ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 48: Hai Đám Tang
Ngày 15/04, thôn Yên Sơn làm hai đám tang trong cùng một buổi. Từ sáng sớm, tiếng kèn tang đã vang lên ở hai đầu xóm, một ở nhà Hợi phía đầu thôn, một ở…
Nội dung chương
Ngày 15/04, thôn Yên Sơn làm hai đám tang trong cùng một buổi.
Từ sáng sớm, tiếng kèn tang đã vang lên ở hai đầu xóm, một ở nhà Hợi phía đầu thôn, một ở nhà thờ họ Hà phía cuối thôn, và có lúc hai dàn kèn cùng thổi một điệu trầm khiến người đứng giữa làng không biết mình đang nghe đám nào. Thân mặc áo tang trắng đứng ở nhà thờ họ từ lúc trời còn tối, tự tay kiểm tra lại bọc hài cốt của cha đặt trên bàn thờ tạm, kiểm tra túi vật chứng có con dao găm và ống điếu đồng đặt ngay bên cạnh, rồi mới sang nhà Hợi để dự đám đầu tiên. Việc của một buổi sáng này đã được hai gia đình và trưởng thôn Thịnh bàn bạc xong từ đêm hôm trước: đưa anh Hợi đi trước, vì anh là người vừa nằm xuống, tang của anh đã hoãn từ ngày 11/04 tới nay là quá lâu với một gia đình đang chờ được khóc cho đàng hoàng; sau đó quay về họ Hà lấp cốt cho cụ Cừ, người đã chờ bốn mươi hai năm, chờ thêm một buổi sáng nữa cũng không muộn.
Ở nhà Hợi, người cầm bát hương đi đầu đoàn đưa tang là Nguyễn Thị Hoa.
Cô gái mười chín tuổi mặc áo tang trắng, tóc xõa sau vành khăn, hai tay nâng bát hương của cha đi từng bước chậm giữa hai hàng họ hàng. Cuối tháng này, theo ngày đã xem từ trước, cô lẽ ra mặc váy cưới và đi một đoàn khác cũng qua con đường làng này, đoàn rước dâu về nhà trai ở xã bên. Sáng nay, trước khi đoàn tang xuất phát, nhà trai đã cử người sang thắp hương và nói lời chia buồn, và hai gia đình chính thức thỏa thuận hoãn đám cưới lại vô thời hạn, chờ qua giỗ đầu của Hợi mới tính chuyện vui. Không ai trong hai nhà nói một lời trách móc. Hoa đi hết con đường làng trong im lặng, chỉ tới khi quan tài của cha hạ xuống huyệt ở nghĩa trang thôn, cô mới khóc thành tiếng lần đầu tiên trong buổi sáng, khóc như một đứa con gái vừa tiễn cha vừa tiễn luôn cái đám cưới mà cha cô đã hứa sẽ có mặt, đã khoe với cả đội săn trong một đêm uống trà ở trạm kiểm lâm rằng xong vụ này về ăn cưới, không thiếu mặt.
Thân đứng ở mép huyệt, nhìn nắm đất đầu tiên của người làng rơi xuống nắp quan tài Hợi.
Ông nhớ cái đêm ở Mỏm Sáo, nhớ phát súng bắn sớm trong cơn choáng vì tai chảy máu, nhớ đôi vuốt quắp ngang người anh thợ săn đang đứng lộ nhất trên mỏm. Ông cũng nhớ phần lỗi của chính mình trong đêm ấy, phần ông đã thú nhận trước mặt Sinh và Đức ở sân trạm: sự khựng tay không bôi máu, phát tên mất xuống vực. Đứng trước huyệt mộ của Hợi sáng nay, ông không tìm cách chia phần lỗi ấy ra cho nhẹ bớt. Một người đã nằm xuống. Mọi sự chia chác đúng sai đều là việc của người sống tự làm khó mình, và ông chấp nhận mang phần của mình đi hết quãng đời còn lại, như mang vết sẹo ở cẳng tay và vết khâu ở vai trái. Khi đoàn tang nhà Hợi bắt đầu quay về, ông cúi đầu thật thấp trước bát hương trên tay Hoa, thấp hơn mức một người ngoài họ cần cúi, và cô gái trẻ, mắt đỏ hoe, khẽ gật đầu đáp lại thay cho mẹ mình đang được người ta dìu phía sau.
Đám thứ hai của buổi sáng diễn ra ở khu mộ họ Hà, lặng lẽ hơn và đông người già hơn.
Ngôi mộ gió của cụ Hà Văn Cừ được lập từ năm 1984, một năm sau ngày ông mất xác trên đỉnh Ngọc Hoa. Bốn mươi mốt năm qua, ngôi mộ ấy có bia, có bát hương, có những ngày giỗ tết con cháu thắp hương đầy đủ như mọi ngôi mộ khác trong khu đất họ, chỉ trừ một điều duy nhất: dưới lớp đất ấy không có người. Sáng nay, đội trai họ Hà khiêng bọc hài cốt phủ vải đỏ từ nhà thờ họ ra, đặt xuống bên miệng huyệt đã được mở sẵn ngay trong lòng ngôi mộ cũ. Sen đứng phía sau cha, tay bưng khay trầu và chai rượu cúng. Quân đứng cạnh mẹ, cầm bó hương đã châm. Thịnh đọc một bài văn ngắn của thôn, nói rõ cho người dự tang và cho con cháu đời sau nghe: hôm nay họ Hà lấp cốt thật vào ngôi mộ gió của cụ Cừ, thợ săn giữ nỏ đời thứ ba, mất năm 1983 trong trận săn con điểu trên đỉnh Ngọc Hoa, hài cốt tìm thấy trong hang của nó ngày 13/04/2025 và được con trai là Hà Văn Thân tự tay cõng xuống núi.
Thân tự tay xúc nắm đất đầu tiên lấp xuống huyệt của cha mình.
Xẻng đất ấy nặng hơn mọi xẻng đất ông từng xúc trong đời làm ruộng và đi rừng. Tay phải ông cầm cán xẻng, vai trái chỉ đỡ hờ, và khi lớp đất nâu rơi xuống phủ lên tấm vải đỏ trong huyệt, ông nghe rõ tiếng đất chạm vải trong sự im lặng của cả khu mộ. Bốn mươi hai năm, ông nói trong đầu như nói với người nằm dưới đó, con mới làm xong việc lẽ ra phải làm từ năm con ba mươi tuổi. Những nắm đất tiếp theo do con cháu trong họ thay nhau xúc, đều và chậm, tới khi ngôi mộ gió năm xưa thành một ngôi mộ thật, có người nằm dưới, có khói hương bay thẳng lên trong buổi sáng không gió. Sen khóc lặng lẽ bên cạnh cha. Quân thắp thêm một tuần hương thứ hai và cắm xuống đầu mộ, nói nhỏ rằng từ nay giỗ ông cố, nhà mình có mộ thật để ra thắp hương như nhà người ta. Thân nghe câu ấy mà không đáp, chỉ đặt bàn tay lên vai cháu ngoại một lúc.
Sau tang, tại nhà Hợi, còn hai việc nhỏ mà Thân phải làm cho xong trong buổi trưa.
Việc thứ nhất là khẩu súng gãy của Hợi. Khẩu súng săn hai nòng bị vuốt điểu quật gãy làm đôi, thu hồi ở Vực Sương hôm 11/04, báng súng còn vết vuốt cào sâu, đã được Khoa bàn giao lại cho gia đình cùng hồ sơ vụ việc. Chị Lành, sau khi bàn với họ hàng, quyết định không sửa, không bán, cũng không cất vào buồng. Chị nhờ người đóng một giá gỗ nhỏ trên bàn thờ của chồng, ngay bên cạnh di ảnh, và chính tay chị cùng Thân đặt khẩu súng gãy lên giá ấy: nòng súng hướng xuống, báng súng có vết cào hướng ra ngoài, như một vật chứng câm lặng của cái đêm đã lấy đi người đàn ông của ngôi nhà này. Đặt súng xong, chị thắp ba nén hương, khói hương quấn lên quanh di ảnh và khẩu súng trong gian nhà còn đầy mùi ẩm của những ngày tang lễ.
Việc thứ hai là chiếc khăn tay thêu.
Chiếc khăn của chị Lành thêu, được tìm thấy trong túi áo ngực của Hợi khi người ta tìm thấy thi thể anh ở hốc đá đáy vực, còn nguyên không rách, chị đã nhận lại bên cáng chồng từ hôm 11/04 và cầm theo trong buổi đón đoàn xuống núi hôm qua. Sáng nay, trước giờ đưa tang, chị gửi Thân giữ hộ trong túi áo của ông, nói hai tay chị bận lo việc tang, nhờ ông cất cho khỏi thất lạc. Bây giờ, đứng trước bàn thờ chồng, Thân lấy chiếc khăn từ túi áo ngực của mình ra, hai tay trao lại cho chị, trịnh trọng như trao một vật của người đã khuất chứ không phải một chiếc khăn tay. Chị Lành nhận khăn, vuốt phẳng từng nếp gấp bằng lòng bàn tay, rồi đặt nó ngay dưới di ảnh của chồng, dưới chân bát hương, và giữ tay trên đó một lúc lâu không nói gì.
- Nó để khăn của tôi ở túi áo ngực, sát tim nó, suốt mấy ngày nằm ở đáy vực.
Chị nói, mắt nhìn di ảnh chứ không nhìn Thân.
- Ông Thân ạ, thế là nó không quên đường về nhà đâu. Nó chỉ không về được thôi.
Thân gật đầu, không tìm được một câu nào hơn thế để đáp. Ông thắp một nén hương trên bàn thờ Hợi, vái ba vái, rồi lùi ra sân. Ở góc sân nhà Hợi, Sinh chống nạng đứng đó từ đầu buổi tang tới giờ. Vai phải của anh băng chéo qua ngực vì xương đòn gãy, đùi trái còn băng dưới lớp quần, nạng kẹp ở nách bên trái. Người làng mấy lần mang ghế ra mời anh ngồi, anh đều lắc đầu. Anh đứng suốt hai đám tang, đứng đưa Hợi và đứng tiễn cụ Cừ từ xa qua hàng rào, như một người lính gác danh dự tự phong cho những người đã không còn đứng được nữa. Khi Thân đi ngang, Sinh nói nhỏ, chỉ hai người nghe thấy, rằng Hợi mà còn sống, thấy súng của mình lên bàn thờ thế này, chắc nó chửi um lên là phí của. Thân đáp khẽ rằng ừ, nó chửi xong rồi nó cũng khóc. Hai người đàn ông đứng yên một lúc trong sân nhà tang, rồi Sinh chống nạng đi chậm ra cổng, về nhà mình nghỉ theo lời dặn của trạm xá.
Chiều xuống, khi khách khứa của hai đám tang đã về hết và thôn Yên Sơn chìm vào một buổi chiều yên tĩnh đầu tiên sau mười hai ngày, Thân một mình đi lên đền Thượng.
Ông đi chậm theo đường mòn sau núi, vai trái nhói theo từng bậc đá, trong ba lô chỉ có ít hương, một gói trà và danh sách những việc bà Mùi dặn chuẩn bị cho lễ tạ sáng mai: khay gỗ đặt lễ vật, khung gỗ nhỏ đang được thợ mộc trong thôn đóng dở, và giờ giấc để báo cho đội kiểm lâm cùng dân thôn lên đền đúng lúc. Tới chỗ rẽ cuối cùng trước khi đường mòn đổ lên khoảng sân trước đền, ông dừng lại nghỉ chân như mọi lần, và theo thói quen ngẩng đầu nhìn lên chóp Ngọc Hoa phía trên đền.
Tảng đá đen hình chim hiện rõ trên nền trời chiều.
Nó nằm bất động trên miệng hang, sải cánh nửa xòe in thành một hình đen dứt khoát trên nền trời đang ngả từ vàng sang xám, mũi tên đồng trong họng đá bắt một vệt nắng cuối ngày và ánh lên một điểm sáng nhỏ, xa tới mức tưởng như một con đom đóm đậu trên cổ đá. Thân đứng nhìn tảng đá một lúc lâu, tay vịn vào thân cây bên đường. Mười hai ngày trước, cũng ở khoảng trời này, thứ đang nằm đó còn là một con thú sống vỗ cánh làm gãy rừng và làm cả một vùng chân núi không dám ngủ. Chiều nay nó chỉ là đá, và người thợ săn già đứng dưới này nhìn lên nó không còn thấy sợ, cũng không thấy hả hê. Ông chỉ thấy một dấu mốc đã đóng lại trên đỉnh núi của quê mình, rồi cúi đầu đi tiếp những bậc đá cuối cùng lên đền, nơi bà Mùi đang chờ ông với cuốn sổ đền mở sẵn trên bàn.