Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 19: Người Hầu Mới Thấy Bóng Trắng Bên Cửa Sổ
Mùi nước vôi đặc quện lẫn với mùi bùn non và mùi tanh nồng của da thịt phân hủy bám riết lấy da thịt tôi suốt từ canh năm cho đến lúc trời rạng sáng. Dù…
Nội dung chương
Mùi nước vôi đặc quện lẫn với mùi bùn non và mùi tanh nồng của da thịt phân hủy bám riết lấy da thịt tôi suốt từ canh năm cho đến lúc trời rạng sáng.
Dù tôi đã dùng xơ mướp khô chà xát đến rát đỏ hai cánh tay, dội liên tiếp bốn gáo nước giếng khơi lạnh buốt vào mặt, cái mùi tử khí ấy vẫn không chịu tan đi. Nó đọng lại dưới kẽ móng tay cáu bẩn, bám vào từng sợi tóc xơ xác và lẩn khuất nơi cuống họng, khiến mỗi lần hít thở lồng ngực tôi lại trào lên từng cơn buồn nôn khan đắng nghét.
Dưới nhà bếp, những người làm khác bắt đầu lục tục thức dậy nhóm lò. Tiếng củi nổ lách tách, tiếng chổi quét sân loẹt quẹt và tiếng bát đĩa va chạm lanh canh báo hiệu một ngày lao dịch mới của dinh thự họ Huỳnh. Không một ai trong số họ hay biết chuyện gì đã diễn ra ngoài góc vườn hoang phía sau rặng chuối trong đêm mưa dông tầm tã vừa qua. Đám gia nhân vẫn cúi đầu làm phận sự, sợ hãi trước cái uy của ông bà Hội đồng, tuyệt nhiên không biết rằng một sinh mạng từng mang dòng máu quyền quý đã vĩnh viễn bị chôn vùi dưới ba thước đất lạnh ngắt, không một tấm ván quan tài, không một bát cơm cúng tiễn đưa.
Tôi ngồi thu mình trên chiếc phản gỗ ọp ẹp trong góc buồng xép dành cho con đòi. Tay tôi luồn xuống dưới lớp chiếu rách, chạm vào góc giát giường phủ đầy bụi bặm.
Đầu ngón tay tôi chạm phải hai vật thể cứng ngắc đang được bọc kỹ trong một mảnh vải xô cũ: chiếc vòng ngọc cẩm thạch màu xanh lý vấy máu khô và mẩu xương đốt ngón tay quắt queo của Hứa Tiểu Lan.
Vật cẩm thạch trơn nhẵn toát ra hơi lạnh buốt giá, cọ sát vào da thịt tôi khiến cả người tôi khẽ rùng mình. Đêm qua, sau khi chôn cất tiểu thư xong xuôi, tôi đã lén giấu hai thứ này vào đây. Tôi không dám nộp chiếc vòng cho chú Chánh. Nếu đưa ra, chắc chắn chiếc vòng quý giá này sẽ bị sung vào kho của gia tộc, hoặc tệ hơn, chú Chánh sẽ nổi trận lôi đình rồi tìm cách diệt khẩu tôi để bịt sạch mọi manh mối về đứa con gái út yểu mệnh. Còn đốt xương tay kia, đó là phần thân thể vương vãi cuối cùng của người xấu số mà tôi không nỡ vứt bỏ lại nơi đáy huyệt tăm tối.
"Con Mai! Mày còn chết gí trong đó làm gì? Ra đây mau lên!"
Tiếng quát the thé của bà Bếp Vú vang lên ngoài cửa liếp cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tôi vội vàng giấu kỹ bọc vải vào sâu trong khe nẹp gỗ của chiếc phản, sửa lại vạt áo bà ba nâu sờn rách rồi lật đật bước ra ngoài.
Ngoài sân, trời đã tạnh mưa nhưng bầu không khí vẫn ẩm ướt, nặng trĩu hơi nước. Mây đen tầng tầng lớp lớp vẫn giăng kín bầu trời Sài Gòn, chặn đứng mọi tia nắng của buổi sớm mai. Tòa dinh thự 97 Phó Đức Chính sừng sững vươn lên giữa khoảng không mờ mịt, những mảng tường vàng quét vôi theo lối Tây phương loang lổ rêu xanh sau trận bão đêm qua, trông tàn tạ và lạnh lẽo đến lạ lùng.
Tôi ngước nhìn lên tầng áp mái.
Khung cửa sổ thứ chín mươi chín vẫn đóng kín mít bằng những cánh chớp gỗ sơn màu xanh thẫm. Tấm rèm nhung đỏ bên trong buông rủ phẳng lặng, không một chuyển động. Cảnh tượng khuôn mặt trắng bệch áp sát vào tấm kính trong ánh chớp đêm qua bất giác hiện về rõ mồn một, khiến đầu gối tôi bủn rủn, hai bàn chân như dính chặt xuống nền gạch tàu ẩm ướt.
"Cụ lớn truyền lệnh, hôm nay mày phải dọn sạch toàn bộ hành lang tầng ba." Chú Chánh từ trong sảnh chính bước ra, tay cầm chiếc tẩu thuốc bằng đồng gõ nhè nhẹ vào lòng bàn tay. Đôi mắt trũng sâu của người quản gia già đỏ ngầu những tia máu vì một đêm thức trắng đào huyệt, da mặt chú xám ngoét như người vừa ốm dậy. Chú nhìn tôi, giọng hạ thấp xuống hết mức: "Mang theo chổi, giẻ lau với thùng nước tro. Lau sạch từ bậc thang cuối cùng cho tới cửa phòng áp mái. Bất cứ thứ gì liên quan đến... chỗ đó, đều phải quét sạch đem đốt hết. Mày hiểu chưa?"
"Dạ, con hiểu rồi thưa chú." Tôi cúi gầm mặt đáp, hai bàn tay siết chặt lấy gấu áo để che đi sự run rẩy.
"Đợi lát nữa thợ mộc tới, họ sẽ đóng đinh niêm phong vĩnh viễn cánh cửa ấy." Chú Chánh nhìn quanh quất, thấy không có ai ở gần mới ghé sát tai tôi gằn giọng: "Cụ lớn dặn, từ nay căn phòng đó là nơi chứa đồ cũ hỏng của dinh thự. Ai hỏi tới, mày cứ bảo tiểu thư đã được xe của quan Tây đưa sang nhà thương Chợ Quán từ nửa tháng trước rồi qua đời bên ấy. Mày mà hé môi nửa lời về cái hố sau vườn, cả họ nhà mày ở dưới quê cũng không còn đất mà chôn đâu."
Từng lời nói của chú Chánh nện vào tai tôi buốt nhói. Gia đình họ Huỳnh muốn xóa sạch dấu vết của Tiểu Lan khỏi cõi đời này, biến cô thành một cái tên vô hình chưa từng tồn tại trên cõi đời. Người con gái ấy chết trong tủi nhục, chết trong sự ghẻ lạnh của chính cha mẹ ruột thịt, và giờ đây ngay cả một nén nhang cho linh hồn cô cũng bị coi là điều cấm kỵ.
Tôi cắn chặt môi đến ứa máu, khẽ gật đầu rồi quẩy thùng gỗ đi múc nước tro bếp.
Tầng ba của dinh thự ban ngày cũng tối tăm như hầm mộ. Những ngọn đèn chùm pha lê nhập từ mẫu quốc Pháp treo lơ lửng trên trần cao phủ đầy mạng nhện, im lìm hứng những vệt bụi mờ xám xịt. Ánh sáng le lói lọt qua những ô kính màu trên các khung cửa vòm tạo thành những vệt đỏ quạch, tím tái trải dài trên nền gạch bông trơn trượt.
Tôi đặt thùng nước xuống sàn, bắt đầu nhúng giẻ quỳ xuống lau từng mét gạch. Tiếng giẻ ướt cọ xát vào nền đá rít lên những âm thanh ken két rợn người. Không gian vắng lặng đến mức tôi có thể nghe rõ từng tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng nước nhỏ giọt tong tòng từ mái hiên thấm dột ngoài hành lang.
Mỗi lần di chuyển đầu gối tiến lại gần cánh cửa gỗ lim của căn phòng áp mái, cảm giác tội lỗi lại bóp nghẹt lấy cổ họng tôi. Cánh cửa nặng trịch ấy vẫn khép chặt, sợi xích sắt to bản quấn quanh hai tay nắm then cài bằng đồng vẫn nằm nguyên vị trí mà đêm qua chú Chánh đã khóa lại.
Mùi vôi bột rắc khử trùng từ đêm qua vẫn nồng nặc bốc ra từ các khe hở của cánh cửa, nhưng bên dưới mùi hăng nồng ấy, tôi vẫn ngửi thấy mùi tanh lợm của dịch mủ và máu thối rữa còn đọng lại trên ván sàn bên trong. Tôi biết rất rõ, căn phòng ấy giờ đây trống hoác, chỉ còn chiếc giường sắt trơ trọi và đống chiếu rách dính máu mủ mà chúng tôi chưa kịp dọn sạch trước khi khiêng xác tiểu thư đi.
Khoảng giữa trưa, tiếng bước chân nặng nề cùng tiếng lách cách của đồ nghề thợ mộc vang lên từ dưới cầu thang. Hai người đàn ông lực lưỡng vác theo những thanh gỗ dày bản, búa sắt và đinh mười phân bước lên. Đi sau họ là chú Chánh với nét mặt đanh lại, lạnh lùng như một pho tượng đá.
"Đóng chặt lại cho tôi." Chú Chánh hất hàm về phía cánh cửa gỗ lim. "Đóng chéo hai thanh gỗ bên ngoài, rồi lấy đinh tán chết cái khe trượt đưa cơm lại. Làm cho kỹ, không được để hở một kẽ nào."
Hai người thợ mộc không nói nửa lời, chỉ nhìn cánh cửa phủ đầy bụi với vẻ e dè rồi bắt tay vào việc.
"Chan! Chanh!"
Tiếng búa sắt nện thẳng vào đầu những chiếc đinh dài vang lên chát chúa, phá tan sự tĩnh mịch ngột ngạt của hành lang. Mỗi một nhát búa giáng xuống thanh gỗ, đóng ngập sâu vào khung cửa lim như một nhát dao đâm xuyên qua lồng ngực tôi. Gỗ lim già cứng đanh phát ra những tiếng rên rỉ ken két. Mạt cưa rơi lả tả xuống sàn gạch vừa lau sạch bóng, vương vãi trên nền đá hoa cương lạnh lẽo.
Tôi đứng nép vào góc tường, hai tay ôm chặt chiếc giẻ lau ướt sũng, trơ mắt nhìn hai người thợ dùng đinh dài đóng chéo hai thanh gỗ lim dày cộp chặn ngang cánh cửa. Họ làm việc rất nhanh, dường như chính bản thân họ cũng cảm nhận được sự ma quái toát ra từ gian phòng và muốn rời khỏi nơi này càng sớm càng tốt.
Khi đến lượt khe trượt đưa đồ ăn - cái lỗ hẹp duy nhất nối liền căn phòng cách ly với thế giới bên ngoài suốt ngần ấy năm trời, một người thợ mộc cầm lấy một thanh sắt dẹp định đóng vít chặn mép gỗ lại. Nhưng chiếc đinh thứ hai bị cong vênh khi va phải một chiếc nẹp đồng cũ kỹ ngầm bên trong khung cửa, khiến thanh sắt bị lệch sang một bên, để lộ ra một kẽ hở bằng ngón tay trỏ.
"Kệ nó đi, đóng vậy là chặt lắm rồi, ma cũng không chui lọt được đâu." Người thợ mộc kia thở dốc, quệt mồ hôi trán rồi vội vã thu dọn đồ nghề vào hòm gỗ.
Chú Chánh kiểm tra lại một lượt các thanh gỗ và ổ khóa xích, sau đó móc trong túi áo ra một nắm tiền giấy Đông Dương đưa cho hai người thợ. Đợi họ bước xuống cầu thang khuất bóng, chú Chánh mới quay sang nhìn tôi, giọng khô khốc:
"Lau sạch mạt cưa đi rồi xuống bếp ăn cơm. Từ chiều nay, cấm tiệt mày không được bén mảng lên tầng này nữa. Nghe rõ chưa?"
"Dạ, con nhớ rồi thưa chú."
Sau khi bóng chú Chánh khuất hẳn sau khúc quanh của cầu thang, tôi mới quỳ xuống nhặt từng vụn gỗ rơi vãi. Trước khi rời đi, ánh mắt tôi vô thức dừng lại ở kẽ hở nơi khe trượt đưa cơm. Kẽ hở đen ngòm, sâu hun hút như miệng của một chiếc hố không đáy. Tôi đứng chôn chân ở đó một hồi lâu, cổ họng nghẹn đắng, trong lòng dâng lên nỗi xót thương vô hạn cho người con gái xấu số đã từng ngồi sau khe hở ấy, thều thào gọi tên tôi mỗi buổi hoàng hôn buông xuống.
Đêm hôm ấy, mưa lại bắt đầu rơi nặng hạt.
Gió từ phía con rạch Bến Nghé thổi thốc vào những rặng cây cổ thụ ngoài sân, làm những cành bồ đề khô quật liên hồi vào các vách tường gạch. Tiếng gió rít qua những khe cửa lá sách nghe rền rĩ, ai oán như tiếng khóc than của một bầy oan hồn vất vưởng trong đêm tối.
Tôi nằm trằn trọc trên chiếc phản gỗ hẹp trong buồng xép. Cơ thể tôi nóng ran, từng thớ thịt nhức mỏi ê ẩm vì một ngày dầm mưa và lao dịch nặng nhọc. Cơn sốt bắt đầu âm ỉ bốc lên trán, nhưng mắt tôi mở trừng trừng nhìn lên trần nhà tối đen như mực. Dù trùm kín tấm chăn chiên thô ráp, tôi vẫn thấy cái lạnh thấu xương len lỏi từ dưới gầm giường bốc lên.
Chiếc vòng ngọc và mẩu xương ngón tay giấu dưới vạt chiếu dường như đang truyền một luồng khí lạnh ngắt qua lớp vải xô, ngấm thẳng vào da thịt tôi. Tôi nhắm chặt mắt, cố ép mình chìm vào giấc ngủ, nhưng cứ hễ chợp mắt, hình ảnh chiếc bọc xám tro rơi thịch xuống đáy hố bùn đen ngòm và khuôn mặt trắng bệch sau lớp kính cửa sổ thứ chín mươi chín lại hiện lên rõ mồn một.
Tôi lẩm bẩm cầu nguyện, lẩm bẩm xin trời Phật phù hộ cho linh hồn của Hứa Tiểu Lan được siêu thoát, xin cô đừng oán hận đứa con hầu nghèo hèn này vì đã không thể cho cô một nấm mồ tươm tất.
Bỗng nhiên, từ chiếc đồng hồ quả lắc khổng lồ đặt dưới sảnh chính của dinh thự, những tiếng chuông đồng nặng nề vang lên điểm mười hai tiếng.
"Đoong... Đoong... Đoong..."
Âm thanh kim khí trầm đục ngân nga, chầm chậm xé toạc màn đêm tĩnh mịch rồi từ từ tắt lịm vào không gian ẩm ướt.
Căn nhà chìm vào sự im lặng tuyệt đối. Tiếng ngáy đều đặn của mấy bà bếp ở buồng bên cạnh vọng qua vách ván mỏng. Mọi thứ dường như đều bất động dưới sức nặng của màn đêm.
Nhưng ngay khi tiếng chuông đồng thứ mười hai vừa dứt, một âm thanh kỳ lạ bỗng nhiên vang lên từ phía trên đỉnh đầu tôi.
"Cốc."
Âm thanh rất khẽ, khô khốc và đục ngầu, nghe như tiếng một mẩu gỗ mục va chạm vào một phiến đá.
Tôi giật nảy mình, toàn thân cứng đờ trên mặt phản. Lỗ tai tôi căng ra hết mức để lắng nghe.
"Cốc... Cốc... Cốc..."
Tiếng động lại tiếp tục vang lên, lần này rõ ràng hơn, dồn dập hơn. Nó phát ra từ trần nhà gỗ cao vút, truyền dọc theo các đường ống thông hơi và hốc trục của chiếc thang máy cổ bằng sắt, vọng thẳng xuống góc buồng xép tầng trệt nơi tôi đang nằm.
Đó không phải tiếng chuột chạy gặm nhấm xà nhà. Càng không phải tiếng cành cây quẹt vào mái ngói.
Âm thanh ấy có nhịp điệu rành rọt, ngắt quãng đều đặn, mang một sự kiên nhẫn ma quái. Đó là tiếng một vật cứng cáp, gồ ghề đang nện từng nhịp liên hồi vào bề mặt của một tấm gỗ dày.
Tiếng gõ cửa.
Một luồng hơi lạnh chạy dọc từ sống lưng lên đến tận đỉnh đầu, khiến từng sợi chân lông trên người tôi dựng đứng. Tôi nhận ra nhịp gõ ấy. Suốt mấy năm trời phục dịch trên tầng áp mái, mỗi ngày hai bữa, tôi đã quá quen thuộc với âm thanh này. Đó là tiếng gõ cửa của Hứa Tiểu Lan mỗi khi cô đói lả người, mỗi khi cô cần nước uống để làm dịu cơn sốt đang thiêu đốt cơ thể tật nguyền. Vì các ngón tay đã bị rụng cụt đến tận đốt xương, cô không thể dùng đầu ngón tay gõ như người bình thường, mà phải dùng chính những mấu xương sần sùi, u cục nơi mu bàn tay để đập vào mặt cánh cửa lim.
Nhưng Hứa Tiểu Lan đã chết rồi.
Chính tay tôi đã bọc xác cô vào tấm bạt cao su xám. Chính tay tôi đã ném từng xẻng đất bùn lấp kín thân xác cô dưới đáy huyệt sâu ngoài góc vườn. Gian phòng áp mái trên tầng ba lúc này hoàn toàn trống rỗng, cánh cửa gỗ lim đã bị xích sắt quấn chặt và hai người thợ mộc đã dùng đinh mười phân đóng chết các then cài từ ban trưa.
Vậy thì ai đang gõ cửa?
"Cốc! Cốc! Cốc!"
Tiếng gõ mỗi lúc một mạnh hơn, dồn dập hơn, như thể người ở bên trong đang mất hết kiên nhẫn, đang điên cuồng đập mạnh vào cánh gỗ để đòi ra ngoài. Tiếng động khô khốc dội vào không gian tĩnh mịch của đêm khuya nghe rợn tóc gáy, nhưng kỳ lạ thay, dường như cả tòa dinh thự nguy nga này chỉ có một mình tôi nghe thấy. Mấy bà bếp phòng bên vẫn thở đều đều, đám gia nhân tầng dưới vẫn ngủ say như chết sau một ngày làm việc cực nhọc.
Nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy lồng ngực tôi, nhưng cùng lúc ấy, một cảm giác tội lỗi và xót xa khôn tả lại trỗi dậy dữ dội. Tôi nhớ lại ánh mắt tuyệt vọng của Tiểu Lan trong những ngày tháng cuối đời, nhớ lại tiếng thở dốc đầy đớn đau của cô qua khe cửa hẹp. Linh hồn cô chưa thể siêu thoát. Cô vẫn đang bị giam cầm trong căn phòng ngột ngạt ấy, vẫn đang quằn quại trong nỗi cô đơn cùng cực của một kẻ bị ruồng bỏ.
Tôi không thể nằm im ở đây được nữa.
Như bị một sức mạnh vô hình thôi thúc, tôi run rẩy ngồi dậy, gạt tấm chăn chiên sang một bên. Đôi chân trần của tôi chạm xuống nền gạch lạnh ngắt. Tôi với lấy chiếc đèn dầu con đặt trên chiếc hòm gỗ, châm lửa bằng một que diêm run rẩy. Ngọn lửa vàng vọt bập bùng cháy lên, soi tỏ gương mặt nhợt nhạt, cắt không còn hột máu của tôi trong tấm gương nhỏ ố mờ treo trên vách.
Tôi mở then cài cửa buồng xép, bước ra hành lang tối om.
Không khí bên ngoài lạnh toát, ẩm ướt hơi sương. Tôi nâng ngọn đèn dầu che gió bằng một bàn tay, từng bước lần mò tiến về phía cầu thang lớn. Mỗi bước chân tôi đặt lên những bậc thang gỗ lim đều phát ra tiếng cót két khe khẽ, như đánh thức những bóng đen đang rình rập ở các góc tường.
Càng bước lên cao, tiếng gõ cửa càng trở nên rõ mồn một.
"Cốc... Cốc... Cốc..."
Âm thanh dội thẳng vào màng nhĩ tôi, nện từng nhịp đanh gọn vào không gian vắng lặng của tầng ba.
Khi tôi đặt chân lên bậc thang cuối cùng của tầng áp mái, ngọn gió lạnh từ một khung cửa sổ chưa đóng chặt ngoài hành lang thốc tới, làm ngọn lửa đèn dầu chao đảo dữ dội, hắt những bóng đen méo mó, nhảy múa điên cuồng lên vách tường gạch.
Hành lang tầng ba tối tăm, sâu hun hút.
Ở cuối dãy hành lang ấy, cánh cửa gỗ lim của căn phòng biệt lập sừng sững hiện ra dưới ánh sáng lờ mờ. Những thanh gỗ đóng chéo nẹp chặt cánh cửa vẫn nằm nguyên vị trí. Sợi xích sắt to bản vẫn quấn chặt lấy hai tay nắm đồng.
Và ngay lúc ánh đèn dầu của tôi hắt tới mép cửa, tiếng gõ bỗng nhiên ngừng bặt.
Một sự tĩnh lặng chết chóc bao trùm lấy không gian. Chỉ còn tiếng gió rít từng cơn qua khe cửa sổ và tiếng dầu sôi lép bép trong chiếc chụp thủy tinh.
Tôi đứng chôn chân cách cánh cửa vài bước chân, toàn thân run rẩy như cầy sấy. Mùi vôi bột nồng nặc hòa lẫn với mùi tanh lợm quen thuộc lại từ bên trong khe cửa bốc ra, xộc thẳng vào mũi tôi. Đó chính xác là mùi của Hứa Tiểu Lan những ngày cuối đời - thứ mùi tử khí bốc ra từ những vết loét thối rữa không bao giờ lành miệng.
"Cô Ba..." Tôi cất tiếng gọi, giọng run rẩy nghẹn ngào trong bóng tối. "Có phải... cô Ba đó không? Em là con Mai đây..."
Không có tiếng trả lời.
Chỉ có sự im lặng đặc quánh đến ngột ngạt đáp lại lời tôi.
Tôi nuốt nước bọt khan, lấy hết can đảm bước từng bước chậm chạp lại gần cánh cửa gỗ lim. Ngọn đèn dầu trong tay tôi run bần bật, rọi rõ những vết đinh mười phân còn sáng màu kim loại găm sâu vào thớ gỗ già.
Tôi nhìn xuống khe trượt đưa cơm.
Thanh sắt nẹp chéo bị vênh ra một góc vẫn để lộ ra một kẽ hở hẹp bằng ngón tay. Khoảng tối phía sau kẽ hở ấy đen đặc như mực tàu, không một tia sáng nào có thể lọt vào bên trong.
Nỗi tò mò và sự giằng xé trong tâm can khiến tôi không thể quay lưng bỏ chạy. Tôi đặt chiếc đèn dầu xuống sàn gạch bông bên cạnh, quỳ mọp hai đầu gối xuống nền đá lạnh buốt. Bàn tay tôi bám chặt lấy mép gỗ thô ráp, cẩn thận nghiêng đầu, ghé sát vành tai vào kẽ hở của khe trượt.
Tôi nín thở lắng nghe.
Từ sâu bên trong gian phòng tối tăm, có tiếng vải thô cọ xát sột soạt trên nền ván sàn. Tiếng động rất chậm, rất nặng nề, giống như một thân thể què quặt đang cố sức lết từng tấc một về phía cánh cửa.
Sau đó là tiếng thở.
Một chuỗi tiếng thở khò khè, nghẹn ứ dịch mủ và đờm dãi vang lên ngay sát vách gỗ, chỉ cách tai tôi một lớp ván mỏng. Hơi thở đứt quãng, nặng trọc từng cơn, hệt như những ngày cuối cùng khi Tiểu Lan nằm liệt trên giường sắt.
Một cảm giác kinh hoàng tột độ khiến tôi rợn tóc gáy, nhưng tôi không thể kéo người lùi lại được nữa. Tôi từ từ xoay mặt, gom hết chút can đảm tàn tạ còn sót lại, ghé sát một con mắt vào kẽ hở để nhìn vào bên trong khoảng tối đen đặc của gian phòng.
Một luồng khí buốt giá buốt lạnh như băng tuyết từ cõi âm bất ngờ phả thẳng qua khe nứt, tạt mạnh vào gò má tôi. Cùng với luồng hơi lạnh tanh nồng mùi máu mủ ấy, một giọng nói thều thào, nhừa nhựa, đứt quãng cất lên sát vành tai tôi:
"Châu Mai... mở cửa... tôi đói quá..."