Con Ma Nhà Họ Hứa - Chương 22: Bảo Tàng Mỹ Thuật Trưng Bày Tại Dinh Thự

Nhiều năm trôi qua, bụi thời gian phủ lên mái tóc tôi những sợi bạc trắng xóa. Tôi rời khỏi chốn phồn hoa đô hội, tìm đến một góc xóm nghèo ven kênh rạch…

Nội dung chương

Nhiều năm trôi qua, bụi thời gian phủ lên mái tóc tôi những sợi bạc trắng xóa. Tôi rời khỏi chốn phồn hoa đô hội, tìm đến một góc xóm nghèo ven kênh rạch Thị Nghè dựng căn chòi lá nhỏ, sống bằng nghề may vá và bán dăm ba thứ bánh mộc mạc cho con nít quanh vùng.

Người quanh xóm chỉ biết tôi là bà Mai câm lặng, ban ngày cặm cụi bên chiếc bàn máy khâu cũ kỹ, ban đêm thắp một ngọn đèn dầu hiu hắt ngồi nhìn ra con nước đen ngòm. Không một ai hay biết thời thiếu nữ mười bảy tuổi của tôi từng bị chôn vùi nơi dinh thự lộng lẫy bậc nhất xứ Nam Kỳ, cũng không ai biết hai bàn tay tôi từng chạm vào làn da lở loét của người con gái bất hạnh nhất gia tộc họ Huỳnh.

Dưới đáy chiếc rương gỗ mục góc nhà, tôi vẫn cất giấu bọc vải thô ngả màu cháo lòng. Bên trong bọc vải ấy là chiếc lược đồi mồi sứt mẻ gãy đôi, quấn chặt lọn tóc khô quắt bết dính dịch mủ thối rữa từ đêm mưa định mệnh. Mùi hoa nhài khô quyện lẫn vị thuốc bắc ngai ngái chưa bao giờ tan biến khỏi mảnh lụa bọc ngoài. Những đêm trời trở gió mùa đông, chiếc rương gỗ bỗng phát ra những tiếng cào cấu khe khẽ, tựa hồ có những đầu ngón tay cụt ngủn không còn móng đang tìm cách trườn ra ngoài. Những lúc ấy, tôi ngồi tựa lưng vào vách nứa, lần từng hạt chuỗi tràng hạt bồ đề, tụng từng câu kinh cầu siêu cho đến khi trời rạng sáng.

Thời thế đảo điên theo từng bước chân của lịch sử. Tiếng súng đạn xé toạc bầu trời Nam Kỳ, những cuộc biến loạn chính trị và làn sóng di cư khiến bức tranh Sài Gòn thay màu đổi sắc. Dòng họ Huỳnh nức tiếng giàu sang tột đỉnh năm xưa cũng không tránh khỏi quy luật nghiệt ngã của số phận.

Gia sản khổng lồ từng làm rung chuyển thương trường Đông Dương dần dần tan rã. Sau cái chết của ông bà chủ và biến cố rùng rợn trên căn gác áp mái, con cháu họ Huỳnh lũ lượt phân chia tài sản, bán tháo bất động sản rồi lần lượt bồng bế nhau vượt trùng dương trốn sang tận nước Pháp xa xôi. Họ tháo chạy khỏi Sài Gòn mang theo nỗi khiếp đảm vô hình về một món nợ máu chưa trả xong, để lại tòa dinh thự bề thế tại góc đường Phó Đức Chính đứng trơ trọi giữa lòng phố thị.

Tòa nhà chín mươi chín cửa sổ bị bỏ hoang hoàn toàn.

Cánh cổng sắt đúc hoa văn rồng uốn lượn bị xích chặt bằng những sợi dây xích to bản hoen rỉ, ổ khóa đồng to bằng nắm tay phủ đầy bụi bặm và mạng nhện. Những bức tường sơn vàng tráng lệ thuở nào nay bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra những vệt gạch đỏ ối loang lổ như thịt da hoại tử. Rêu xanh và cỏ dại mọc tràn qua các bậc tam cấp bằng đá hoa cương, nuốt chửng khoảng sân rộng nơi chiếc xe hơi lộng lẫy từng đậu. Chiếc thang máy cổ bằng gỗ và đồng thau nằm bất động dưới đáy giếng trời, lạnh lẽo tựa một cỗ áo quan dựng đứng giữa bóng tối hun hút.

Càng hoang tàn, dinh thự ấy càng trở thành tâm điểm của những lời thêu dệt độc ác.

Một buổi chiều mưa tầm tã, tôi ghé vào quán nước chè ven đường gần chợ Cũ để tránh cơn dông bất chợt. Quán nước xập xệ lợp tôn ximăng, tụ tập đủ hạng người từ phu xe kéo, thợ đóng giày cho đến những gã đàn ông rỗi việc thích bàn chuyện phố phường. Khói thuốc lá Cẩm Lệ bay mù mịt quyện lấy mùi cà phê bắp rang khét lẹt.

"Tụi bây có nghe chuyện bên ngôi nhà chín mươi chín cửa của lão Hứa chưa?" Một gã đàn ông trạc bốn mươi tuổi, cánh tay chằng chịt hình xăm, vỗ đùi đánh đét rồi cất giọng sang sảng.

Mấy người khách chung quanh lập tức dỏng tai lắng nghe. Người ta luôn háo hức trước những câu chuyện rùng rợn về người chết, đặc biệt là người chết trong nhung lụa vàng son.

"Nghe nói cái dinh thự đó bị ếm bùa dữ lắm phải không bác Ba?" Một thanh niên phụ việc chạy bàn hỏi dồn, tay vẫn cầm chiếc giẻ lau bẩn thỉu.

"Bùa ngải gì!" Gã đàn ông lắc đầu quầy quậy, hạ thấp giọng xuống vẻ bí hiểm. "Tao có thằng em họ làm phu quét rác khu Phó Đức Chính ban đêm. Nó thề có trời đất chứng giám, cứ tầm mười hai giờ khuya là trên tầng ba tòa nhà ấy lại sáng rực ánh nến đỏ. Con gái rượu của lão Hứa năm xưa không phải chết vì bệnh thường đâu. Con nhỏ đó bị quỷ ám, biến thành con quái vật mặt sư tử, móng tay dài cả tấc cào rách toạc cả tường vôi."

Cổ họng tôi nghẹn đắng. Ngón tay tôi bấm chặt vào quai chiếc giỏ đan bằng tre, đầu ngón tay buốt lạnh.

"Ghê vậy sao bác? Tôi tưởng cô Ba nhà đó chết vì bệnh hủi cùi?" Người thanh niên tròn mắt hỏi.

"Bệnh cùi là một chuyện, chuyện sau đó mới kinh hoàng!" Gã đàn ông xăm trổ trừng mắt, khoa chân múa tay. "Lão Hứa sợ mang tiếng nhơ nhuốc với đám quan Tây nên xích chân con nhỏ vào chân giường sắt, bỏ đói bỏ khát cho nó tự chết. Đêm đêm nó gầm rú như thú hoang, cắn xé cả thịt trên bắp tay mình mà nuốt. Đến khi con nhỏ chết queo, lão Hứa tiếc của, sợ chôn ra nghĩa địa người ta đào trộm vòng vàng nên nhét xác con gái vào cái quan tài bằng đá hoa cương, giấu ngay dưới nền gạch phòng áp mái. Người ta đồn rằng đêm nào hồn ma con cùi cũng hiện về, đòi uống máu người sống để giữ cho thân xác khỏi rữa nát!"

Một tràng cười khúc khích vang lên, kèm theo những tiếng xuýt xoa rùng mình của đám đông. Họ gật gù tán thưởng câu chuyện ly kỳ, tranh nhau chêm vào những chi tiết quái đản mới. Người thì bảo bóng ma ấy hay bay là là trên nóc nhà bắt trộm gà vịt của dân quanh vùng. Kẻ lại quả quyết rằng chính mắt nhìn thấy một cánh tay toàn xương trắng thò qua song sắt cửa sổ vẫy gọi những gã đàn ông đi đêm.

Tôi ngồi chết lặng nơi góc bàn, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau để ngăn tiếng nấc nghẹn trào ra nơi khóe miệng.

Người đời tàn nhẫn và cay nghiệt đến thế là cùng. Họ biến một bi kịch đau đớn tột cùng của một thiếu nữ yếu ớt thành một tấn trò ma quái để thỏa mãn trí tò mò bệnh hoạn.

Họ đâu biết rằng Hứa Tiểu Lan chưa từng làm hại một con kiến. Nàng chưa từng gầm rú đòi ăn thịt hay uống máu ai. Nàng chỉ là một đứa trẻ mười bảy tuổi đáng thương, run rẩy thu mình trong góc phòng tối tăm, cắn răng chịu đựng từng mảng da thịt trên thân thể bị trực khuẩn cùi gặm nhấm từng ngày. Nàng chỉ biết ngồi khóc thút thít bên khe cửa gỗ, khát khao được một lần mặc chiếc áo lụa trắng sạch sẽ, khát khao được mẹ ôm vào lòng, được nhìn thấy ánh mặt trời rọi qua kẽ lá.

Cái chết của nàng là một khối u uất tích tụ từ sự ruồng rẫy của chính những người mang cùng dòng máu. Khi thân xác nàng thối rữa đến tận xương tủy, người ta nhốt nàng lại như một giống súc vật ghê tởm, dùng những thanh gỗ dày đóng đinh bịt kín mọi lối ra vào, biến căn phòng hoa lệ thành một ngôi mộ sống. Nàng chết trong cô độc, giữa mùi thuốc bắc đắng ngắt và mùi dịch mủ tanh nồng, chết mà hai mắt vẫn trân trân nhìn về phía cánh cửa đóng chặt mong manh hy vọng một lời thăm hỏi của mẹ cha.

Vậy mà giờ đây, khi nàng đã nằm sâu dưới ba tấc đất lạnh, người đời lại gắn cho nàng cái danh xưng quái gở: "Con ma nhà họ Hứa". Họ biến nỗi thống khổ cùng cực của một kiếp người thành thứ câu chuyện giải khuây rẻ tiền nơi đầu đường xó chợ.

Tôi đứng dậy, đặt vội mấy cắc bạc lẻ xuống mặt bàn gỗ rồi xách giỏ bước nhanh ra ngoài trời mưa. Những giọt nước mưa lạnh ngắt táp thẳng vào mặt tôi, hòa lẫn với hai dòng nước mắt mặn chát đang lăn dài trên má.

Đôi chân tôi vô thức dẫn lối, không đi về phía xóm nghèo Thị Nghè mà bước miên man qua những con phố sầm uất của khu trung tâm Sài Gòn. Tiếng còi xe ô tô, tiếng chuông leng keng của xe điện và ánh đèn nê-ông xanh đỏ của những tiệm buôn lớn không thể xua tan cái lạnh lẽo đang bao trùm lấy lồng ngực tôi.

Khi trời sụp tối hẳn, tôi dừng chân bên gốc cây me già đối diện tòa dinh thự số 97 đường Phó Đức Chính.

Mưa đã ngớt hạt, chỉ còn lại những giọt nước đọng trên tán lá rỏ xuống vai áo ướt sũng của tôi từng chập buốt nhói.

Từ bên kia đường, tôi ngước mắt nhìn lên tòa nhà đồ sộ. Trong bóng đêm đen đặc quánh của đô thành, tòa dinh thự sừng sững tựa một con quái thú khổng lồ đã chết từ lâu, nằm im lìm giữa bốn bề phố xá nhộn nhịp. Những dải dây leo hoang dại bò chằng chịt từ chân tường lên đến tận tầng hai, bám chặt vào những bức phù điêu chạm trổ tinh xảo nay đã sứt mẻ đầu cánh. Gió đêm luồn qua những khoảng sân trống trải, phát ra những tiếng rít u u ghê rợn qua các khe hở của cánh cổng sắt rỉ sét.

Tôi đếm từng ô cửa sổ.

Tầng một. Tầng hai. Rồi tầng ba.

Chín mươi chín ô cửa vòm theo phong cách Pháp u uất chìm trong bóng tối. Tất cả các cánh cửa chớp bằng gỗ đều được khép chặt, đóng đinh gỉ sắt gia cố cẩn thận từ ngày gia tộc họ Huỳnh di tản ra nước ngoài. Trông chúng như chín mươi chín con mắt mù lòa, vô hồn nhìn chằm chằm vào khoảng không gian vô tận.

Nhưng khi ánh mắt tôi dừng lại ở góc cao nhất của tòa nhà - nơi tọa lạc căn phòng biệt lập từng giam giữ tuổi xuân của Tiểu Lan - tim tôi bỗng thắt lại.

Khung cửa sổ thứ chín mươi chín không hề đóng kín.

Hai cánh cửa gỗ màu nâu xám xịt đã mục ruỗng các góc mép, không biết tự bao giờ đã trượt bung chiếc then cài bằng sắt. Cánh cửa hé mở ra bên ngoài một khoảng hẹp, đứng trơ trọi giữa những ô cửa đóng kín xung quanh.

Khoảng hở ấy chỉ rộng chừng bốn đốt ngón tay.

Một khoảng cách vừa vặn, chuẩn xác đến rợn người. Đó chính là độ rộng của khe cửa gỗ năm xưa - cái khe nhỏ duy nhất dưới chân cánh cửa phòng giam, nơi ngày ngày tôi run rẩy đẩy khay cơm nguội ngắt và những bát thuốc bắc đen đặc vào bên trong cho tiểu thư.

Gió đêm bỗng ngừng thổi.

Không gian chung quanh như đông cứng lại thành một khối băng giá ngột ngạt. Giữa mùi ẩm mốc của rêu phong đô thị và mùi khói xăng xe ngoài lộ lớn, một luồng không khí lạ lùng từ trên cao từ từ chìm xuống, bao bọc lấy gốc cây me nơi tôi đang đứng.

Đó là mùi hoa nhài khô héo bị giẫm nát dưới bùn lầy, quyện chặt lấy vị đắng ngắt nồng nặc của những thang thuốc bắc trị bệnh phong và một vệt dịch mủ khô tanh tưởi quen thuộc. Mùi hương của căn phòng biệt lập tầng ba. Mùi của những ngày tháng tuyệt vọng và đau đớn mà tôi tưởng chừng đã có thể bỏ lại sau lưng nửa cuộc đời.

Phía sau khe hở bốn đốt ngón tay của khung cửa sổ thứ chín mươi chín, bóng tối đen đặc hơn bất kỳ nơi nào khác trên tòa nhà.

Từ sâu trong bóng tối ấy, một vệt trắng lụa mờ ảo khẽ lay động.

Không có tiếng gầm rú của loài quỷ dữ như lời đồn đại của những kẻ ngoài quán nước. Không có móng vuốt cào xé hay tiếng khóc than đòi máu người trần thế.

Chỉ có tiếng kẽo kẹt chậm rãi, đều đặn của chiếc lược đồi mồi chải qua những lọn tóc khô xác rụng rời, cùng một tiếng thở dài mỏng manh như sương sớm, luồn qua khe cửa hẹp trôi dạt vào màn đêm Sài Gòn:

"Mai ơi... cơm nguội rồi..."

Tôi run rẩy đưa tay ôm chặt lấy ngực mình, nơi bọc vải dưới đáy rương ở căn chòi lá xa xôi dường như đang rung lên bần bật theo từng nhịp đập của trái tim tôi. Nàng vẫn ở đó. Nàng chưa từng rời khỏi căn phòng giam cầm ấy một bước nào. Dù thời gian có trôi đi, dù bức tường gạch có sụp đổ hay gia tộc có phân tán tận chân trời góc bể, linh hồn tật nguyền của Hứa Tiểu Lan vẫn mãi mãi bị đóng đinh sau chấn song hẹp của định kiến và bi kịch gia đình.

Trong khi đó, ngoài các ngõ hẻm hoa lệ của Sài Gòn, người ta vẫn tiếp tục rỉ tai nhau những câu chuyện giật gân, tô vẽ thêm nanh vuốt và sự tàn bạo cho bóng ma tội nghiệp ấy. Lời đồn đại ngày một lan xa, bén rễ sâu vào tâm thức của thị dân, chuẩn bị biến nỗi oan khuất câm lặng của một kiếp người thành một thứ huyền thoại kinh dị để mua vui cho thế gian.

Chương khác

Xem thêm