ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 45: Hang Sọ
Trưa 13/04, ba người buộc đèn và theo dây vào hang. Miệng hang, sau khi tảng đá chim đã nằm chắn ngang một phần, chỉ còn chừa một lối lách ở phía cánh…
Nội dung chương
Trưa 13/04, ba người buộc đèn và theo dây vào hang.
Miệng hang, sau khi tảng đá chim đã nằm chắn ngang một phần, chỉ còn chừa một lối lách ở phía cánh gập xuống dọc vách, đủ cho một người nghiêng mình đi qua nếu cởi ba lô và đẩy nó đi trước. Khoa vào trước theo phận sự ghi hiện trường, Đức vào giữa, Thân vào sau cùng, chậm nhất, vì vai trái không cho phép ông chống tay mạnh vào mép đá như hai người trẻ. Khi thân người ông vừa khuất hẳn vào trong bóng tối của hang, điều đầu tiên ập tới không phải bóng tối, mà là mùi. Mùi tanh lâu năm, thứ mùi ông đã ngửi thấy từ ngoài mỏm suốt đêm qua mỗi khi gió lùa ra từ cửa hang, ở trong này đậm đặc tới mức nó như có trọng lượng riêng, bám vào cổ họng và ở lại đó không chịu tan. Đó không phải mùi của một con thú vừa chết. Đó là mùi của hàng chục năm, hàng trăm năm tích lại trong một không gian kín không có nắng, mùi của thịt và xương và phân thú qua không biết bao nhiêu đời điểu và bao nhiêu lần thức giấc, và Thân phải đứng yên một lúc ngay sau cửa hang, tay vịn vào vách đá lạnh, chờ cho hơi thở của mình quen dần với thứ không khí ấy như người ta quen dần với nước lạnh.
Gian ngoài của hang rộng hơn ông tưởng.
Đèn của ba người, hai đèn đội đầu và một đèn cầm tay của Khoa, quét qua một khoảng không gian cao và rộng mở dần vào trong, vách đá hai bên loang lổ những vệt nước đen chảy từ trên cao xuống qua không biết bao nhiêu mùa mưa. Mặt đất dưới chân họ phủ đầy xương thú. Xương đủ loại, đủ cỡ: xương sườn cong của những con thú lớn đã trắng và giòn, xương chân dài của hoẵng và trâu rừng, những mảnh xương vụn vỡ nát dưới đế giày phát ra tiếng rắc khô mỗi khi ai đó bước một bước mà không nhìn xuống. Có những chỗ xương chất thành đống thấp, có những chỗ chỉ rải rác từng chiếc một trên nền đá, và tất cả đều đã cũ, đã khô, đã mất hết dấu vết của máu thịt, như một bãi chiến trường mà thời gian đã dọn dẹp xong từ lâu. Thân đi rất chậm qua gian ngoài, đèn trên trán ông lia thấp xuống mặt đất theo thói quen của một người đi rừng cả đời: ông nhận ra trong đống xương ấy có cả những chiếc xương quá lớn để là của thú rừng quanh vùng, xương của trâu nhà, của bò nhà, những con vật của người dưới chân núi qua nhiều đời đã kết thúc ở đây. Ông không dừng lại đếm. Việc đếm ở gian ngoài này không phải việc của hôm nay, và cũng không còn ý nghĩa gì với người sống nữa.
Gần cửa hang, tách riêng ra khỏi vùng xương thú, là ba bộ hài cốt còn mới hơn hẳn.
Khoa là người dừng lại trước tiên và giơ tay ra hiệu cho hai người phía sau. Ba bộ hài cốt nằm không xa nhau, ở phía vách bên phải của gian ngoài, nơi ánh sáng ban ngày từ cửa hang còn lọt vào được thành một vệt mờ trên nền đá. Quần áo trên cả ba bộ đều chưa mục hết: vải sờn và đổi màu vì ẩm, nhưng vẫn còn giữ được dạng áo, dạng quần, vẫn còn phân biệt được đâu là đồ lao động, đâu là đồ đi rừng của người vùng này. Chính sự chưa mục hết ấy làm cả ba người đứng lặng đi một lúc lâu hơn mọi đống xương cũ trong hang cộng lại, vì nó nói rõ một điều không cần ai giải thích: ba người này mới ở đây chưa lâu, tính bằng tháng chứ không tính bằng đời.
Bộ hài cốt thứ nhất được nhận diện ngay trong những phút đầu tiên.
Trên người nó là một bộ quần áo lao động màu đã bạc, và Khoa, đeo găng, cẩn thận lật mép túi áo ngực đã cứng lại vì ẩm, rút ra một chiếc bật lửa kim loại nhỏ. Anh đưa nó lại gần đèn, lau nhẹ lớp bẩn trên mặt bật lửa bằng đầu ngón tay đeo găng, và những chữ khắc trên đó hiện ra đủ rõ để cả ba người cùng đọc được trong im lặng. Đó là Đỗ Văn Nam, thanh niên ba mươi mốt tuổi của thôn bên, người đã tự ý mang súng lên núi đêm 07/04 bất chấp lệnh cấm và không bao giờ xuống nữa; sáng hôm sau người ta chỉ tìm thấy khẩu súng gãy và một vệt máu của anh trên sườn phía tây. Thân đứng nhìn chiếc bật lửa rất lâu. Ông nhớ lại cái đêm họp ở trạm khi tin Nam mất tích về tới, nhớ lại quyết định không tổ chức tìm kiếm trong đêm của chính mình vì con điểu đang săn, một quyết định đúng mà suốt những ngày sau đó ông vẫn phải trả giá bằng cảm giác nó là một quyết định sai. Bây giờ thì không còn gì để tìm nữa, và cũng không còn gì để tranh luận nữa. Khoa gói chiếc bật lửa vào một túi vật chứng riêng, ghi chép cẩn thận vị trí và tình trạng của bộ hài cốt vào sổ, và nói khẽ rằng riêng phần này, anh sẽ bàn giao cho gia đình Nam ngay trong đợt xuống núi này.
Hai bộ hài cốt còn lại nằm cách đó vài bước.
Bên cạnh chúng là một chiếc gùi mây đã mục một phần, quai gùi đứt lìa, và một con dao đi rừng nằm lật ngửa trên nền đá, lưỡi dao rỉ gần hết nhưng chuôi gỗ vẫn còn nguyên dạng. Không có vật gì trên hai bộ hài cốt này cho một cái tên ngay tại chỗ. Nhưng Thân biết, và Khoa cũng biết mà không cần ông nói ra, rằng cuối tháng 3 vừa rồi có đúng hai anh em ruột ở thôn Yên Sơn đi lấy mật ong rừng và không về: Trần Văn Sơn ba mươi chín tuổi và Trần Văn Hải ba mươi lăm tuổi, hai người mất tích đầu tiên của vụ việc này, mất tích trước cả khi xác thú đầu tiên được tìm thấy trên chạc cây. Chiếc gùi lấy mật và con dao đi rừng nằm cạnh hai bộ xương ấy khớp với câu chuyện của họ tới mức không ai trong hang muốn nói ra kết luận cuối cùng vội vàng. Khoa ghi nhận tất cả vào sổ bằng chữ viết cẩn thận của một người biết mình đang ghi cho những gia đình sẽ đọc lại những dòng này: vị trí, vật dụng đi kèm, tình trạng, và dòng chữ ghi rõ để đối chiếu với hai anh em họ Trần mất tích cuối tháng 3. Việc đối chiếu chính thức là việc của xã và của gia đình. Việc của ba người trong hang trưa nay chỉ là không được bỏ sót một chi tiết nào.
Đi sâu vào gian trong, nơi con điểu ngủ, đèn của Khoa quét lên cảnh mà cả ba đều đã đoán trước phần nào nhưng vẫn phải đứng lặng.
Gian trong hẹp hơn gian ngoài và thấp hơn, nền hang dốc nhẹ xuống như một cái lòng chảo đá khổng lồ. Dọc theo vách hang phía trong cùng, xương sọ người được chính con điểu, qua bản năng tích lũy của nó qua hàng ngàn năm, dồn và xếp thành một gò dài. Không phải một đống xương lộn xộn. Một gò, có hình, có ý, như thể qua từng lần thức giấc, từng đời người bị mang về đây, con thú ấy lại dồn phần còn lại của nạn nhân vào cùng một chỗ theo một lệ riêng của loài nó mà không một cuốn sách nào chép. Đèn của Khoa đi chậm dọc theo gò sọ từ đầu này tới đầu kia, và trong ánh đèn ấy, những hốc mắt trống rỗng của hàng chục con người vô danh nhìn ra cùng một lúc về phía ba người sống vừa bước vào, qua hàng chục năm, có bộ đã qua hàng trăm năm im lặng trong bóng tối tuyệt đối của gian hang này.
Khoa đếm đi đếm lại được hai mươi ba hộp sọ.
Anh đếm lần đầu bằng cách chỉ đèn vào từng hộp một và đánh dấu bằng phấn mang theo. Anh đếm lần thứ hai từ đầu kia của gò đi ngược lại, chậm hơn lần đầu. Cả hai lần đều ra cùng một con số: hai mươi ba. Phần lớn đã cũ, vàng ố và nứt nẻ theo năm tháng, có hộp đã mủn tới mức Khoa không dám chạm vào vì sợ nó vỡ ra trong tay mình. Không hộp sọ nào trong số ấy còn một dấu vết gì để gọi tên. Chúng là những người đi rừng, những thợ săn, những người hái thuốc, những kẻ lạc đường của không biết bao nhiêu đời trước, từ thời cụ tổ Hà Văn Quảng còn chưa nhặt được mũi tên đầu tiên dưới suối Đá Chông, có khi còn xa hơn nữa, từ những đời mà sử của vùng này chưa từng ghi một dòng nào về họ. Thân đứng trước gò sọ ấy rất lâu không nói một lời. Ông nghĩ tới hai mươi ba ngôi nhà, ở hai mươi ba thời đại khác nhau, đã từng chờ một người đi rừng trở về mà người ấy không bao giờ trở về nữa, và không nhà nào trong số ấy biết được người của mình đã nằm lại ở đâu. Nhà ông, ít ra, còn biết được hang này. Chỉ riêng điều ấy thôi, ông bỗng thấy, đã là một thứ may mắn cay đắng mà hai mươi ba gia đình kia chưa từng có.
Ở rìa xa nhất của gian trong, tách hẳn khỏi gò sọ và khỏi mọi bộ hài cốt khác, có một bộ hài cốt thứ tư nằm riêng lẻ.
Nó nằm ngửa, thẳng người, không lẫn vào đâu và không giống vị trí của bất kỳ bộ xương nào khác trong hang này, như thể chủ nhân của nó đã được đặt xuống ở đó khác với cách mọi nạn nhân khác bị quăng xuống. Ánh đèn của Thân tới được nó sau cùng, khi ông đi dọc theo vách gian trong và bước chân ông chợt dừng lại mà đầu ông chưa kịp hiểu vì sao. Bên cạnh bộ hài cốt ấy, trên nền đá, là một con dao găm chuôi gỗ đã mục gần hết, phần gỗ còn lại xám và nứt, và cách đó một khoảng ngắn là một ống điếu bằng đồng đã xanh rỉ, nằm nghiêng, miệng ống hướng về phía bộ hài cốt như một vật tùy thân rơi xuống từ tay một người và nằm nguyên ở đó qua một khoảng thời gian dài tới mức không còn cách gọi tên nào đúng cho nó nữa.
Thân quỳ xuống bên bộ hài cốt nằm riêng ấy.
Ông quỳ xuống chậm chạp bằng đầu gối phải, đầu gối còn lành, tay phải vịn vào nền đá, và khi đã quỳ được xuống rồi, bàn tay phải của ông, bàn tay vừa đặt lên cánh đá ngoài miệng hang sáng nay và thấy một sự yên tĩnh hoàn toàn, bắt đầu run lên không giữ lại được. Nó run từ đầu ngón tay lên tới cổ tay, run tới mức Đức, đang đứng ngay sau lưng ông, phải bước tới và đỡ lấy khuỷu tay ông bằng cả hai tay, giữ chắc, không nói một lời nào. Khoa đứng yên ở phía sau hai người, đèn của anh hạ thấp xuống, không quét đi đâu nữa.
Thân chưa nói được tiếng nào.