ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 47: Xuống Núi

Sáng 14/04, đoàn xuống núi từ chân vách đông. Đêm trước, sau khi cáng hài cốt được đặt ở trạm liên lạc của Khoa, Thân không về thôn ngay như mọi người…

Nội dung chương

Sáng 14/04, đoàn xuống núi từ chân vách đông.

Đêm trước, sau khi cáng hài cốt được đặt ở trạm liên lạc của Khoa, Thân không về thôn ngay như mọi người khuyên. Ông ở lại gian lán của trạm, nằm cách chiếc cáng phủ vải đỏ đúng một tầm tay, và ngủ một giấc ngắn chập chờn như những giấc ngủ của mười ngày qua. Nhưng sáng nay, khi sương còn phủ trắng mặt đường mòn và tiếng chim rừng đã trở lại dày như chưa từng có mười ngày im lặng, ông thức dậy với một cảm giác khác hẳn: hôm nay không phải ngày đi săn, không phải ngày chờ đợi, cũng không phải ngày chiến đấu. Hôm nay là ngày đưa người về nhà, và việc ấy, trong đời một người đi rừng, là việc phải làm cho chậm và cho đúng hơn mọi việc khác.

Cáng hài cốt cụ Cừ phủ vải đỏ đi đầu đoàn.

Bốn trai làng được Khoa chọn từ đội cứu hộ thay nhau khiêng, đi từng bước đều và chậm trên đường mòn ướt sương. Thân đi ngay bên cạnh cáng, ở phía tay phải, và suốt quãng đường từ chân vách xuống tới bìa rừng, bàn tay phải của ông đặt lên mép cáng không rời, như một người đi bên cạnh người thân chứ không phải đi theo một kiện hàng. Vai trái của ông vẫn băng, bước đi vẫn phải né những chỗ đá trơn, nhưng không một lần nào ông nhận lời Đức đi kèm phía sau rằng để anh đi sát cáng thay ông một quãng. Đức hiểu, không nói lại lần thứ hai, chỉ đi lùi xuống phía sau nhập vào đoàn chính, thỉnh thoảng nhắc đội khiêng tránh ổ gà và rễ cây trồi trên mặt đường.

Theo sau cáng của cụ Cừ là ba cáng nữa, phủ vải trắng.

Một cáng là hài cốt của Đỗ Văn Nam, gói riêng và ghi tên rõ ràng, sẽ bàn giao cho gia đình anh ở thôn bên ngay khi đoàn về tới sân nhà văn hóa. Hai cáng còn lại là hai bộ hài cốt mới tìm thấy gần cửa hang, kèm gùi mây và dao đi rừng, chưa ghi tên trên vải mà chỉ ghi số hiệu của kiểm lâm, chờ đối chiếu chính thức với gia đình hai anh em họ Trần. Thân thỉnh thoảng ngoái lại nhìn ba chiếc cáng trắng ấy. Bốn người trên bốn chiếc cáng của đoàn hôm nay, tính cả cha ông, là bốn người đi lên núi này ở bốn thời điểm khác nhau, cách nhau từ vài tuần tới bốn mươi hai năm, và cùng được đưa xuống trong một buổi sáng. Núi trả người không phân biệt năm tháng. Điều ấy làm lòng ông lặng đi theo một cách khó gọi tên: không phải nhẹ nhõm, vì cái giá của mười ngày qua còn nằm trên vai ông và trong những ngôi nhà dưới thôn; chỉ là một sự lặng yên đầu tiên, sau rất lâu, không còn tiếng vỗ cánh ở phía trên đầu.

Đường xuống núi dài hơn trong cảm giác của Thân mọi lần đi trước.

Không phải vì ông yếu đi, dù vai khâu và một đêm ngủ chập chờn ở lán trạm làm bước chân ông chậm thật. Mà vì lần này ông không đi một mình trong đầu. Suốt quãng đường, mỗi khúc quanh quen thuộc đều gọi về một hình ảnh của bốn mươi hai năm trước: con dốc nơi cha con ông dừng lại uống nước trong trận săn năm 1983, tảng đá nơi ông, ba mươi tuổi, đã ngồi giữ ống tên và nhìn cha đi lên phía miệng hang lần cuối cùng, khoảng rừng thưa nơi ông quay lại ba lần trong tháng sau đó, gọi tên cha vào trong im lặng cho tới khản giọng. Năm ấy ông xuống núi một mình, tay không, và phải nói với mẹ mình ở cổng nhà một câu mà ông nhớ từng chữ cho tới tận bây giờ. Sáng nay ông xuống núi cũng trên con đường ấy, nhưng tay ông đặt trên mép một chiếc cáng có người, và câu ông sẽ nói ở cổng thôn là một câu khác.

Dân Yên Sơn đã đứng chờ từ cổng thôn.

Khi đoàn hiện ra ở khúc quanh cuối cùng của đường mòn, nơi đường núi đổ xuống thành đường làng, Thân nhìn thấy hai hàng người đứng chật hai bên đường, kéo dài từ cổng thôn vào tới sân nhà văn hóa. Không ai hò reo. Không ai vỗ tay. Không có băng rôn, không có tiếng trống, không có cả tiếng gọi tên ông như người ta vẫn gọi một người vừa làm xong một việc lớn. Nhiều người cúi đầu khi cáng phủ vải đỏ đi qua trước mặt mình. Vài người già chắp tay khấn khẽ, môi mấp máy không thành tiếng. Lũ trẻ được người lớn giữ đứng sát vào lề đường, im lặng nhìn theo đoàn cáng với đôi mắt mở to, có đứa còn nắm chặt vạt áo mẹ. Thân đi qua hai hàng người ấy với bàn tay vẫn đặt trên mép cáng, và ông hiểu sự im lặng này đúng hơn mọi tiếng reo hò: thôn này đã mất người, mất đàn trâu, mất mười ngày sống trong sợ hãi, và thứ họ đón ở cổng thôn hôm nay không phải một chiến thắng, mà là những người thân trở về, dù trở về theo cách không ai mong muốn.

Sen chạy ra từ sân nhà khi đoàn vừa qua cổng thôn.

Cô không chạy tới cáng trước. Cô chạy thẳng tới cha mình, ôm chầm lấy ông ngay giữa đường làng, ôm cả cái vai đang băng của ông khiến ông khẽ nhăn mặt mà không đẩy ra, và khóc nức lên trên vai áo ông trước mặt cả thôn mà không hề giữ ý. Thân đứng yên cho con gái khóc, bàn tay phải của ông, bàn tay vừa rời mép cáng lần đầu tiên từ sáng, vỗ nhẹ lên lưng cô theo nhịp chậm của một người cha ít khi biết dỗ con bằng lời. Khóc một lúc, Sen buông ông ra, lau mặt bằng ống tay áo, rồi mới quay sang nhìn bọc vải đỏ trên cáng đang được đội khiêng giữ đứng yên chờ hai cha con. Cô nhìn rất lâu. Người ông nội mà cô chỉ biết qua một tấm ảnh thờ và một ngôi mộ gió không có người trong khu mộ họ Hà, người mà cô đã nghe kể từ khi còn bé rằng mất xác trên đỉnh Ngọc Hoa, bây giờ nằm ở đây, cách cô đúng hai bước chân, trong một bọc vải nhỏ hơn tất cả những câu chuyện.

- Ông về thật rồi, cha nhỉ.

Sen nói, giọng còn nghẹn. Thân gật đầu.

- Về thật rồi. Chiều nay ông nằm ở nhà thờ họ. Mai nhà mình đưa ông ra mộ.

Cô gật đầu theo, rồi tự mình bước tới đỡ lấy một đầu đòn cáng phía sau, nhập vào đội khiêng như một việc tự nhiên nhất trên đời, và đoàn lại chuyển bánh những bước cuối cùng vào thôn trong tiếng bước chân đều trên mặt đường đất.

Trước cổng nhà Hợi, chị Lành đã đứng chờ từ trước.

Chị đứng ngay cổng nhà mình, hai tay cầm chiếc khăn tay thêu, chiếc khăn đã nằm trong túi áo ngực của chồng chị suốt những ngày anh ở đáy vực và được người ta tìm thấy còn nguyên không rách. Thân đã được nghe Khoa kể lại việc chị nhận khăn bên cáng chồng hôm đưa thi thể về, và hôm nay, nhìn chị đứng đó, ông hiểu chị không chỉ chờ đoàn đi qua. Chị chờ để nhìn tận mắt những người đã khuất khác được đưa về nhà trong buổi sáng này, như một cách tiễn chung cho tất cả những người không trở về của vụ việc, trong đó có chồng chị, người mà tang lễ vẫn đang hoãn lại cho tới ngày mai. Khi cáng của cụ Cừ đi qua cổng nhà, chị cúi đầu thật thấp, hai tay nâng chiếc khăn lên ngang ngực. Thân gật đầu với chị qua hàng người. Chị gật đầu lại. Không một lời nào được nói giữa hai người, và cũng không cần một lời nào: ngày mai, hai gia đình sẽ cùng làm tang, và mọi lời cần nói đều để dành cho ngày mai.

Ở sân nhà văn hóa, việc bàn giao diễn ra ngắn gọn và lặng lẽ.

Gia đình Đỗ Văn Nam từ thôn bên đã chờ sẵn; người mẹ già của anh nhận cáng của con trong tiếng khóc bị nén lại của mấy người thân đi cùng, và Khoa đích thân trao cho gia đình tờ biên bản nhận diện cùng túi vật chứng có chiếc bật lửa khắc tên. Hai cáng trắng còn lại được đưa vào gian trong của nhà văn hóa, có kiểm lâm canh giữ, chờ gia đình hai anh em họ Trần tới đối chiếu theo đúng thủ tục Khoa đã chốt trong hang. Thân đứng ở hiên nhà văn hóa nhìn từng việc một hoàn tất, và thấy lòng mình nhẹ đi từng phần theo mỗi chiếc cáng được người nhà nhận lấy. Bốn mươi hai năm trước, không có một buổi bàn giao nào cho nhà ông. Sáng nay, ít nhất, mọi người đi lên núi trong vụ này đều đã có một chỗ để về và một người đứng chờ để nhận.

Khi sân đã thưa người, trưởng thôn Thịnh mới bước lên bậc thềm nhà văn hóa và tuyên bố thay mặt thôn.

Giọng ông khàn đi sau mười ngày điều hành một thôn sống trong sợ hãi, nhưng từng chữ vẫn rõ ràng cho cả sân nghe thấy. Ngày mai, 15/04, thôn Yên Sơn sẽ làm tang chung cho anh Nguyễn Văn Hợi và cụ Hà Văn Cừ: một đám tang của người vừa nằm xuống trong vụ này, và một đám tang đã chờ đợi bốn mươi hai năm mới có cốt để làm. Hai gia đình đã đồng ý, thôn sẽ chung tay lo liệu như lo việc của một nhà. Sau tang, ngày 16/04, thôn và đội kiểm lâm sẽ cùng lên đền Thượng làm lễ tạ theo lệ cũ, để cảm ơn núi rừng và ghi lại việc này cho người sau. Ông nói xong, quay sang Thân, chờ một lời của người giữ nỏ họ Hà như một sự xác nhận cuối cùng trước cả thôn.

Thân chỉ nói với Thịnh một câu duy nhất.

- Mai chôn cha tôi vào ngôi mộ gió của nhà tôi. Mộ chờ người 42 năm rồi.

Ông nói xong thì quay người, đi theo chiếc cáng phủ vải đỏ đang được khiêng vào nhà thờ họ Hà ở cuối xóm, nơi Sen đã mở sẵn cửa và thắp hương chờ từ trước. Sau lưng ông, sân nhà văn hóa lặng đi một lúc lâu rồi mới có tiếng người bắt đầu bàn việc tang ngày mai, nhỏ và đều, như tiếng một thôn vừa bước qua xong những ngày sợ hãi nhất của nó và bắt đầu quay lại với những việc phải làm cho người sống và người chết.

Chương khác

Xem thêm