ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 50: Đá Chim
Tháng 10/2025, vào mùa khô, Thân theo một đoàn khách đăng ký lên lại đỉnh Ngọc Hoa. Ông đi chậm nhất đoàn, chống cây gậy hái thuốc cũ, leo từng bậc đường…
Nội dung chương
Tháng 10/2025, vào mùa khô, Thân theo một đoàn khách đăng ký lên lại đỉnh Ngọc Hoa.
Ông đi chậm nhất đoàn, chống cây gậy hái thuốc cũ, leo từng bậc đường mòn sau núi trong nắng sớm khô và trong. Sáu tháng sau đêm rằm, cơ thể ông đã yếu đi trông thấy sau một mùa hè nằm dưỡng thương và dưỡng sức ở nhà: tóc bạc thêm, lưng còng xuống một chút, bước chân không còn cái chắc chắn của người đi rừng bốn mươi năm. Vai trái của ông, vết khâu sáu mũi từ đêm Mỏm Sáo và cơn rách thêm ở Mỏm Hang, đã lành thành một đường sẹo dài từ đầu mùa hè. Ngày thường nó không đau nữa, ông xách được ấm nước, cầm được bát cơm, nhưng cánh tay trái không giương cao qua đầu được như trước, và mỗi khi trời trở gió, khớp vai lại ê ẩm nhắc ông nhớ nó đã từng mang cây nỏ thần trong tư thế bắn lần cuối cùng. Ông không buồn vì điều ấy. Một cánh tay đổi lấy sự yên tĩnh của cả một vùng chân núi, tính cho cùng, là một món trao đổi mà người thợ săn già này thấy mình còn được hời.
Đoàn hôm nay do Quân dẫn đường, theo đúng quy định mới của trạm kiểm lâm.
Từ tháng 5, sau khi chuyện về tảng đá hình chim trên đỉnh Ngọc Hoa lan ra khắp vùng, người lên xem đá đông dần lên theo từng tuần: có người lên thắp hương ở đền Thượng rồi ghé xem đá, có người chỉ lên để tận mắt thấy thứ mà báo đài và lời kể trong vùng nhắc tới suốt mùa hè. Khoa, vẫn là trạm trưởng trạm kiểm lâm Tản Viên, cho dựng một tấm biển nhỏ ngay dưới chân đường mòn lên mỏm, ghi rõ khách muốn lên xem Đá Chim phải đăng ký ở trạm, đi theo đoàn có người của trạm dẫn, không tự ý tách đoàn và không leo vào khu vực miệng hang. Cái tên trên tấm biển ấy không phải do kiểm lâm đặt. Nó là tên dân quanh vùng đã gọi tảng đá từ những ngày đầu: Đá Chim. Quân, nay là kiểm lâm tập sự của trạm, đồng phục còn mới, bộ đàm đeo bên hông, là một trong những người dẫn các đoàn đăng ký như thế. Cậu đi đầu đoàn, thỉnh thoảng dừng lại chờ ông ngoại ở cuối hàng, và cái cách cậu kiểm tra danh sách khách, nhắc giờ quay xuống, dặn không ai được xả rác trên đỉnh, làm Thân vừa buồn cười vừa yên lòng: thằng bé mê rừng năm nào giờ giữ rừng theo đúng cách của thời nó, bài bản và có sổ sách, không giống cách của ông cha nó chút nào, và cũng không cần phải giống.
Ở cổng thôn buổi sáng, đoàn đã gặp Sinh và Đức.
Sinh tháo băng từ tháng 6. Xương đòn phải của anh đã liền, vết rách ở đùi trái thành một đường sẹo dài, và anh đi lại làm việc đồng áng bình thường, chỉ khi khiêng vật nặng bằng vai phải thì còn ê, nên trai làng vẫn giành phần nặng nhất mỗi khi đội khiêng chung. Sáng nay anh ra đồng sớm cùng đàn trâu của thôn, gặp đoàn ở cổng, anh chỉ gật đầu chào Thân và nói một câu rằng trên núi yên rồi, trâu thả lên sườn từ sáng tới chiều không mất một con nào từ sau hôm rằm, điều mà sáu tháng trước không ai trong thôn dám mơ tới. Đức thì vẫn ở thôn, vẫn giữ thói quen của người lính cũ: tuần nào anh cũng lên trạm của Khoa hai buổi, đi tuần đường mòn cùng đội kiểm lâm như một cộng tác viên quen thuộc, và là người đầu tiên tình nguyện dẫn đoàn lên xem đá những ngày Quân bận học việc ở huyện. Gặp Thân ở cổng thôn, Đức đỡ ba lô cho ông một quãng như ngày xưa đỡ ống tên, rồi quay xuống làm việc của mình. Hai người thợ săn còn lại của đội săn năm ấy, mỗi người một cách, đều đã quay về với một đời sống không còn tiếng vỗ cánh trong đêm.
Trên đỉnh, đền Thượng mở cửa đón đoàn như mọi ngày có khách.
Bà Mùi vẫn trông đền, lưng hơi còng thêm nhưng mắt còn tinh và trí nhớ còn nguyên vẹn như cuốn sổ bà giữ. Bà nhận ra Thân từ lúc ông còn đang leo những bậc cuối, rót sẵn một chén trà đặt ở bàn đá ngoài sân, và khi đoàn vào thắp hương, bà chỉ cho khách xem hai vật đặt cạnh ban thờ mà không cần kể dài: khay gỗ đựng mũi tên đồng Cổ Loa cuối cùng của họ Hà, và khung gỗ nhỏ cắm chiếc lông thép đen, cả hai đều đã phủ một lớp bụi mỏng của nửa năm hương khói. Có khách hỏi bà tảng đá ngoài kia có phải con chim hóa thành không, bà chỉ cười, đáp rằng sách đền ghi thế nào thì bà biết thế ấy, còn tin hay không là việc của mỗi người, núi này không cần ai tin mới đứng vững được. Thân ngồi uống trà ở sân đền, nghe bà nói, và thấy cái giọng ghi sổ bình thản ấy vẫn là giọng đã đưa cho ông gói tro bùa cuối cùng trong buổi sáng quyết định của sáu tháng trước.
Từ sân đền đi thêm một đoạn ngắn theo đường mòn có dây chắn của trạm, đoàn tới điểm ngắm Đá Chim.
Tảng đá đen hình chim nằm chắn ngang miệng hang như nó đã nằm từ đêm rằm, nhưng sáu tháng mưa nắng của một mùa mưa trọn vẹn đã đổi khác nó nhiều. Rêu xanh phủ lên phần lưng và mặt trong của đôi cánh, mọc thành từng mảng dày ở những chỗ khuất nắng, làm cái dáng chim khổng lồ mềm đi một nửa phần dữ tợn. Mặt đá loang những vệt xám nhạt theo đường nước mưa chảy, vệt nào vệt nấy như nét vẽ của thời gian lên một tấm bia không chữ. Nhưng dáng chim sải cánh nửa xòe hướng ra thung thì không đổi một phân, cái cổ vươn và chiếc mỏ khoằm bằng đá vẫn giữ nguyên đường nét của đêm nó chết, và mũi tên đồng còn găm trong cổ họng đá vẫn nguyên vẹn ở chỗ cũ, không ai động vào, không ai có ý định động vào. Một người khách trong đoàn hỏi Quân mũi tên ấy có rút ra được không. Quân đáp bằng đúng câu ông ngoại cậu đã nói sáng 13/04 trước cả đội: để nguyên đó, nó là dấu của đêm rằm ấy và là lời nhắc cho người sau. Thân đứng ở cuối đoàn nghe cháu ngoại mình nói câu ấy bằng giọng của một người kiểm lâm trẻ, và không nói thêm một lời nào.
Ở thôn Yên Sơn, đời sống đã quay lại nhịp cũ từ lâu.
Đàn trâu bò thả rông lên sườn núi từ sáng, chiều tự tìm đường về chuồng, không còn phải dồn vào chuồng gần nhà trước khi trời tối. Đường lên đền có khách đều đặn trở lại, hàng quán dưới chân núi mở cửa đủ cả tuần. Trẻ con đi học qua đường mòn ven thôn không còn phải đi thành đoàn có người lớn kèm như những ngày tháng 4; Sen, vẫn dạy ở trường tiểu học của xã, kể với cha rằng từ đầu năm học mới, cổng trường lại rộn tiếng cười đùa như chưa từng có một mùa xuân nào bị gián đoạn. Những ngôi mộ mới trong nghĩa trang thôn, mộ của Hợi ở hàng ngoài và mộ của cụ Cừ trong khu mộ họ Hà, đều đã xanh cỏ. Vào những ngày cúng lễ trong nửa năm qua cho người mất trong vụ, nhà họ Hà và nhà Hợi vẫn qua lại thắp hương cho nhau như hai nhà đã cùng đi qua một đám tang chung, và chiếc khăn thêu của chị Lành vẫn nằm dưới di ảnh chồng chị, còn khẩu súng gãy vẫn nằm trên bàn thờ, phủ một lớp bụi mỏng không ai nỡ lau đi hẳn.
Chiều xuống núi, Thân về tới nhà khi nắng đã ngả qua mái trường tiểu học.
Như nhiều buổi chiều từ đầu mùa khô tới nay, lũ trẻ trong thôn đã kéo tới hiên nhà ông từ trước, ngồi xếp hàng trên bậc thềm với những gói bỏng ngô và mấy cuốn truyện tranh truyền tay nhau, chờ nghe ông kể chuyện rừng. Đây là việc ông làm đều đặn nhất trong những tháng già yếu này: kể chuyện. Không phải chuyện bịa để dọa trẻ con, mà là những chuyện thật của núi này, kể chậm rãi và có đầu có cuối, từ chuyện cụ tổ nhặt được những mũi tên đồng dưới suối Đá Chông, chuyện ngôi mộ gió chờ người bốn mươi hai năm, cho tới chuyện con điểu trên đỉnh Ngọc Hoa. Đứa nào nghịch nhất cũng ngồi yên khi ông kể tới đoạn đêm rằm. Có đứa hỏi ông có sợ không. Ông đáp thật rằng có, sợ như mọi người, và chính vì sợ mà phải làm cho đúng, chứ người không biết sợ thì hay làm liều và hay chết sớm trên núi này.
Tối nay, khi lũ trẻ đã ngồi yên đủ một vòng trên hiên, Thân bắt đầu câu chuyện về con điểu bằng đúng câu mở đầu mà ngày xưa ông nội ông từng kể cho ông, và mà chính ông đã kể cho Quân trong đêm thứ nhất của vụ việc, đêm 03/04, khi mọi chuyện còn chưa bắt đầu.
- Chuyện này ông nghe ông nội ông kể. Trong sách chép ở đền Thượng trên đỉnh núi, có một con dị điểu sống trên chóp Ngọc Hoa từ rất lâu rồi. Sách gọi nó là Kim Xí.
Ông kể chậm, tay phải đặt trên đầu gậy, thỉnh thoảng xắn tay áo trái lên cho lũ trẻ xem đường sẹo dài ở cẳng tay, vết tích của lần con điểu thức giấc cách đây bốn mươi hai năm, rồi chỉ lên vai trái của mình, nơi đường sẹo mới nằm dưới lớp áo, và nói hai vết sẹo ấy cách nhau đúng một đời người mà cùng do một thứ lông đen cứng như thép gây ra. Lũ trẻ nhìn hai chỗ sẹo, nhìn nhau, rồi nhìn lên phía đỉnh núi đang tối dần sau lưng nhà, nơi không đứa nào còn sợ như sợ một con thú sống nữa, mà sợ theo cách người ta sợ một câu chuyện lớn đã được nghe kể đúng và đủ. Sen đứng ở cửa nhà nghe cha kể, tay cầm chiếc khăn lau bát còn dở, và mỉm cười một mình: người cha mà cô từng lo sẽ không bước qua cửa nhà trở về sau đêm rằm, bây giờ ngồi ở hiên nhà này, kể lại tất cả như kể một chuyện đã xa, và mỗi lần kể xong, ông đều ngủ ngon hơn đêm trước một chút.
Khi lũ trẻ được bố mẹ gọi về ăn cơm và hiên nhà thưa dần người, Thân vẫn ngồi lại một mình trên bậc thềm, nhìn lên phía đỉnh Ngọc Hoa trong nắng cuối ngày đang tắt chậm trên vách đá.
Trên đỉnh núi, tảng đá chim phủ rêu nằm sải cánh nửa xòe bất động hướng ra thung, mũi tên đồng trong họng đá ánh lên một điểm sáng cuối cùng trước khi trời tối hẳn. Dưới chân núi, thôn Yên Sơn vào vụ, những cánh đồng vừa gặt xong còn thơm mùi rạ mới, và khói bếp từ khắp các mái nhà trong thôn lên đều, thẳng và yên, trong một buổi chiều không còn ai phải ngẩng lên nhìn trời mà lo sợ nữa.