn ào của phố xá đông đúc, bên tai tôi bỗng vẳng lại một tiếng thì thào nhừa nhựa, lảnh lót như tiếng gió luồn qua khe cửa hẹp:

"Mai... giữ lấy lược cho tôi..."

Tôi ngồi chết lặng trên băng ghế đá, hai tay run rẩy ôm chặt bọc vải vào lòng, không thể thốt lên một lời nào nữa. Con đường về quê bỗng dài dằng dặc và hun hút như một hố sâu không đáy, bởi tôi hiểu rằng, dù mình có chạy trốn đến tận cùng trời cuối đất, linh hồn của người con gái nhà họ Huỳnh vẫn sẽ mãi mãi đi theo tôi.

Chương khác

Xem thêm