Cửu Tức Hóa Long – Quyển 1: Hôn Ước Triệu Đô - Chương 50: Người Thứ Chín

Tôi mất bảy ngày để hoàn thành bản vẽ. Bảy ngày đo đạc lén lút, bảy đêm thức trắng để vẽ. Bảy ngày sống trong sợ hãi bị phát hiện, bảy đêm sống trong ám…

Nội dung chương

Tôi mất bảy ngày để hoàn thành bản vẽ.

Bảy ngày đo đạc lén lút, bảy đêm thức trắng để vẽ. Bảy ngày sống trong sợ hãi bị phát hiện, bảy đêm sống trong ám ảnh về những gì mình đang vẽ.

Bảy ngày đó, tôi phải diễn vai một nàng dâu bình thường vào ban ngày: ăn sáng cùng gia đình, đi siêu thị với Vú Năm, chiều về học cắm hoa. Rồi tranh thủ những lúc Lão phu nhân nghỉ trưa, Thiếu Quân đi làm, tôi lén ra vườn với thước dây và cuốn sổ tay giấu trong túi áo.

Tôi đo từng khoảng cách, ghi từng con số. Có hôm Quản gia Phước đi ngang, tôi phải giả vờ đang ngắm hoa, tim đập như trống. Có hôm người làm vườn nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ lạ, như muốn nói rồi lại thôi.

Và đêm nay, bản vẽ đã hoàn thành.

Tôi ngồi trong phòng, khóa cửa lại, trải tờ giấy lớn ra bàn. Tôi phải dán bốn tờ A4 lại với nhau mới đủ chỗ cho toàn bộ dinh thự.

Trên tờ giấy, nhà họ Lâm hiện ra, chi tiết đến từng mét.

Tôi nhìn bản vẽ rất lâu, tay run run cầm bút chì.

Đầu tiên, tôi kiểm tra lại đường bao khu đất: hình chữ nhật, dài 250 mét, rộng 200 mét. Tôi vẽ cổng chính ở phía nam, tường bao xung quanh, trục thần đạo một đường thẳng tắp từ cổng vào.

Tôi vẽ nhà lớn ở phía đông trục thần đạo, nhà ngang ở phía tây. Tôi vẽ dãy nhà sau, nhà bếp, kho. Tôi vẽ hồ sen ở phía nam, gần gốc liễu.

Rồi tôi vẽ tám gốc cây.

Tôi dùng compa, đặt tâm tại từ đường, vẽ một vòng tròn bán kính 81 mét theo tỷ lệ. Tôi đánh dấu tám điểm trên vòng tròn, mỗi điểm cách nhau đúng 45 độ.

Tôi ghi tên từng cây vào từng điểm, theo những gì cụ làm vườn đã xác nhận: đa, gạo, liễu, chuối hột, sanh, si, bàng, me.

Tám cây âm. Tám cái tên mà mỗi lần nhắc đến, cụ làm vườn đều cúi gằm mặt xuống.

Tôi nối tám điểm lại với nhau bằng những đường thẳng. Một hình bát giác đều hiện ra, hoàn hảo đến từng milimet.

Tôi nhìn hình bát giác, tim đập thình thịch.

Tôi đã đo hai lần bằng thước dây và la bàn, rồi đối chiếu với bản đồ vệ tinh trên điện thoại. Cả ba lần đều khớp.

Tám gốc cây, mỗi gốc cách từ đường đúng 81 mét. Tám mươi mốt, chín nhân chín, con số cực dương trong Kinh Dịch. Con số của sự hoàn thiện, của cực hạn.

Không thể là ngẫu nhiên. Không ai trồng tám cây cổ thụ thành một hình bát giác hoàn hảo một cách ngẫu nhiên. Không ai chọn tám loại cây âm một cách ngẫu nhiên. Đa, gạo, liễu, chuối hột, sanh, si, bàng, me. Tám loại cây mà cụ làm vườn gọi là "cây của người chết".

Tôi nhớ lại buổi chiều hỏi cụ làm vườn. Tôi hỏi tên từng cây, cụ trả lời, giọng trầm trầm, mắt nhìn xa xăm. Tôi hỏi cây trồng từ bao giờ, cụ đọc vanh vách từng năm, như đọc một bài thuộc lòng: đa năm 1945, gạo năm 1954, liễu năm 1965, chuối hột năm 1974, sanh năm 1981, si năm 1994, bàng năm 2003, me năm 2011. Những cây đầu, cụ nghe người làm vườn trước kể lại. Những cây sau, cụ tự tay chứng kiến.

Tám mươi năm. Tám nàng dâu. Tám gốc cây, mỗi cây trồng đúng vào năm một nàng dâu mới về.

Ai đã ra lệnh trồng chúng? Trồng để làm gì? Và tại sao, tám mươi năm qua, không ai chặt đi một cây nào, dù có cây đã mục rỗng thân, dù có cành đã gãy đổ đè lên tường bao?

Tôi đặt bút xuống, lau mồ hôi trên trán. Ngoài trời đã khuya, tiếng côn trùng kêu rả rích. Nhưng tôi không thấy mệt. Tôi chỉ thấy một nỗi sợ lạnh buốt chạy dọc sống lưng.

Vì tôi vừa vẽ ra một trận pháp.

Tôi lấy một tờ giấy khác, vẽ riêng hình bát giác lớn hơn. Tôi ghi tám quẻ vào tám vị trí, theo kiến thức phong thủy tôi học ở đại học.

Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.

Tám quẻ. Tám nàng dâu. Mỗi nàng dâu ứng một quẻ, Minh Châu đã tra cứu và khẳng định như vậy.

Đỗ Thị Lan ứng quẻ Càn. Võ Thị Sương ứng quẻ Đoài. Ngô Thị Lệ ứng quẻ Khảm. Phạm Thị Đào ứng quẻ Chấn. Hoàng Thị Cúc ứng quẻ Tốn. Trịnh Thị Hồng ứng quẻ Ly. Đặng Thị Mai ứng quẻ Cấn. Bùi Thị Thảo ứng quẻ Khôn.

Tám quẻ khác nhau, không trùng lặp. Tám nàng dâu, tám cây, tám hướng.

Tôi nhìn vào bản vẽ, cố tìm mối liên hệ giữa quẻ của từng nàng dâu và vị trí cây của họ. Nhưng càng nhìn, tôi càng rối.

Có lẽ tôi đã dùng sai hệ thống. Có bát quái tiên thiên, bát quái hậu thiên, mỗi loại xếp quẻ khác nhau. Có lẽ người bày trận dùng một hệ thống mà tôi chưa biết.

Tôi thở dài, gấp tờ giấy lại. Mối liên hệ giữa quẻ và cây, tôi chưa giải được. Nhưng có một điều tôi chắc chắn, chắc chắn đến mức tay tôi run lên khi viết xuống:

Tám gốc cây tạo thành bát quái. Tâm của bát quái là từ đường.

Đây là một trận pháp. Một trận pháp được xây dựng qua tám mươi năm, với sự kiên nhẫn và tàn nhẫn đáng sợ.

Tôi đứng dậy, đi đến bên cửa sổ, nhìn ra khu vườn tối om. Ban đêm, tôi không nhìn thấy tám gốc cây, nhưng tôi biết chúng ở đó, đứng im lìm trong bóng tối, như tám người lính canh.

Tôi nghĩ về những đêm mất ngủ vừa qua. Bảy đêm, tôi ngồi vẽ đến ba bốn giờ sáng. Có đêm, tôi nghe thấy tiếng chải đầu từ phòng niêm phong vọng sang. Có đêm, tôi nghe thấy tiếng hát ru rất khẽ, như từ một nơi xa lắm vọng về.

"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh..."

Tôi không còn sợ những âm thanh đó nữa. Tôi chỉ thấy buồn. Buồn cho Trịnh Thị Hồng, buồn cho bảy người phụ nữ kia, buồn cho chính mình.

Họ đã chết. Tôi còn sống. Nhưng tôi đang đi trên con đường của họ, từng bước một, không thể dừng lại.

Tôi quay lại bàn, nhìn bản vẽ tổng thể. Tám điểm đen trên vòng tròn, nối thành hình bát giác. Ở giữa, từ đường nằm chình ình như một con mắt.

Từ đường. Trung cung. Nơi tất cả hướng về.

Tôi chưa bao giờ được vào từ đường. Lão phu nhân cấm tuyệt đối. Thiếu Quân cũng không được vào. Chỉ có bà và Quản gia Phước ra vào nơi đó.

Trong từ đường có gì? Tôi không biết. Nhưng tôi biết, mọi đường thẳng trên bản vẽ này đều hướng về đó. Mọi bí mật đều quy tụ về đó.

Tôi nhớ đến lời Trịnh Thị Hồng trong nhật ký: Vú Năm dặn bà không được vào từ đường, không được đào bới trong vườn. Ba mươi hai năm trôi qua, gia quy không thay đổi một chữ.

Tôi cất bản vẽ phụ vào hộp, chỉ giữ lại bản vẽ tổng thể trên bàn.

Tôi nhìn nó rất lâu. Bảy ngày công sức. Bảy ngày sợ hãi. Và đây là thành quả: một hình bát giác hoàn hảo, một trung tâm bí ẩn, và một câu hỏi không lời đáp.

Tôi nghĩ về tám người phụ nữ. Tám cô dâu trẻ, tám nụ cười buồn trong ảnh cưới. Họ đã sống trong dinh thự này, đã đi dạo dưới những gốc cây này, đã nhìn thấy từ đường này mỗi ngày mà không biết mình đang ở trong tâm của một trận pháp.

Họ có biết không? Trịnh Thị Hồng có biết không, khi bà viết trong nhật ký rằng bà sợ cây si ngoài cửa sổ?

Tôi nghĩ về Vú Năm. Bà đã hầu qua bốn đời nàng dâu. Bà đã thấy họ đến, thấy họ sợ hãi, thấy họ chết. Bà đã quỳ xuống xin tôi đừng có thai. Bà biết điều gì đó về cái chết của họ, nhưng bà không dám nói.

Mấy hôm nay, Vú Năm nhìn tôi bằng ánh mắt lo lắng. Bà thấy tôi gầy đi, thấy mắt tôi thâm quầng vì thiếu ngủ. Bà nấu chè hạt sen cho tôi, bắt tôi uống, miệng lẩm bẩm: "Mợ phải giữ sức khỏe, mợ ơi."

Bà không hỏi tôi đang làm gì. Nhưng tôi biết, bà đoán được. Bà đã thấy quá nhiều nàng dâu đi vào vết xe đổ này: tò mò, điều tra, rồi sợ hãi, rồi chết.

Tôi nghĩ về Thiếu Quân. Anh đã lớn lên trong dinh thự này, đã nghe tiếng hát ru từ phòng niêm phong hồi nhỏ, đã đau đầu mỗi khi ngửi mùi trầm từ phòng bà nội. Anh là nạn nhân, không phải đồng lõa. Nhưng anh có thoát được không?

Tối qua, Thiếu Quân ôm tôi, hỏi: "Dạo này em gầy quá, có chuyện gì à?" Tôi nói dối là công việc áp lực. Anh tin, hoặc giả vờ tin. Anh vuốt tóc tôi, nói: "Có gì cũng phải nói với anh, đừng chịu một mình."

Tôi muốn nói. Tôi muốn kể cho anh tất cả: về tám nàng dâu, về bát quái, về bản vẽ này. Nhưng tôi không dám. Tôi sợ anh sẽ sụp đổ. Tôi sợ sự thật sẽ giết chết người đàn ông hiền lành này trước cả khi trận pháp kịp làm điều đó.

Và tôi nghĩ về chính mình. Nguyễn Diệm An, hai mươi sáu tuổi, kiến trúc sư, vừa trở thành dâu nhà họ Lâm được hơn một tháng.

Tôi đã đi quá xa để quay lại. Tôi đã lên áp mái, đã phá niêm phong, đã đọc nhật ký, đã đeo sợi dây chuyền mặt trời. Tôi đã đo đạc khu vườn, đã vẽ bản đồ trận pháp.

Lão phu nhân đã biết. Bà đã gọi tôi đến, đã nói bốn chữ "Cháu ngoan thì sống lâu". Bà đang theo dõi tôi.

Tôi không còn đường lui.

Tôi cầm bút đỏ lên. Tay tôi run, nhưng tôi cố giữ cho nét bút thật tròn.

Tôi khoanh tròn từ đường ở trung tâm bản vẽ. Một vòng tròn đỏ, đậm, như một giọt máu.

Rồi tôi viết một dòng chữ dưới bản vẽ, nét chữ run run:

Tám người chết. Tôi là người thứ chín?

Chương khác

Xem thêm